ĐẶT VẤN ĐỀ Cùng với nên kinh tế phát triển của cả nước, ngành chăn nuôi nói chung và nhất là ngành chăn nuôi heo đang phát triển rất mạnh mẽ, các nhà chăn nuôi luôn luôn phấn đấu để gia tăng sản phẩm và đạt lợi nhuận tối đa. Thực tế cho thấy, khả năng sinh sắn của đàn heo nái còn nhiều yếu tố ảnh hưởng; trong đó, chứng sẩy thai do nhiều nguyên nhân là yếu tố quan torng, một trong những nguyên nhân đó là do sự rối loạn kích thích tố. Cho nên, việc nghiên cứu và sử dụng các biện pháp để phục hổi khả năng sinh sản trên heo nái là mục tiêu của các nhà chăn nuôi. Cho đến nay, các công trình nghiên cứu trong và ngoài nước cho thấy việc sử dụng các kích thích tố để cải thiện khả năng sinh san đã mang lại kết quả khả quan.
Nhiều nghiên cứu sử dụng kích thích tố như PMS, hCG, progesterone. gây đa xuất noãn, gây lên giống đồng loạt. Ngoài ra, sử dụng kích thích tố để điều trị các bệnh sản khoa đo rối loạn các chức năng nội tiết. Qua đó, các nhà chăn nuôi có thể tăng tỉ lệ heo nái đậu thai, tăng số đầu con trên một nái và rút ngắn khoảng cách giữa hai lứa đẻ, cũng như phát hiện và điều trị kịp thời những nái có khả năng sinh sản kém để sớm có biện pháp giải quyết.
các biện pháp giúp gia tăng khả năng sinh sản thông qua quá trình động dục, thụ tỉnh và sinh đề của gia súc. Kích thích tố progesterone còn gọi là hoàng thai tố, trợ thai tố hay kích thích tố an thai, được tiết ra từ hoàng thể của buồng trứng và duy trì suốt thời gian mang có thai. Progesterone lam mém sgi co tron th cung giữ thai an toàn trong thời kỳ đến thai. Sử dụng progesterone giúp đóng nút chắc chấn cổ tử cung, bảo vệ thai đúng ngày sinh.
Heo nái hậu bị thường được phối giống khi có biểu hiện động dục. Tuy nhiên, nhiều trường hợp heo hậu bị chậm biểu hiện động dục sau 210 ngày tuổi. Nghiên cứu sử dụng progesterone trên heo nái hậu bị chậm động dục sẽ giúp phục hổi nhanh chức năng sinh sản giẩm tỷ lệ loại thải và chỉ phí chăn nuôi. Sử dụng kích thích tố progesterone trên heo nái rạ giúp nái biểu hiện động dục đồng loạt, biểu hiện động dục đồng loạt giúp thuận lợi trong kế họach sản xuất, quản lý và sử dụng hết hiệu của suất của chuồng trại.
Việc sử đụng kích thích tố progesterone vào giai đọan II thời gian mang thai khi thú đọa bị sẩy thai, giúp phát triển ổn định bào thai và giảm tỷ lệ để non trên heo, bò cái mang thai Xuất phát từ các vấn để nêu trên, được sự chấp nhận của Sở Khoa Học Công tài Nghệ Môi Trường Thành Phố Hỗ Chí Minh chúng tôi thực hiện nghiên cứu để “Chế tạo và sử dụng kích thích tố progesterone được ly trích từ buông trứng giúp tăng năng suất sinh sẵn trên heo, bò cái” 1. Mục đích Góp phần tim ra biện pháp nhằm nâng cao khả năng sinh san, giảm bệnh sấy thai và tăng tỷ lệ động dục. Yêu cầu Để xuất về sẵn xuất va sit dung progesterone để can thiệp và phòng ngừa sẩy thai. Sử dung progesterone ở heo, bò chậm động dục, nhằm phục hồi chức năng sinh sản.
