CHƯƠNG 1. TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1. Các nghiên cứu về chỉ số hình thái của người Việt Nam Có những công trình nghiên cứu nhằm phân tích, đánh giá thực trạng về hình thái – thể trạng của học sinh THCS ở nước ta: Tác giả Hoàng Thị Mai Hoa (2012) nghiên cứu một số chỉ số sinh học hình thể của học sinh trường THCS Lam Hạ, thành phố Phủ Lý, Hà Lam. Kết quả mà tác giả đã nghiên cứu được đó là: học sinh từ 12 – 15 tuổi tại trường THCS Lam Hạ có chiều cao đứng của học sinh nam tăng trung bình mỗi năm khoảng 5.
Chiều cao đứng của học sinh nữ tăng trung bình mỗi năm khoảng 3. Cân nặng của học sinh liên tục tăng từ 12 – 15 tuổi. Cân nặng của học sinh nam tăng trung bình 4. Cân nặng của học sinh nữ tăng trung bình tăng 2.
Vòng ngực trung bình cũng tăng dần theo tuổi, tốc độ tăng không đều giữa các năm. Mỗi năm vòng ngực trung bình của nam tăng 3.06 cm, vòng ngực trung bình của nữ tăng 3. Tác giả Ngô Thị Phương Thanh (2012) nghiên cứu một số chỉ số sinh học của học sinh trường THCS Dịch Vọng, quận Cầu Giấy, thành phố Hà Nội. Kết quả về một số giá trị sinh học và hình thái thể trạng của học sinh từ 12 – 15 tuổi cho thấy đều tăng dần theo tuổi, tốc độ tăng trưởng hằng năm không đều và tăng nhanh trong giai đoạn dậy thì, trong thời điểm tăng cao nhất của nữ thường là 13 tuổi và của nam thường là 14 tuổi.
Sau thời kỳ này, tốc độ tăng trưởng kích thước hình thái có xu hường giảm dần ở hai giới. Ở cùng một độ tuổi, sự tăng của chiều cao đứng, cân nặng ở nam thường cao hơn nữ. Đa số các đặc điểm hình thái của học sinh nam phát triển nhanh hơn của học sinh nữ, đặc biệt là trong giai đoạn dậy thì. Giá trị sinh học về thể lực điển hình của học sinh trường THCS Dịch Vọng thuộc nhóm yếu, trung bình, gầy thể hiện qua chỉ số pignet của học sinh trường THCS Dịch Vọng tương đối cao.
Ở nam, từ 12 -15 tuổi, chỉ số pignet tăng từ 33. Ở nữ, chỉ Số pignet thì lại tăng từ 40.91 lúc 14 tuổi sau đó giảm mạnh ở tuổi 15 còn 38. Ở các lứa tuổi 12, 13 chỉ số pignet của học sinh nữ cao hơn học sinh nam, ngược lại 3 ở các lứa tuổi 14, 15 chỉ số pignet của học sinh nam lại cao hơn so với học sinh nữ. Chỉ số BMI của học sinh nam giảm từ 17.94 lúc 15 tuổi, sau đó tăng nhanh ở độ tuổi 15 lên 18.
Chỉ số BMI ở nữ không có sự khác biệt ở độ tuổi 12, 13, sau đó tăng từ 16. Ở độ tuổi 12, 13 chỉ số BMI của học sinh nam cao hơn học sinh nữ, ở lứa tuổi 14, 15 chỉ số BMI của học sinh nữ lại lớn hơn học sinh nam. Ngoài ra còn có một số nghiên cứu của các tác giả sau: Tác giả Hoàng Thu Sang (2012), nghiên cứu một số chỉ số sinh học và trí tuệ của học sinh THCS tỉnh Thái Nguyên. Tác giả Đào Mai tuyến (2000), nghiên cứu một số chỉ số sinh học của người Ê Đê và người Kinh định cư ở Đắk Lắk, luận án tiến sĩ y học,….
