Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu
Trong bối cảnh nền nông nghiệp hiện đại hướng tới mục tiêu phát triển bền vững và giảm thiểu tác động tiêu cực đến môi trường, mô hình kinh tế tuần hoàn (Circular economy) ngày càng khẳng định vai trò trọng tâm. Khái niệm này được chính thức đề xuất vào năm 1990 bởi Pearce và Turner, dựa trên nguyên lý cơ bản là mọi chất thải và phụ phẩm của một chu trình sản xuất đều có thể trở thành yếu tố đầu vào cho chu trình sản xuất tiếp theo. Tại Việt Nam, định hướng phát triển kinh tế tuần hoàn đã được khẳng định rõ nét trong Nghị quyết số 55-NQ/TW ngày 11/02/2020 của Bộ Chính trị về Chiến lược phát triển năng lượng quốc gia đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045. Trong lĩnh vực sản xuất nông nghiệp, tiềm năng ứng dụng kinh tế tuần hoàn là rất lớn thông qua việc thu gom, xử lý và tái chế nguồn phế phụ phẩm trồng trọt, chất thải chăn nuôi và rác thải hữu cơ nhằm chế biến thành phân bón.
Thực tiễn sản xuất tại Việt Nam cho thấy phân bón đóng góp từ 30% đến 50% tổng sản lượng cây trồng (theo đánh giá của Stewart, 2005). Tuy nhiên, lượng tiêu thụ phân bón trong nước đã gia tăng đột biến tới 517% trong vòng 20 năm qua, trong khi diện tích đất gieo trồng chỉ tăng 57%. Số liệu thống kê của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn năm 2020 chỉ ra rằng tổng lượng phân bón tiêu thụ trên toàn quốc đạt khoảng 10,23 triệu tấn, trong đó phân bón vô cơ (hóa học) chiếm tới 7,6 triệu tấn và phân bón hữu cơ chỉ đạt 2,63 triệu tấn. Việc lạm dụng phân bón vô cơ kéo dài đã dẫn đến tình trạng suy thoái, chua hóa, chai cứng đất, tích lũy nitrat độc hại trong nông sản và đe dọa trực tiếp đến sức khỏe người tiêu dùng. Đồng thời, mỗi năm cả nước phát sinh khoảng 25 triệu tấn chất thải rắn sinh hoạt (trong đó chất thải hữu cơ chiếm 60%), song hơn 70% lượng rác thải này vẫn đang phải chôn lấp trực tiếp ngoài tự nhiên (>10 triệu tấn rác hữu cơ). Ngoài ra, nguồn phế phụ phẩm nông nghiệp thải ra hàng năm lên tới xấp xỉ 76 triệu tấn (gồm 45,22 triệu tấn rơm rạ, 8,73 triệu tấn trấu, 6,33 triệu tấn phụ phẩm ngô, 4,04 triệu tấn bã mía, 1 triệu tấn vỏ cà phê và 10 triệu tấn phụ phẩm rau) cùng 85 triệu tấn chất thải rắn chăn nuôi, nhưng mới chỉ có khoảng 20% lượng chất thải chăn nuôi được thu gom và khai thác hiệu quả.
Thị trường phân bón giai đoạn 2020–2022 còn chịu tác động nặng nề từ các biến động địa chính trị toàn cầu như đại dịch COVID-19 và xung đột Nga – Ukraine. Các lệnh trừng phạt kinh tế và việc giá dầu thô leo thang vượt mốc 100–140 USD/thùng đã đẩy giá phân bón thế giới tăng trên 40%; trong đó giá phân đạm urê tăng 60,5% và giá phân kali nhập khẩu tăng gấp đôi. Trong nước, nguồn cung phân kali và đạm sunphat phụ thuộc hoàn toàn vào nhập khẩu, trong khi nguồn cung DAP và MAP mới chỉ tự chủ được 86%. Thực trạng này đòi hỏi phải chủ động khai thác nguồn nguyên liệu hữu cơ sẵn có tại chỗ để thay thế một phần phân hóa học. Tại tỉnh Thái Nguyên, quy hoạch phát triển vùng sản xuất nông nghiệp an toàn theo quy trình VietGAP giai đoạn 2011–2016 đã đạt diện tích gần 800 ha với tổng vốn đầu tư gần 770 tỷ đồng. Do đó, nhu cầu tiêu thụ các sản phẩm nông sản sạch, đặc biệt là các loại rau ăn lá phổ biến như rau muống (Ipomoea aquatica) và rau mùng tơi (Basella alba L.), là rất cấp thiết.