Kinh phí được duyệt Kinh phí được duyệt tổng cộng: 95.000 đồng (chín mươi lãm triệu đồng) PHẨN IIL TONG QUAN 2. HOANG THỂ VÀ HOẠT ĐỘNG CỦA PROGESTERONE 2.1 Sự chuẩn bị để thành lập hoàng thể “Trong giai đoạn tăng sinh của chu kỳ động dục bình thường, một số nhóm nang noãn bắt đầu phát triển do tác dụng của FSH. Khi nang đủ to để có vỏ trong chứa mạch máu và mạch bạch huyết thì nang sấn sàng đưa hormone được sản sinh ra để đưa vào tuần hoàn cơ thể. Một trong những yếu tố cơ bản là nang được chọn phải phát triển, chín thành nang Graaf.
Nang to lên được do tích lũy nhiều nước trong hang nang và do tăng số lượng tế bào hạt. Nước nang chứa protein, steroid hormone có tác dụng trên sự chín mùi, sự phát triển của nang và noãn. Các tế bào hạt tăng bằng cách phân bào nguyên nhiễm; do đó, số lượng tế bào được tăng lên cùng với số lượng FSH-R cũng tăng theo khi FSH tham gia vào sự chuyển đổi androgen sang estrogen trong tế bào hat. Số lượng tế bào hạt có liên quan với sự sẳn sinh estrogen của nang.
Estrogen gây kích thích FSH-RF (releasing factor - FSH) nguồn gốc gây đỉnh LH và sự phóng noãn. Sự phóng noãn xảy ra 10-12 giờ sau đỉnh LH hoặc 30 giờ sau khi LH bắt đầu tăng. Quá trình nào làm cho thành nang bị vỡ thì không rõ, song có sự tiêu hủy tại chỗ, có lẽ do protein enzyme được giải phóng từ khoang ngoài tế bào. Người ta đo cẩn thận áp lực nước trong nang và không thấy có sự thay đổi đáng kể trong quá trình vỡ nang.
Người ta thấy có sự co thắt lớp cơ nhấn quanh nang khi có phóng noãn. Prostaglandin trong nang có tham gia cơ chế co thắt cơ nhấn này và khi cho prostaglandin-inhibitor có thể ngăn ngừa sự phóng noãn. Sự có mặt prostaglandin trong nước nang là quan trọng khi prostaglandin được tổng hợp và tham gia vào quá trình tiêu hoàng thể. Người ta thấy có prostaglandin tổng hợp trước phóng noãn, có thể là prostaglandin kích thích được đỉnh LH.
Vì nếu đỉnh LH xảy ra trước khi nang sẵn sàng cho sự phóng noãn thì hiện tượng hoàng thể hóa của các tế bào hạt có thể xảy ra nhưng không có phóng noãn. Trong thời kỳ trước phóng noãn, progesterone được tăng tiết 2 lần trước đó, do cé sy san sinh progesterone cia buồng trứng, cộng với progesterone do thượng thận tiết ra. Lượng nhỏ progesterone của thời kỳ này có thể cần thiết để gây ra đỉnh LH. Tế bào hạt đã được phát triển các LH-RF trong pha nang noãn muộn, sau-đó các tế bào hạt này lại bị hoàng thể hóa, đồng thời có sự cung cấp mạch máu quanh nang.
Số lượng tế bào hạt được hoàng thể hóa giúp quyết định kích thước và khả năng hoạt động của hoàng thể và phát triển mức độ cung cấp mạch máu cho các tế bào hạt đã được hoàng thể hóa, là những tế bào tiễn thân của hoàng thể, nơi sản sinh progesterone và giải phóng vào tuần hoàn máu. Nghiên cứu sự thụ tỉnh trong ống nghiệm cho thấy, khi hút noãn mà hút đi nhiều tế bào hạt thì khả năng thành lập hoàng thể sẽ giảm đi nhiều và progesterone được tiết ra ít đi. Như vậy, sự phát triển của nang trước phóng noãn là quan trọng trong chức phận hoằng thể sau này.2 Sự thành lập hoàng thể Hoàng thể phát triển sau khi có sự suy yếu của nang trứng lúc rụng trứng. Vách trong của nang phát triển thành những nếp gấp đại thể, vi thể và chúng đi vào xoang trung tâm.
