Khóa luận tốt nghiệp: Nghiên cứu chỉ định mổ lấy thai con so tại Bệnh viện Phụ sản Hà Nội năm 2021

Khóa luận tốt nghiệp nghiên cứu tốt nghiệp nghiên cứu chỉ định mổ lấy thai con so tại bệnh viện phụ sản hà nội năm 2021, vận dụng lý thuyết vào thực tế, đề xuất giải pháp cụ thể

Trường đại học

Đại học Quốc gia Hà Nội

Chuyên ngành

Y đa khoa

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

khóa luận tốt nghiệp

2022

96
1
0

Phí lưu trữ

35 Point

Tóm tắt

I. Tổng quan về nghiên cứu chỉ định mổ lấy thai con so tại Bệnh viện Phụ sản Hà Nội năm 2021

Nghiên cứu chỉ định mổ lấy thai con so tại Bệnh viện Phụ sản Hà Nội năm 2021 nhằm mục tiêu mô tả đặc điểm của nhóm thai phụ và nhận xét về các chỉ định mổ. Mổ lấy thai (MLT) là một phương pháp phẫu thuật quan trọng trong sản khoa, giúp đảm bảo an toàn cho mẹ và thai nhi. Tỷ lệ MLT ngày càng gia tăng, đặc biệt trong bối cảnh xã hội hiện đại, nơi mà nhiều gia đình chỉ sinh một hoặc hai con.

1.1. Lịch sử và sự phát triển của mổ lấy thai

Mổ lấy thai đã có lịch sử lâu đời, bắt đầu từ những năm 60 của thế kỷ XX tại Việt Nam. Phương pháp này đã trải qua nhiều cải tiến, từ kỹ thuật cổ điển đến các phương pháp hiện đại, giúp giảm thiểu biến chứng cho mẹ và trẻ sơ sinh.

1.2. Tình hình mổ lấy thai tại Bệnh viện Phụ sản Hà Nội

Bệnh viện Phụ sản Hà Nội là một trong những cơ sở y tế hàng đầu trong lĩnh vực sản khoa. Tỷ lệ mổ lấy thai tại đây đã tăng lên đáng kể trong những năm gần đây, phản ánh sự thay đổi trong quan niệm và nhu cầu của thai phụ.

II. Vấn đề và thách thức trong chỉ định mổ lấy thai con so

Mặc dù mổ lấy thai mang lại nhiều lợi ích, nhưng cũng tồn tại nhiều vấn đề và thách thức trong việc chỉ định. Các yếu tố như tâm lý của thai phụ, sự can thiệp của bác sĩ và các yếu tố xã hội có thể ảnh hưởng đến quyết định mổ. Việc hiểu rõ các chỉ định và biến chứng có thể xảy ra là rất quan trọng.

2.1. Tâm lý và mong muốn của thai phụ

Nhiều thai phụ có xu hướng chọn mổ lấy thai vì cảm giác an toàn hơn. Điều này có thể dẫn đến việc chỉ định mổ không cần thiết, gây ra những rủi ro cho sức khỏe.

2.2. Các yếu tố xã hội ảnh hưởng đến quyết định mổ

Các yếu tố như tuổi tác, nghề nghiệp và tình trạng sức khỏe của thai phụ có thể ảnh hưởng đến quyết định mổ. Sự gia tăng tỷ lệ mổ lấy thai cũng phản ánh sự thay đổi trong quan niệm về sinh sản trong xã hội hiện đại.

III. Phương pháp nghiên cứu chỉ định mổ lấy thai con so

Nghiên cứu được thực hiện tại Bệnh viện Phụ sản Hà Nội với thiết kế nghiên cứu mô tả. Dữ liệu được thu thập từ hồ sơ bệnh án của các thai phụ đã thực hiện mổ lấy thai trong năm 2021. Phân tích số liệu được thực hiện để xác định các chỉ định và kết quả của mổ.

3.1. Thiết kế nghiên cứu và cỡ mẫu

Nghiên cứu sử dụng thiết kế mô tả với cỡ mẫu đủ lớn để đảm bảo tính đại diện. Dữ liệu được thu thập từ các hồ sơ bệnh án của thai phụ đã mổ lấy thai.