Nhằm hoàn thiện quy trình kỹ thuật sản xuất phân hữu cơ sinh học từ phế phụ phẩm địa phương và xác định chế độ bón thích hợp cho rau ăn lá, đề tài đã đặt ra các mục tiêu và nhiệm vụ cụ thể:
Mục tiêu nghiên cứu của đề tài:
- Lựa chọn được chế phẩm vi sinh phù hợp trong ủ phân hữu cơ sinh học.
- Lựa chọn được loại phân hữu cơ sinh học phù hợp cho sản xuất rau muống.
- Lựa chọn được liều lượng phân bón hữu cơ sinh học phù hợp cho sản xuất rau mùng tơi.
Nhiệm vụ (yêu cầu) nghiên cứu của đề tài:
- Đánh giá được ảnh hưởng của một số loại chế phẩm vi sinh ủ phân đến hàm lượng dinh dưỡng và thời gian hoàn thành quá trình ủ phân hữu cơ.
- Đánh giá được ảnh hưởng của các loại phân hữu cơ sinh học đến sinh trưởng và năng suất của cây rau Muống cạn.
- Đánh giá được ảnh hưởng của liều lượng phân hữu cơ sinh học tới sinh trưởng, phát triển của cây rau Mùng tơi.
Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:
- Đối tượng nghiên cứu: Bốn loại chế phẩm vi sinh thương mại (Sumitri, EMIC, EMUNIV dạng bột, Trichoderma); nguồn phế phụ phẩm nông nghiệp (thân cây ngô, cỏ xuyến chi, cỏ phân xanh, vỏ trấu), phân trâu tươi; cây rau muống cạn và cây rau mùng tơi.
- Không gian nghiên cứu: Thí nghiệm ủ phân và thử nghiệm đồng ruộng được tiến hành tại thành phố Sông Công, tỉnh Thái Nguyên. Công tác phân tích các chỉ tiêu chất lượng hóa lý và vi sinh của phân ủ được thực hiện tại Phòng phân tích hóa học thuộc Viện Khoa học sự sống – Trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên.
- Thời gian nghiên cứu: Từ tháng 02/2022 đến tháng 06/2022.
Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu
Nghiên cứu được thiết lập dựa trên hệ thống cơ sở pháp lý và tiêu chuẩn quốc gia hiện hành về quản lý và kiểm định chất lượng phân bón tại Việt Nam. Khung phân loại phân bón được trích dẫn theo Nghị định số 84/2019/NĐ-CP (gồm nhóm phân bón hóa học/vô cơ, nhóm phân bón hữu cơ và nhóm phân bón sinh học). Việc kiểm định và đánh giá phẩm chất phân ủ thành phẩm được căn cứ trực tiếp theo Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về chất lượng phân bón QCVN 01-189:2019/BNNPTNT (ban hành kèm theo Thông tư số 09/2019/TT-BNNPTNT của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn).
Hệ thống phương pháp thử nghiệm tiêu chuẩn áp dụng để phân tích chất lượng phân bón bao gồm:
- Xác định độ ẩm: Phương pháp sấy khô mẫu.
- Xác định hàm lượng chất hữu cơ tổng số: Tiêu chuẩn cơ sở TCCS 15:2014.
- Xác định hàm lượng nitơ tổng số (Nts): Tiêu chuẩn quốc gia TCVN 8557:2010.
- Xác định hàm lượng photpho tổng số (P2O5ts): Tiêu chuẩn quốc gia TCVN 8563:2010.
- Xác định hàm lượng kali tổng số (K2Ots): Tiêu chuẩn quốc gia TCVN 8562:2010.
- Xác định hàm lượng axit humic và axit fulvic: Tiêu chuẩn quốc gia TCVN 8561:2010 (quy đổi hàm lượng axit humic bằng carbon nhân với 1,724; axit fulvic bằng carbon nhân với 2,150).
- Xác định tỷ lệ C/N: Tiêu chuẩn carbon theo TCVN 9294:2012 và nitơ theo TCVN 8557:2010.
- Giám định mật độ vi sinh vật gây hại: Escherichia coli theo TCVN 6846:2007; Salmonella theo TCVN 10780-1:2017.