Đặc điểm tăng trưởng, phát triển của học sinh THCS 1. Đặc điểm phát triển về mặt cơ thể Bước vào tuổi thiếu niên có sự cải tổ rất mạnh mẽ và sâu sắc về cơ thể và sinh lý. Trong suốt quá trình trưởng thành và phát triển của cá nhân, đây là giai đoạn phát triển nhanh thứ hai, sau giai đoạn sơ sinh. Sự cải tổ về mặt giải phẫu sinh lý của thiếu niên có đặc điểm là: Tốc độ phát triển cơ thể nhanh, mạnh mẽ, quyết liệt nhưng không cân đối.
Tác nhân quan trọng ảnh hưởng đến sự cải tổ thể chất – sinh lý của tuổi thiếu niên là các hooc – môn, chế độ dinh dưỡng và lao động. Chiều cao của các em tăng rất nhanh: trung bình một năm, các em gái cao thêm 5 – 6cm, các em trai cao thêm 7 – 8cm. Trọng lượng của các em tăng từ 2 kg đến 6 kg mỗi năm. Hệ xương đang diễn ra quá trình cốt hóa về hình thái làm cho các em lớn lên rất nhanh, xương sọ phần mặt phát triển mạnh.
Trong sự phát triển của hệ xương thì xương tay, xương chân phát triển rất mạnh nhưng xương lồng ngực phát triển chậm hơn. Sự phát triển giữa xương bàn tay và các xương đốt ngón tay diễn ra không đồng đều. Ở các em gái diễn ra quá trình hoàn thiện các mảnh của xương chậu (chứa đựng chức năng làm mẹ sau này). Bởi vậy, cần tránh cho các em đi giày, guốc cao gót, tránh nhảy quá cao để không ảnh hưởng đến chức năng 4 sinh sản của các em.
Hệ thống tim mạch của các em phát triển cũng không cân đối: Thể tích của tim tăng nhanh, tim to hơn, hoạt động của tim mạnh mẽ hơn nhưng đường kính của mạch máu lại phát triển chậm hơn nên dẫn đến một số rối loạn tạm thời của tuần hoàn máu. Do đó, các em thường bị mệt mỏi, chóng mặt, huyết áp tăng…[4], [5]. Hệ cơ phát triển chậm hơn hệ xương, sự phát triển của hệ cơ diễn ra theo hai kiểu khác nhau đặc trưng cho mỗi giới: Các em trai vai rộng, cơ vai, bắp tay, bắp chân phát triển mạnh, tạo nên sự mạnh mẽ của nam giới sau này. Các em gái tròn trịa dần, ngực nở,…tạo nên sự duyên dáng, mềm mại của thiếu nữ.
Lứa tuổi thiếu niên có sự thay đổi đột ngột bên trong cơ thể là do tuyến nội tiết bắt đầu hoạt động mạnh, đặc biệt là tuyến giáp trạng, tuyến sinh dục. Do hệ thống tuyến nội tiết và hệ thần kinh có liên quan với nhau về chức năng nên một mặt nghị lực của các em tăng mạnh mẽ, một mặt các em lại nhạy cảm cao với các tác động bên ngoài. Vì vậy, khi sự căng thẳng kéo dài, sẽ dẫn đến rối loạn hoạt động hệ thần kinh, các em thường có những phản ứng gay gắt, mạnh mẽ và những cơn xúc động. Sự phát triển của hệ thần kinh không cân đối, hệ thần kinh của thiếu niên còn chưa có khả năng chịu đựng những kích thích mạnh, đơn địu, kéo dài.
hoạt động thần kinh cấp cao chưa đạt độ vững vàng nên chưa có khả năng chịu đựng những kích thích mạnh, đơn điệu, kéo dài, làm cho một số em bị ức chế, uể oải, thờ ơ, lơ đễnh, số khác có những hành vi xấu, không đúng bản chất của các em. Sự trưởng thành về mặt sinh dục là yếu tố quan trọng nhất của sự phát triển cơ thể ở lứa tuổi thiếu niên. Tuổi dậy thì của các em gái Việt Nam là khoảng từ 12 đến 14 tuổi, ở các em trai bắt đầu và kết thúc chậm hơn em gái khoảng 1. Biểu hiện của thời kì này là cơ quan sinh dục phát triển và xuất hiện những dấu hiệu của giới tính.