3.2. Phương pháp thu thập và phân tích số liệu

Dữ liệu được thu thập thông qua bảng hỏi và hồ sơ bệnh án. Phân tích số liệu được thực hiện bằng phần mềm thống kê để xác định các chỉ định và kết quả mổ.

IV. Kết quả nghiên cứu chỉ định mổ lấy thai con so

Kết quả nghiên cứu cho thấy tỷ lệ mổ lấy thai con so tại Bệnh viện Phụ sản Hà Nội năm 2021 có sự gia tăng đáng kể. Các chỉ định chủ yếu bao gồm các yếu tố liên quan đến mẹ và thai nhi. Đặc biệt, tỷ lệ biến chứng sau mổ cũng được ghi nhận và phân tích.

4.1. Tỷ lệ các chỉ định mổ lấy thai con so

Nghiên cứu chỉ ra rằng các chỉ định mổ lấy thai chủ yếu liên quan đến tình trạng sức khỏe của mẹ và thai nhi. Các chỉ định này cần được xem xét kỹ lưỡng để đảm bảo an toàn.

4.2. Biến chứng sau mổ và đánh giá kết quả

Biến chứng sau mổ là một trong những vấn đề cần được quan tâm. Nghiên cứu đã ghi nhận tỷ lệ biến chứng và thời gian nằm viện của thai phụ sau mổ.

V. Kết luận và tương lai của nghiên cứu chỉ định mổ lấy thai

Nghiên cứu chỉ định mổ lấy thai con so tại Bệnh viện Phụ sản Hà Nội năm 2021 đã cung cấp những thông tin quý giá về tình hình mổ lấy thai. Tương lai của nghiên cứu này cần tiếp tục được mở rộng để cải thiện chất lượng chăm sóc sức khỏe cho mẹ và trẻ sơ sinh.

5.1. Đề xuất cải thiện chỉ định mổ lấy thai

Cần có các hướng dẫn rõ ràng hơn về chỉ định mổ lấy thai để giảm thiểu các trường hợp mổ không cần thiết. Việc đào tạo cho bác sĩ và nâng cao nhận thức cho thai phụ là rất quan trọng.

5.2. Hướng nghiên cứu trong tương lai

Nghiên cứu cần tiếp tục theo dõi và đánh giá các chỉ định mổ lấy thai trong các năm tiếp theo để có cái nhìn tổng quan hơn về xu hướng và biến chứng.

15/07/2025
Khóa luận tốt nghiệp nghiên cứu chỉ định mổ lấy thai con so tại bệnh viện phụ sản hà nội năm 2021

Trích đoạn nội dung tài liệu

CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN 1. Sơ lược về lịch sử MLT Mổ lấy thai là phẫu thuật nhằm lấy thai, rau, màng ối ra khỏi buồng tử cung qua đường rạch ở thành bụng và thành tử cung còn nguyên vẹn. Ở Việt Nam, vào đầu thập kỷ 60 của thế kỷ XX mổ lấy thai lần đầu tiên được áp dụng tại khoa sản bệnh viện Bạch Mai (Hà Nội) theo phương pháp cổ điển. Sau đó giáo sư Đinh Văn Thắng đã thực hiện mổ ngang đoạn dưới lấy thai và phương pháp này hiện đang được áp dụng rộng rãi trong cả nước.

Thay đổi giải phẫu và sinh lý tử cung khi có thai [5] 1. Thay đổi ở thân tử cung Thân tử cung là bộ phận thay đổi nhiều nhất khi có thai và trong chuyển dạ. Trứng làm tổ ở niêm mạc tử cung và niêm mạc tử cung sẽ trở thành ngoại sản mạc. Tại đây hình thành bánh rau, màng rau, buồng ối để chứa thai nhi ở trong.

Trong khi chuyển dạ, tử cung thay đổi dần để tạo thành ống đẻ cho thai nhi ra. Để đáp ứng nhu cầu đó, thân tử cung thay đổi về kích thước, vị trí và tính chất. Thiết đồ đứng ngang qua tử cung (Nguồn trích dẫn: Frank H. MD Atlas giải phẫu người – NXB Y học 1997) 3 Khi chưa có thai tử cung nặng khoảng 50 - 60g.