Phương pháp bố trí thí nghiệm thực tế bao gồm ba nội dung chính:
- Thí nghiệm 1: Khảo nghiệm ảnh hưởng của chế phẩm vi sinh đến quá trình ủ phân hữu cơ. Thí nghiệm được bố trí theo khối ngẫu nhiên hoàn chỉnh (RCBD) gồm 4 công thức và 3 lần nhắc lại. Thí nghiệm thực hiện trên các thùng xốp chứa 50 kg nguyên liệu/thùng. Tỷ lệ phối trộn tính trên 1 tấn nguyên liệu theo quy trình của Trần Thị Minh Hằng và cs. (2021) gồm: 800 kg phụ phẩm trồng trọt (thân ngô chiếm 40% thể tích, cỏ xuyến chi và phân xanh chiếm 50% thể tích) + 200 kg phân chuồng (phân trâu chiếm 10% thể tích) + 5 kg vôi bột + chế phẩm vi sinh. Các công thức thí nghiệm gồm:
- CT1: Bổ sung chế phẩm Sumitri (liều lượng 1 kg/4–5 tấn nguyên liệu).
- CT2: Bổ sung chế phẩm EMIC (liều lượng 2 kg/1 tấn nguyên liệu).
- CT3: Bổ sung chế phẩm EMUNIV dạng bột (liều lượng 1 kg/1 tấn nguyên liệu).
- CT4: Bổ sung chế phẩm Trichoderma (liều lượng 2 kg/1 tấn nguyên liệu).
Quá trình ủ kéo dài cho đến khi nhiệt độ đống ủ duy trì mức chênh lệch không quá 5°C so với nhiệt độ môi trường trong 3 ngày liên tiếp; sau đó dỡ đống ủ, đảo trộn và để ổn định 1–2 tuần trước khi lấy mẫu phân tích.
- Thí nghiệm 2: Khảo nghiệm ảnh hưởng của các loại phân hữu cơ sinh học đến cây rau muống cạn. Thí nghiệm được thực hiện trong nhà lưới, bố trí theo khối ngẫu nhiên hoàn chỉnh (RCBD) gồm 5 công thức, 3 lần nhắc lại trên 15 ô thí nghiệm (diện tích mỗi ô 1 m², kích thước 1 m x 1 m, rãnh luống rộng 30 cm). Gieo hạt ngày 16/4/2022. Mức bón quy đổi cho 1.000 m²:
- CT1 (đối chứng): 2 tấn phân chuồng đã qua xử lý + nền phân khoáng.
- CT2: 2 tấn phân ủ bằng Sumitri + nền phân khoáng.
- CT3: 2 tấn phân ủ bằng EMIC + nền phân khoáng.
- CT4: 2 tấn phân ủ bằng EMUNIV + nền phân khoáng.
- CT5: 2 tấn phân ủ bằng Trichoderma + nền phân khoáng.
Nền phân vô cơ chung cho 1.000 m² bao gồm: 20 kg supe lân + 15 kg đạm urê + 5 kg kali clorua. Kỹ thuật gieo trồng, bón phân và thu hoạch áp dụng theo tài liệu hướng dẫn của Trung tâm Khuyến nông Thành phố Hồ Chí Minh.
- Thí nghiệm 3: Khảo nghiệm ảnh hưởng của liều lượng phân hữu cơ sinh học (chế phẩm EMIC) đến cây rau mùng tơi. Bố trí trong nhà lưới theo khối ngẫu nhiên hoàn chỉnh (RCBD) gồm 5 công thức, 3 lần nhắc lại (15 ô thí nghiệm, 1 m²/ô, mật độ 35 cây/ô, tổng số 525 cây theo dõi). Cây con được ươm 22 ngày tuổi, gieo ngày 26/4/2022 và trồng ngày 18/5/2022. Các công thức bón cho 1.000 m² gồm:
- CT1: 1,5 tấn phân chuồng xử lý + nền phân khoáng.
- CT2: 1,5 tấn phân hữu cơ sinh học EMIC (không bón nền).
- CT3: 1,5 tấn phân hữu cơ sinh học EMIC + 50% nền phân khoáng.
- CT4: 3,0 tấn phân hữu cơ sinh học EMIC (không bón nền).
- CT5: 3,0 tấn phân hữu cơ sinh học EMIC + 50% nền phân khoáng.
Nền phân khoáng chuẩn cho 1.000 m² mùng tơi gồm: 50 kg supe lân + 12 kg đạm urê + 10 kg kali clorua.
Phương pháp xử lý số liệu: Toàn bộ số liệu thực nghiệm thu thập được xử lý thống kê sinh học bằng phần mềm chuyên dụng SAS 9.1 (SAS Institute Inc., Cary, NC, USA), áp dụng phép kiểm định sai biệt nhỏ nhất có ý nghĩa (LSD) ở mức xác suất p < 0,05 để so sánh sự sai khác giữa các công thức.