Sự phát triển về mặt tâm lý, nhận thức * Về mặt tâm lý: Vào học trường THCS là bước ngoặc quan trọng trong đời sống của các em. 5 Ở lớp dưới, trẻ học tập các hệ thống các sự kiện và hiện tượng, hiểu những mối quan hệ đơn giản và phức tạp giữa các sự kiện và hiện tượng đó. Ở trường THCS, việc học tập của các em phức tạp một cách đáng kể, các em được tiếp xúc với nhiều môn học mới, phải thực hiện yêu cầu không phải của một giáo viên mà nhiều giáo viên, do đó đòi hỏi các em phải có sự thay đổi về cách học. Các em chuyển sang nghiên cứu có hệ thống cơ sở khoa học, các em học tập có phân môn… Mỗi môn học gồm những khái niệm, những quy luật được sắp xếp tành một hệ thống sâu sắc.
Điều đó bắt đầu các em phải tự giác và có tính độc lập cao. Thái độ say sưa, hứng thú học tập, lĩnh hội, phát triển trí tuệ của các em xuất hiện thêm nhiều nét mới so với học sinh tiểu học. Hứng thú được xác định rõ rệt hơn, mang tính chất bền vững đối với môn học, say mê học tập. Tuy nhiên, tính tò mò, ham hiểu biết nhiều có thể khiến hứng thú của học sinh bị phân tán và không bền vững và có thể hình thành thái độ dễ dãi, không nghiêm túc đối với các lĩnh vực khác trong cuộc sống.
* Về mặt nhận thức: - Tri giác: Ở học sinh THCS, khối lượng tri giác được tăng rõ rệt. Tri giác của các em có trình tự, có kế hoạch và hoàn thiện hơn. Các em có khả năng phân tích và tổng hợp phức tạp khi tri giác sự vật, hiện tượng. Các em đã sử dụng hệ thống cảm tính linh hoạt tùy thuộc vào nhiệm vụ của tư duy.
Khả năng quan sát phát triển, trở thành thuộc tính ổn định của cá nhân. Tuy nhiên, tri giác của các em còn một số hạn chế: thiếu kiên trì, còn vội vàng, hấp tấp trong tri giác, tính hệ thống, tính tổ chức trong tri giác còn yếu. Vì vậy, giáo viên cần rèn luyện cho các em kỹ năng quan sát qua các giờ giảng lý thuyết, các giờ thực hành, hoạt động ngoài giờ lên lớp, … [7], [8], [9]. - Trí nhớ: Ghi nhớ chủ đinh, ghi nhớ ý nghĩa, ghi nhớ logic đang dần được chiếm ưu thế hơn ghi nhớ máy móc.
Trong khi tái hiện tài liệu, các em đã biết dựa vào logic của vấn đề nên nhớ chính xác và lâu hơn. Các em có khả năng sử dụng các loại trí nhớ một cách hợp lý, biết tìm cách ghi nhớ một cách thích hợp, có hiệu quả, biết phát huy vai trò của tư duy trong quá trình ghi nhớ. Tuy nhiên, ghi nhớ của học sinh THCS vẫn còn thiếu sót. Các em thường bị mâu thuẩn trong 6 việc ghi nhớ, mặc dù ghi nhớ có ý nghĩa song các em vẫn tùy tiện trong việc ghi nhớ.
- Chú ý: Chú ý chủ định ở các em phát triển mạnh hơn so với nhi đồng. Sức tập trung chú ý cao hơn, khả năng di chuyển được tăng cường rõ rệt, khả năng duy trì chú ý được lâu bền hơn so với nhi đồng, chú ý của các em thể hiện sự lựa chọn rất rõ (phụ thuộc vào tính chất của đối tượng, vào hứng thú của các em,…). Tuy nhiên trong sự phát triển chú ý của các em cũng thể hiện mâu thuẫn. Một mặt, chú ý có chủ định ở các em phát triển mạnh.
Mặt khác những ấn tượng và rung động mạnh mẽ, phong phú lại làm cho chú ý của các em không bền vững.