Sau khi thai và rau sổ ra ngoài thì tử cung nặng khoảng từ 900 - 1200g. Tăng trọng lượng tử cung chủ yếu trong nửa đầu của thời kỳ thai nghén. Bình thường khi chưa có thai cơ tử cung dầy khoảng 1cm, khi có thai vào tháng thứ 4 - 5 lớp cơ tử cung dầy nhất khoảng 2,5cm và các sợi cơ tử cung phát triển theo chiều rộng gấp 3 - 5 lần, theo chiều dài tới 40 lần. Trong những tuần đầu của thai nghén tử cung to lên là do tác dụng của estrogen và progesteron.

Nhưng sau 12 tuần thì tử cung tăng lên về kích thước chủ yếu do thai và phần phụ của thai to lên làm cho tử cung phải tăng lên theo khi chưa có thai dung tích buồng tử cung từ 2 - 4ml khi có thai dung tích buồng tử cung tăng lên tới 4000 - 5000ml, trong các trường hợp đa thai hay đa ối thì dung tích buồng tử cung có thể tăng lên nhiều hơn nữa. Buồng tử cung khi chưa có thai đo được khoảng 7cm khi cuối thời kỳ thai nghén cao tới 32cm. Trong 3 tháng đầu do đường kính trước sau to nhanh hơn đường kính ngang nên tử cung có hình tròn. Phần dưới phình to hơn có thể nắn thấy qua túi cùng âm đạo.

Do thai chiếm không hết toàn bộ buồng tử cung làm cho tử cung không đối xứng cực to ở trên cực nhỏ ở dưới. Trong 3 tháng cuối hình thể của tử cung phụ thuộc vào tư thế của thai nhi nằm trong buồng tử cung. Khi chưa có thai tử cung nằm ở đáy chậu trong tiểu khung, khi có thai thì tử cung lớn lên tiến vào trong ổ bụng. Khi tử cung to lên nó kéo dãn căng dây chằng rộng và dây chằng tròn.

Tháng đầu tử cung ở dưới khớp vệ từ tháng thứ 2 trở đi trung bình mỗi tháng tử cung phát triển cao lên phía trên khớp vệ 4cm. Thay đổi ở CTC và eo tử cung Phúc mạc ở thân tử cung dính chặt vào lớp cơ tử cung. Khi có thai phúc mạc phì đại và giãn ra theo lớp cơ tử cung. Ở đoạn eo tử cung phúc mạc có thể bóc tách được dễ dàng ra khỏi lớp cơ tử cung, ranh giới giữa hai vùng là đường bám chặt của phúc mạc.

Đó là ranh giới để phân biệt đoạn thân tử cung với đoạn dưới tử cung. Người ta thường mổ lấy thai ở đoạn dưới thân tử cung để có thể phủ phúc mạc sau khi đóng kín vết mổ ở lớp cơ tử cung. 4 Eo tử cung khi chưa có thai là một vòng nhỏ dài 0,5- 1cm, khi có thai eo tử cung trải rộng và dài thành đoạn dưới tử cung và dài tới 10cm. Đoạn dưới tử cung không có lớp cơ đan ở giữa nên rất dễ vỡ, dễ chảy máu khi bị rau tiền đạo.

Các chỉ định mổ lấy thai ở sản phụ con so. Có thể phân thành hai loại chỉ định: - Những chỉ định MLT chủ động. - Những chỉ định MLT trong chuyển dạ. Chỉ định mổ lấy thai chủ động Nhóm chỉ định được đặt ra ngay trong thời gian đang được theo dõi thai nghén gồm có: 1.

Chỉ định về phía mẹ * Nhóm nguyên nhân do khung chậu: - Khung chậu hẹp toàn diện là khung chậu có tất cả các đường kính giảm đều cả eo trên và eo dưới. Đặc biệt đường kính nhô - hậu vệ nhỏ hơn 8,5cm. - Khung chậu méo (khung chậu lệch hay khung chậu không đối xứng) dựa hình trám Michaelis. Bình thường hình trám Michaelis có đường chéo góc trên - dưới (gai sau đốt sống thắt lưng V đến đỉnh liên mông) dài 11cm và đường chéo góc ngang (liên gai chậu sau trên) dài 10cm, hai đường chéo này vuông góc với nhau.