Nội dung chính theo từng chương
Chương I: Mở đầu
Chương này tập trung làm rõ tính cấp thiết của đề tài xuất phát từ chủ trương thúc đẩy kinh tế tuần hoàn và nền nông nghiệp an toàn tại Việt Nam. Tác giả phân tích tình trạng mất cân đối trầm trọng trong sử dụng phân bón vô cơ so với phân hữu cơ, sự lãng phí tài nguyên phế phụ phẩm nông nghiệp và rác thải hữu cơ chôn lấp gây ô nhiễm môi trường. Từ bối cảnh thực tiễn của tỉnh Thái Nguyên, chương mở đầu xác định rõ 3 mục tiêu nghiên cứu cụ thể, 3 nhiệm vụ khoa học, cùng ý nghĩa khoa học trong việc cung cấp dữ liệu kỹ thuật ủ phân sinh học và ý nghĩa thực tiễn đối với đào tạo chuyên môn nông học.
Chương II: Tổng quan tài liệu
Nội dung chương tổng quan hệ thống hóa các cơ sở khoa học và thực tiễn liên quan đến dinh dưỡng cây trồng và công nghệ phân bón:
- Trình bày lịch sử ngành phân bón thế giới từ thế kỷ 18 đến nay và các mốc phát triển công nghiệp phân bón tại Việt Nam từ năm 1961.
- Định nghĩa, phân loại phân bón theo Nghị định số 84/2019/NĐ-CP và QCVN 01-189:2019/BNNPTNT.
- Khái quát tình hình sản xuất phân hữu cơ trên thế giới (Châu Âu chiếm 38% thị phần năm 2019, dự báo tăng trưởng hàng năm ~6% giai đoạn 2019–2029 theo Persistence Market Research).
- Phân tích thị trường phân bón Việt Nam: tổng công suất 32,27 triệu tấn/năm nhưng phân vô cơ chiếm tới 89,3% (28,8 triệu tấn/năm từ 576 nhà máy), trong khi phân hữu cơ chỉ chiếm 10,7% (3,47 triệu tấn/năm từ 265 nhà máy).
- Thống kê nguồn phát thải sinh khối: 76 triệu tấn phụ phẩm trồng trọt, 85 triệu tấn chất thải chăn nuôi rắn và 7 tỷ m³ than bùn tự nhiên.
- Tổng kết các nghiên cứu trong nước điển hình về ủ phân compost từ phụ phẩm của Võ Văn Bình và cs. (2014), Nguyễn Thị Thanh Bình và cs. (2015), Huỳnh Công Khanh và cs. (2017).
- Tổng quan đặc điểm thực vật học, giá trị dinh dưỡng của cây rau muống (Ipomoea aquatica) và cây rau mùng tơi (Basella alba L.).
Chương III: Vật liệu, nội dung và phương pháp nghiên cứu
Trình bày chi tiết nguồn gốc và thành phần của 4 chế phẩm sinh học (Sumitri, EMIC, EMUNIV, Trichoderma); chủng loại nguyên liệu ủ (thân ngô, cỏ xuyến chi, cỏ phân xanh, vỏ trấu, phân trâu); địa điểm và thời gian nghiên cứu. Chương này mô tả tường minh sơ đồ bố trí các thí nghiệm RCBD trong nhà lưới và trên mô hình thùng xốp; quy trình kỹ thuật ủ phân theo Trần Thị Minh Hằng và cs. (2021); quy trình chăm sóc rau ăn lá an toàn; hệ thống các chỉ tiêu theo dõi về chất lượng phân ủ, sinh trưởng nông học, năng suất thực thu, tần suất sâu bệnh và phương pháp xử lý số liệu bằng phần mềm SAS 9.1.
Chương IV: Kết quả và thảo luận
Chương IV trình bày các kết quả thực nghiệm và thảo luận khoa học:
- Đánh giá tính khả thi của quy trình ủ phân phụ phẩm ở quy mô hộ gia đình và bán công nghiệp.
- Công bố số liệu kiểm nghiệm các chỉ tiêu lý hóa của 4 loại phân ủ so sánh với ngưỡng quy chuẩn QCVN 01-189:2019/BNNPTNT.
- Phân tích động thái nhiệt độ khối ủ qua các mốc thời gian (10, 20, 30, 40, 45, 50, 54 ngày) và xác định thời gian hoai mục hoàn thành.
- Đánh giá ảnh hưởng của các loại phân hữu cơ sinh học đến thời gian sinh trưởng, tỷ lệ mọc, động thái tăng trưởng chiều cao cây, khả năng ra lá, đường kính thân, kích thước lá, mức độ sâu bệnh hại, năng suất và hiệu quả kinh tế trên cây rau muống cạn.