Những nếp gấp này gồm có nhân trung tâm của mô đệm và những mạch máu lớn trở nên căng phổng. Các tế bào này phát triển ít ngày trước khi rụng trứng. Chúng thoái hóa nhanh chóng và trong vòng 24 giờ sau khi rụng trứng, tất cả những tế bào vé còn lại đang ở giai đoạn đầu của sự thoái hóa. Sự nổ to và sự lutein hóa của các tế bào kết hạt bắt đấu sau khi rụng trứng.
Mô Iutein lớn lên chủ yếu do sự nở to của các tế bao lutein (Hansel va ctv, 1983). Progesterone được tiết ra từ các tế bào lutein như là các bạt. Quá trình này xuất hiện tối đa ở ngày thứ 10 của chu kỳ và thon lại rố rệt vào ngày thứ 12, hoạt động các tiết tuyến suy tàn dần dẫn cho đến ngày thứ 14. Nhưng cho đến thời điểm này, vi cấu trúc cha các nội bào quan khác của tế bào chất trong tế bào lutein không có mà sự thay đổi rõ rệt, ngoài việc tăng lên từ từ về số lượng của các thể tự thực bào chúng bắt đầu xuất hiện ở ngày thtf 12 (Genmell va ctv, 1986).
Ở những động vật lớn tuổi, các chức năng của thể vàng suy giảm là do các tế những thay bào nang không còn khả năng đáp ứng đẩy đủ sự kích thích hormone, đổi về số lượng và chất lượng của sự tiết hormone. Khối lượng thể vàng và hàm đối ổn lượng progesterone tăng nhanh từ ngày thứ 2 đến ngày thứ 8 và giữ tương định đến ngày thứ 15, khi sự thoái hóa bắt đầu (Frb và ctv, 1981).3 Sự thoái hóa hoàng thể Nếu trứng không thụ tỉnh, thể vàng sẽ thoái hóa, cho phép các nang trứng lớn vàng giảm hơn tiếp tục thành thục. Khi những tế bào này thoái hóa, toần bộ thể biến đổi kích thước, trở nên trắng hoặc nâu nhạt, được gọi là thể bạch biến. Những trở nên dầy đặc, thoái hóa bao gồm cả việc vách các động mạch trong thể vàng có gidm sự kết hạt tế bào chất.
Sau 2 hoặc 3 chu kỳ, vẫn tôn tại những vết sẹo trần thứ thể nhận biết được của mô liên kết. Thể vàng ở heo bắt đầu thoái hóa vào ngày nửa trong 14 đến 15 sau khi động dục và kích thước của nó có thể giảm còn một vong 36 gid.4 Sự phân giai lutein Sự phân gidi lutein gây cảm ứng estrogen có thể xây ra gián tiếp qua sự trong kỳ động dục, chịu trách nhiệm làm thoái hóa bình kích thích của PGF¿„ duy trì thể thường thể vàng. Phôi phải nằm trong tử cung vào ngày thứ 12-13 để tử cung bắt dau vàng. Thật rõ rằng, giai đoạn này tiêu biểu cho trạng thái của những bước phân giải lutein.
tác dụng Liêu lượng và cách điều trị khác nhau bằng PGF;„ ngoại sinh đều có nang trứng lớn trong cho việc gây nên thoái hóa lutein hoàn toàn. Tiêm PGF¿;„ vào buồng trứng có thể vàng là một trong những cách có hiệu quả. Indomethaxin là chất phóng thích gây cảm ứng estrogen của PGF¿„ từ tử cung. Tiêm Indomethaxin vào trong tử cung sẽ phòng ngừa được sự thoái hóa lutein gây cam ting estrogen.5 Những thay đổi về huyết lưu đến hoàng thể Sự có mặt của thể vàng đang hoạt động làm tăng lên rõ rệt dòng máu chảy đến buồng trứng.
Dòng máu chẩy đến buồng trứng có thể vàng tăng lên từ 1 ml/phút đến 3-7 ml/phút khi thể vàng phát triển (Niswender va ctv, 1986). Khi thể vàng thoái hóa, huyết lưu đến buồng trứng suy giảm gấp. Dòng máu chảy đến thể vàng giữ vai trò điều hòa thể vàng và điều hòa hoạt tính các hormone hướng sinh đục ở giai đoạn tế bào lutein. Hoạt động của LH có thể làm tăng đòng máu chấy đến thể vàng.