Đường chéo góc trên - dưới chia đường chéo góc ngang thành hai phần bằng nhau mỗi bên 5cm, đường chéo góc ngang chia đường chéo góc trên dưới thành hai phần: phía trên 4cm, phía dưới 7cm. Nếu khung chậu méo thì 2 đường chéo này cắt nhau không cân đối, không vuông góc và hình trám được hợp thành bởi 2 tam giác không cân. - Khung chậu hình phễu là rộng eo trên, hẹp eo dưới. Chẩn đoán dựa vào đo đường kính lưỡng ụ ngồi.

Nếu đường kính lưỡng ụ ngồi nhỏ hơn 9cm thai sẽ không sổ được, nên có chỉ định MLT. * Nhóm do tử cung: - Sẹo mổ ở thân TC trước khi có thai lần này như: sẹo mổ bóc nhân xơ tử cung, sẹo mổ tạo hình tử cung, sẹo khâu bảo tồn tử cung trong chửa góc sừng. 5 - Dị dạng tử cung: tử cung đôi, tử cung hai sừng hoặc đáy tử cung có vách giữa làm cho ngôi bất thường. * Do âm đạo - tầng sinh môn: - Sẹo phẫu thuật: Rò bàng quang - trực tràng, sẹo tạo hình thẩm mỹ cần bảo tồn kết quả.

- Dị dạng: vách ngăn âm đạo. * U tiền đạo: U xơ tử cung đoạn dưới, các khối u buồng trứng nằm lọt sâu xuống tiểu khung. Nguyên nhân về phía con - Thai suy mãn tính. - Ngôi, thế, kiểu thế bất thường: Ngôi ngang, ngôi trán, ngôi mặt cằm cùng, ngôi ngược trên 3000g.

- Song thai mắc nhau. - Thai to đều không tương xứng với khung chậu. - Siêu âm thai ĐK lưỡng đỉnh ≥ 100cm. Nguyên nhân do phần phụ của thai - Rau tiền đạo trung tâm.

- Rau tiền đạo kèm ngôi thai bất thường. - Rau tiền đạo chảy máu nhiều. Các chỉ định mổ lấy thai trong chuyển dạ 1. Nguyên nhân về phía mẹ: * Khung chậu giới hạn.

* Do tử cung: - Cơn co cường tính, cơn co thưa yếu điều chỉnh không kết quả. * Do cổ tử cung: 6 - Cổ tử cung không tiến triển, sẹo rách cổ tử cung. * Do bệnh của mẹ: - Cao huyết áp, tiền sản giật, sản giật. - Bệnh tim và các bệnh nội khoa khác.

- Ung thư cổ tử cung tại chỗ hoặc xâm lấn. Nguyên nhân về phía thai - Thai suy cấp trong chuyển dạ. - Nghiệm pháp lọt thất bại. - Đầu không lọt.

- Thai to: Thai to đều trọng lượng thai > 3500gram[1] không tướng xứng với khung chậu, loại trừ thai to một phần. - Các ngôi thai bất thường: Ngôi vai, ngôi trán, ngôi mặt kiểu cằm sau, ngôi mông kèm theo trọng lượng thai nhi khá, bất thường xương chậu, TC có sẹo mổ cũ. - Thai quá ngày sinh hoặc già tháng: là thai kì kéo dài hơn 42 tuần hay trên 294 ngày kể từ ngày đầu của kì kinh cuối mà thai nhi chưa được sinh ra đời. Chưa có tiêu chuẩn lâm sàng hay cận lâm sàng nào giúp chẩn đoán chính xác thai già tháng mà chỉ có thể xác định thai đủ trưởng thành hay chưa hoặc có nguy cơ suy thai hay không để có hướng xử lý thích hợp.