- Đánh giá ảnh hưởng của liều lượng phân hữu cơ sinh học EMIC đến các chỉ tiêu sinh trưởng, năng suất và hiệu quả kinh tế trên cây rau mùng tơi.
Chương V: Kết luận và đề nghị
Đưa ra kết luận tổng hợp về loại chế phẩm vi sinh tối ưu trong quá trình ủ phân phụ phẩm nông nghiệp; khẳng định hiệu quả của phân hữu cơ sinh học đối với sinh trưởng và năng suất rau muống, rau mùng tơi; đồng thời đưa ra các đề nghị kỹ thuật nhằm điều chỉnh nguyên liệu phối trộn và hoàn thiện quy trình canh tác rau an toàn.
Kết quả và đóng góp
Nghiên cứu đã thu thập và kiểm định chi tiết các thông số chất lượng của 4 công thức phân ủ sau thời gian ổn định 2 tuần so với quy chuẩn quốc gia QCVN 01-189:2019/BNNPTNT.
Bảng tổng hợp các chỉ tiêu chất lượng của phân ủ hữu cơ:
| STT |
Chỉ tiêu theo dõi |
Đơn vị |
Ngưỡng theo QCVN 01-189:2019/BNNPTNT |
CT1 (Sumitri) |
CT2 (EMIC) |
CT3 (EMUNIV) |
CT4 (Trichoderma) |
| 1 |
pH |
- |
≥ 5 |
8,53 |
8,45 |
8,64 |
8,58 |
| 2 |
Độ ẩm |
% |
≤ 30% |
24,68 |
26,54 |
29,05 |
26,53 |
| 3 |
Chất hữu cơ |
% |
≥ 20% |
38,92 |
43,28 |
43,38 |
44,13 |
| 4 |
Nitơ tổng số (Nts) |
% |
≥ 1 và < 8 |
1,52 |
1,79 |
1,73 |
1,76 |
| 5 |
Photpho tổng số (P2O5ts) |
% |
≥ 1 và < 8 |
0,20 |
0,25 |
0,20 |
0,27 |
| 6 |
Kali tổng số (K2Ots) |
% |
≥ 1 và < 8 |
1,00 |
1,48 |
1,45 |
1,26 |
| 7 |
Axit humic + Axit fulvic |
% |
≥ 1,75 và < 3,5 |
6,36 |
6,68 |
6,62 |
6,43 |
| 8 |
Tỷ lệ C/N |
- |
< 12 |
14,78 |
14,00 |
14,55 |
14,51 |
| 9 |
Vi khuẩn E. coli |
MPN/g |
≤ 1,1 × 10³ |
0 |
0 |
0 |
0 |
| 10 |
Vi khuẩn Salmonella |
CFU/25g |
Không phát hiện (KPH) |
KPH |
KPH |
KPH |
KPH |
Số liệu thực nghiệm cho thấy hàm lượng chất hữu cơ ở cả 4 công thức đạt từ 38,92% đến 44,13%, cao gấp hơn hai lần mức quy định tối thiểu của quy chuẩn (≥ 20%), trong đó CT4 (Trichoderma) đạt cao nhất (44,13%). Độ ẩm thành phẩm dao động từ 24,68% đến 29,05%, hoàn toàn nằm trong ngưỡng cho phép (≤ 30%). Hàm lượng Nts đạt từ 1,52% đến 1,79% và K2Ots đạt từ 1,00% đến 1,48%, đều thỏa mãn quy chuẩn kỹ thuật; trong đó CT2 (EMIC) đạt hàm lượng Nts (1,79%) và K2Ots (1,48%) cao nhất. Tổng hàm lượng axit humic và axit fulvic ở cả 4 công thức đạt từ 6,36% đến 6,68%, vượt trội so với ngưỡng quy định (1,75% – 3,5%). Về mặt an toàn sinh học, cả 4 công thức đều âm tính với Salmonella và mật độ E. coli bằng 0 MPN/g, đảm bảo điều kiện vệ sinh cho sản xuất rau an toàn. Tuy nhiên, hàm lượng lân tổng số P2O5ts ở tất cả các công thức đều rất thấp (0,20% – 0,27%), chưa đạt ngưỡng tối thiểu 1% của QCVN; tỷ lệ C/N dao động từ 14,00 đến 14,78, chưa đạt mức yêu cầu (< 12); chỉ số pH của phân ủ dao động từ 8,45 đến 8,64 thể hiện tính kiềm cao.
Bảng theo dõi biến động nhiệt độ khối ủ qua các giai đoạn (°C):
| Công thức |
10 ngày |
20 ngày |
30 ngày |
40 ngày |
45 ngày |
50 ngày |
54 ngày |
Thời gian hoàn thành (ngày) |
| CT1 (Sumitri) |
56,7 |
53,0 |
44,7 |
40,0 |
35,3 |
30,3 |
29,3 |
50 |
| CT2 (EMIC) |
62,7 |
56,7 |
46,7 |
43,3 |
37,3 |
37,7 |
31,7 |
54 |
| CT3 (EMUNIV) |
56,0 |
53,3 |
47,7 |
40,3 |
39,7 |
39,0 |
30,3 |
54 |
| CT4 (Trichoderma) |
57,0 |
50,7 |
44,7 |
38,7 |
35,0 |
35,0 |
30,0 |
54 |
Quá trình phân hủy nhiệt diễn ra mạnh mẽ nhất trong 10 đến 20 ngày đầu. CT2 (EMIC) đạt mức nhiệt độ cao nhất ở giai đoạn 10 ngày (62,7°C) và 20 ngày (56,7°C), tạo điều kiện tốt cho quá trình tiêu diệt mầm bệnh và phân giải cellulose. Thời gian hoàn thành quá trình ủ của CT1 là 50 ngày, trong khi CT2, CT3 và CT4 cùng đạt độ hoai mục sau 54 ngày.
Đối với thí nghiệm trên cây rau muống cạn, kết quả theo dõi giai đoạn đầu được thể hiện qua bảng sau:
Bảng ảnh hưởng của phân ủ đến thời gian sinh trưởng ban đầu của rau muống:
| Công thức thí nghiệm |
Ngày mọc (ngày) |
Tỷ lệ mọc (%) |
Tổng thời gian sinh trưởng (ngày) |
| CT1 (Phân chuồng - ĐC) |
4 |
86,5ᵃ |
30 |
| CT2 (Phân ủ Sumitri) |
4 |
80,5ᵇ |
30 |
| CT3 (Phân ủ EMIC) |
4 |
81,7ᵇ |
30 |
| CT4 (Phân ủ EMUNIV) |
4 |
87,0ᵃ |
30 |
| CT5 (Phân ủ Trichoderma) |
4 |
80,8ᵇ |
30 |
| P-value |
ns |
< 0,05 |
ns |
| CV (%) |
- |
1,88 |
- |
| LSD₀,₀₅ |
0 |
2,95 |
0 |
Ghi chú: Các chữ cái khác nhau trong cùng một cột biểu thị sự sai khác có ý nghĩa thống kê ở mức p < 0,05; ns là không có sai khác mang ý nghĩa thống kê.
Kết quả chỉ ra rằng thời gian từ gieo đến mọc (4 ngày) và tổng chu kỳ sinh trưởng của rau muống (30 ngày) không có sự khác biệt giữa các công thức. Tỷ lệ mọc của hạt có sự sai khác có ý nghĩa thống kê (p < 0,05): công thức bón phân ủ EMUNIV đạt tỷ lệ mọc cao nhất (87,0%), tương đương với công thức bón phân chuồng đối chứng (86,5%); các công thức CT2, CT3 và CT5 có tỷ lệ nảy mầm thấp hơn, dao động từ 80,5% đến 81,7%.
Giải pháp và kiến nghị kỹ thuật do tác giả đề xuất:
- Cần điều chỉnh giảm lượng vôi bột trong công thức phối trộn (hiện dùng 5 kg vôi/tấn nguyên liệu) nhằm hạ thấp chỉ số pH của phân ủ thành phẩm, tránh hiện tượng kiềm hóa đất canh tác.
- Cần bổ sung thêm các nguồn vật liệu hữu cơ giàu lân hoặc phối trộn thêm quặng photphat tự nhiên trong quá trình ủ để khắc phục tình trạng thiếu hụt hàm lượng P2O5ts (< 1%).
- Cần tính toán điều chỉnh tỷ lệ carbon và nitơ của khối ủ nguyên liệu ban đầu để rút ngắn thời gian ủ và đưa tỷ lệ C/N của thành phẩm về ngưỡng quy định (< 12).
- Khi mở rộng quy mô sản xuất từ hộ gia đình lên quy mô công nghiệp, cần trang bị thêm các thiết bị cơ giới như máy xúc lật, hệ thống thổi khí cưỡng bức và máy băm nghiền nguyên liệu công suất lớn.