Nếu lượng nước ối còn nhiều (chỉ số ối >5cm) và NST có đáp ứng, ST âm tính thì gây chuyển dạ đẻ bằng cách truyền ngỏ giọt tĩnh mạch oxytocin và theo dõi chuyển dạ bằng máy monitoring, nếu có biểu hiện bất thường phải MLT[21]. Nếu thiếu ối (chỉ số ối <5cm) hoặc nước ối xanh bẩn, NST có đáp ứng là biểu hiện của suy thai hoặc thai kém phát triển đều phải MLT [13]. - Song thai: + Hai ngôi đầu chèn nhau làm cho ngôi thứ nhất không lọt được. 7 + Song thai ngôi thứ nhất là ngôi ngược, thai thứ hai ngôi đầu có khả năng mắc vào nhau khi đẻ ngôi thứ nhất.

- Chửa từ ba thai trở lên. Chỉ định về phía phần phụ của thai * Do rau thai - Rau tiền đạo bán trung tâm: rau bám mép, bám thấp sau khi bấm ối mà vẫn chảy máu hoặc CTC không tiến triển thì MLT. - Rau bong non: mổ cấp cứu. * Do dây rau: Sa dây rau là một cấp cứu sản khoa vì cần giải quyết ngay không thai sẽ bị chết.

Trong trường hợp tim thai đã mất không có chỉ định mổ vì tính chất cấp cứu đã mất hoàn toàn. - Nếu thai còn sống, đủ điều kiện lấy thai bằng forceps - Nếu thai sống nhưng không đủ điều kiện đặt forceps thì MLT ngay * Do ối: ối vỡ sớm hoặc ối giảm dưới 40mm, rỉ ối mà xé màng ối truyền đẻ chỉ huy cổ tử cung không tiến triển thì MLT. Dọa vỡ tử cung Những trường hợp chuyển dạ lâu, ngôi chỏm chưa lọt hoặc còn cao trong tiểu khung và không xuống hơn hoặc trong những trường hợp dùng oxytocin không đúng chỉ định, quá liều lượng sẽ làm cho đoạn dưới tử cung phình to, dọa vỡ, thai bình thường hoặc đã suy mà không thể lấy thai bằng một thủ thuật qua đường âm đạo thì MLT. Lý do xã hội Đây là những chỉ định mà nguyên nhân không phải là các yếu tố về chuyên môn gây đẻ khó dẫn tới MLT mà xuất phát từ mong muốn, nguyện vọng của sản phụ và gia đình sản phụ như[6,7]: - Con so lớn tuổi - Vô sinh, IVF, TSSKNN - Xin mổ 8 1.

Các phương pháp MLT 1. Mổ thân tử cung Mổ thân tử cung được chỉ định trong các trường hợp MLT kèm cắt tử cung như phong huyết tử cung - rau, mẹ bị suy tim, khối u tiền đạo như u xơ to ở đoạn dưới, tử cung xơ hóa toàn bộ nhiều u xơ không thể bảo tồn. Sau khi vào ổ bụng, rạch dọc theo đường giữa phía trước thân TC dài 12- 15cm. Lấy thai bằng cách cầm chân kéo ra ngoài.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Tài liệu "Nghiên cứu chỉ định mổ lấy thai con so tại Bệnh viện Phụ sản Hà Nội năm 2021" cung cấp cái nhìn sâu sắc về quy trình và tiêu chí chỉ định mổ lấy thai cho các sản phụ lần đầu. Nghiên cứu này không chỉ phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến quyết định mổ mà còn đánh giá kết quả và sự an toàn cho mẹ và bé. Những thông tin này rất hữu ích cho các bác sĩ, nhà nghiên cứu và các bậc phụ huynh đang tìm hiểu về phương pháp sinh nở an toàn.

Để mở rộng kiến thức của bạn về chủ đề này, bạn có thể tham khảo tài liệu Nghiên cứu tỷ lệ một số yếu tố liên quan và đánh giá kết quả mổ lấy thai ở nhóm 1 theo phân loại robson tại bệnh viện đa khoa cái nước tỉnh cà mau năm 2019 2020. Tài liệu này sẽ giúp bạn hiểu rõ hơn về các yếu tố liên quan đến mổ lấy thai và cách phân loại Robson, từ đó cung cấp thêm góc nhìn về quy trình và kết quả mổ lấy thai trong các bối cảnh khác nhau.