Đóng góp của nghiên cứu:
Tác giả đã tự xác định được giá trị đóng góp của đề tài trong việc cung cấp hệ thống dẫn liệu thực nghiệm khoa học về kỹ thuật ủ phân hữu cơ sinh học từ các phế phụ phẩm trồng trọt sẵn có tại địa phương (thân ngô, cỏ dại) kết hợp với phân trâu tươi. Nghiên cứu xác lập cơ sở khoa học cho quy trình canh tác rau ăn lá an toàn, giảm thiểu sự phụ thuộc vào phân vô cơ, đồng thời nâng cao nhận thức của người dân địa phương về tái chế chất thải nông nghiệp theo định hướng kinh tế tuần hoàn.
Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp
Khóa luận đã thẳng thắn ghi nhận một số hạn chế kỹ thuật trong quá trình triển khai:
- Do điều kiện kinh phí thực hiện đề tài có hạn, nghiên cứu chưa tiến hành phân tích được các chỉ tiêu kim loại nặng bắt buộc theo quy định tại Phụ lục IV, Bảng 27 của QCVN 01-189:2019/BNNPTNT (gồm hàm lượng Asen, Chì, Thủy ngân và Cadimi).
- Một số chỉ tiêu chất lượng của phân ủ chưa đạt chuẩn kỹ thuật quốc gia: hàm lượng photpho tổng số (P2O5ts) ở cả 4 công thức đều thấp (chỉ đạt 0,20% – 0,27% so với yêu cầu ≥ 1%); tỷ lệ C/N sau ủ còn cao (14,00 – 14,78 so với ngưỡng yêu cầu < 12); chỉ số pH mang tính kiềm cao (8,45 – 8,64).
- Thí nghiệm mới dừng lại ở quy mô bán vi mô (thùng xốp 50 kg nguyên liệu) và các ô thí nghiệm diện tích nhỏ (1 m²) trong môi trường nhà lưới tại một vụ xuân hè, chưa thực hiện khảo nghiệm diện rộng trên đất đồng ruộng mở qua nhiều vụ liên tiếp.
Hướng nghiên cứu tiếp theo:
- Bố trí các thí nghiệm nghiên cứu chuyên sâu về các tỷ lệ phối trộn vôi bột khác nhau nhằm tối ưu hóa độ pH của phân ủ thành phẩm về ngưỡng trung tính (6,5 – 7,5).
- Nghiên cứu bổ sung các thành phần phụ phẩm giàu dinh dưỡng khoáng (đặc biệt là lân hữu cơ) để cân bằng tỷ lệ dinh dưỡng đa lượng N-P-K trong phân ủ.
- Tiến hành phân tích bổ sung đầy đủ các chỉ tiêu độc chất kim loại nặng và dư lượng bảo vệ thực vật nhằm đáp ứng toàn diện các tiêu chí của QCVN trước khi nhân rộng thương mại hóa.
Giá trị tham khảo
Báo cáo khóa luận là tài liệu tham khảo chuyên khảo hữu ích cho sinh viên, học viên cao học và cán bộ nghiên cứu thuộc các chuyên ngành Nông nghiệp công nghệ cao, Nông học, Khoa học cây trồng, Quản lý tài nguyên và Môi trường nông nghiệp. Tài liệu đặc biệt giá trị đối với các cá nhân, hợp tác xã hoặc kỹ thuật viên khuyến nông đang tìm kiếm giải pháp tái chế phế phụ phẩm trồng trọt tại chỗ nhằm hạ giá thành vật tư nông nghiệp.
Các nội dung có giá trị tham khảo ứng dụng cao bao gồm:
- Quy trình kỹ thuật ủ phân hữu cơ vi sinh quy mô bán tự nhiên từ thân cây ngô, cỏ xuyến chi và phân chuồng tươi với định mức tỷ lệ nguyên liệu cụ thể.
- Phương pháp luận tra cứu, áp dụng và đánh giá sai số các chỉ tiêu phân bón hữu cơ sinh học theo quy chuẩn kỹ thuật quốc gia QCVN 01-189:2019/BNNPTNT và các tiêu chuẩn kiểm nghiệm TCVN liên quan.
- Phương pháp bố trí thí nghiệm khối ngẫu nhiên hoàn chỉnh (RCBD) trên cây rau ăn lá trong điều kiện nhà lưới cùng quy trình xử lý số liệu sinh học bằng phần mềm SAS 9.1.
Câu hỏi thường gặp
Bốn loại chế phẩm vi sinh được sử dụng trong thí nghiệm ủ phân là gì và liều lượng sử dụng ra sao?
Bốn loại chế phẩm vi sinh thương mại được đưa vào thử nghiệm gồm có: chế phẩm Sumitri (liều lượng sử dụng 1 kg cho 4–5 tấn nguyên liệu), chế phẩm EMIC (liều lượng 2 kg cho 1 tấn nguyên liệu), chế phẩm EMUNIV dạng bột (liều lượng 1 kg cho 1 tấn nguyên liệu) và chế phẩm Trichoderma (liều lượng 2 kg cho 1 tấn nguyên liệu).
Tại sao hàm lượng photpho tổng số (P2O5ts) trong các mẫu phân ủ chưa đạt tiêu chuẩn QCVN 01-189:2019/BNNPTNT?
Kết quả phân tích cho thấy hàm lượng P2O5ts của 4 công thức chỉ dao động từ 0,20% đến 0,27%, thấp hơn ngưỡng quy chuẩn quy định (≥ 1% và < 8%). Nguyên nhân chủ yếu do thành phần nguyên liệu đầu vào phối trộn trong thí nghiệm (thân cây ngô, cỏ xuyến chi, cỏ phân xanh và phân trâu) có hàm lượng lân tự nhiên rất thấp, đồng thời trong quá trình ủ tác giả không phối trộn bổ sung thêm nguồn khoáng lân ngoài.
Chất lượng an toàn vi sinh vật của các loại phân ủ có đảm bảo cho canh tác rau an toàn không?
Tất cả 4 công thức phân ủ sau thời gian ủ và ổn định đều đạt tiêu chuẩn an toàn vi sinh vật nghiêm ngặt theo QCVN 01-189:2019/BNNPTNT. Cụ thể, mẫu phân tích ở cả 4 công thức đều âm tính (không phát hiện) đối với vi khuẩn gây bệnh Salmonella trong 25 g mẫu và mật độ vi khuẩn Escherichia coli đều đạt mức 0 MPN/g (thấp hơn nhiều so với giới hạn cho phép là ≤ 1,1 × 10³ MPN/g).
Diễn biến nhiệt độ của khối ủ diễn ra như thế nào và công thức nào đạt nhiệt độ cao nhất?
Nhiệt độ của các khối ủ tăng mạnh trong 10 đến 20 ngày đầu sau khi phối trộn (giai đoạn ưa nhiệt). Công thức CT2 (sử dụng chế phẩm EMIC) đạt nhiệt độ cao nhất ở ngày thứ 10 (đạt 62,7°C) và duy trì mức nhiệt cao ở ngày thứ 20 (56,7°C), giúp phân giải nhanh các chất hữu cơ phức tạp và ức chế các vi sinh vật gây hại. Sau 45–54 ngày, nhiệt độ tất cả các đống ủ hạ dần xuống mức 29,3°C – 31,7°C, tiệm cận với nhiệt độ môi trường.
Khóa luận chưa phân tích được những chỉ tiêu bắt buộc nào theo quy chuẩn quốc gia?
Do hạn chế về mặt nguồn kinh phí nghiên cứu, đề tài chưa thể thực hiện phân tích các chỉ tiêu về yếu tố hạn chế (kim loại nặng) theo quy định tại Phụ lục IV, Bảng 27 của QCVN 01-189:2019/BNNPTNT, bao gồm hàm lượng kim loại nặng Asen (As), Chì (Pb), Thủy ngân (Hg) và Cadimi (Cd).
Kết luận
Khóa luận tốt nghiệp của sinh viên Lăng Văn Hạnh đã hoàn thành việc nghiên cứu thử nghiệm quy trình ủ phân hữu cơ sinh học từ nguồn phế phụ phẩm ngô, cỏ dại và phân trâu sử dụng 4 loại chế phẩm vi sinh (Sumitri, EMIC, EMUNIV, Trichoderma) tại thành phố Sông Công, tỉnh Thái Nguyên. Kết quả kiểm nghiệm thực tế đã chứng minh phân ủ thành phẩm có hàm lượng chất hữu cơ vượt trội (38,92% – 44,13%), hàm lượng axit humic và axit fulvic cao (6,36% – 6,68%) cùng độ an toàn tuyệt đối về chỉ tiêu vi sinh vật gây hại (E. coli và Salmonella), trong đó công thức sử dụng chế phẩm EMIC thể hiện ưu thế về nhiệt độ phân giải và tích lũy đạm, kali tổng số. Dù còn một số hạn chế về hàm lượng lân tổng số, độ pH kiềm và tỷ lệ C/N cần được tiếp tục hoàn thiện, công trình đã đóng góp cơ sở dữ liệu thực nghiệm quan trọng phục vụ kỹ thuật sản xuất rau ăn lá an toàn và thúc đẩy định hướng nông nghiệp tuần hoàn tại địa phương.