Chương 1 TONG QUAN TAI LIEU 1.1 So lược về cây măng cut 1.1 Phân loại thực vật học Măng cụt được cho là có nguồn gốc từ quần đảo Malay của Indonesia (Nguyễn Văn Ké, 2014). Về phân loại Măng cụt thuộc về: Giới: Plantae Ngành: Angiospermae Lớp: Eudicots Bộ: Malpighiales Họ: Clusiaceae Chi: Garcinia Loai : G.mangostana Tén khoa hoc: Garcinia mangostana L. Tén tiéng Viét: Mang cut. Tén tiéng Anh: Mangosteen ———— - Hình 1.1 Cây măng cụt 1.2 Phan bo Các nước có trồng nhiều măng cụt gồm Thai Lan (74.250 ha); Việt Nam (6.
Ngoài ra con có Philippines (khoảng 2.410 ha); Myanmar, Campuchia, Ấn Độ, Srilanka, Úc (diện tích mỗi nước không quá 1. Tại Việt Nam, măng cụt chỉ được trồng ở Nam Bộ. Ở Đông Nam Bộ măng cụt được trồng chủ yếu trên đất đỏ tại huyện Cẩm Mỹ, Long Khánh, Xuân Lộc (tỉnh Đồng Nai); Châu Đức (Ba Rịa - Vũng Tàu) và vùng trên đất phù sa tại huyện Thuận An, Dầu 3 Tiếng (Bình Dương); Vĩnh Cửu, Long Thành (Đồng Nai). Diện tích măng cụt ở Đông Nam Bộ khoảng 2.500 ha, trong đó một số tỉnh trồng nhiều như Bình Dương (khoảng 1.200 ha), Đồng Nai (khoảng 800 ha), Bà Rịa - Vũng Tàu (khoảng 460 ha) (Bộ Nông Nghiệp và PTNT, 2014).3 Giá trị dinh dưỡng của cây mang cụt Mang cut là loại quả giàu chất bổ dưỡng.
Theo Trần Văn Minh và Nguyễn Lân Hùng (2000), thành phần dinh dưỡng của qua măng cut trong 100 g ăn được gồm: Protein (0,7 g), Lipid (0,8 g), Carbohydrate (18,6 g), Canxi (18 mg), Lan (11 mg), Sắt (0,3 mg), Vitamin B1 (0,06 mg), Vitamin B2 (0,01 mg), Niacin (0,4 mg), Vitamin C (2 mg), cho năng lượng 76 calo. Vỏ quả được dùng làm thuốc trị bệnh tiêu chảy va các bệnh khác.4 Đặc điểm thực vật học cây măng cụt 1.1 Đặc điểm thân Theo Phạm Hoàng Hộ (1999), măng cụt có dạng thân mộc, tán trung bình và cân đối. Cây trưởng thành cao 10 — 25 m với đường kính thân 35 — 65 cm. Thân thường mọc thắng đứng, cành cấp một mọc từ thân chính vươn ra ngoài với một bán kính tương đối đồng đều.
Vỏ thân cây có màu nâu sam, chứa tanin, mangostin và amiliasin dùng làm được liệu. Mangostin là một loại xanthone có khả năng chống lại nhiều loại nắm và vi khuân, chất này có nhiều trong thân, lá và vỏ quả măng cụt.2 Lá măng cụt Măng cụt thường rụng lá trước thu hoạch (vào khoảng tháng 4) và hình thành lá mới sau thu hoạch (từ tháng 7 đến tháng 11). Lá măng cụt thuộc dạng lá đơn, hình bầu dục, day. Lá mọc đối thành từng cặp từ chồi ngọn, cuống lá ngắn.
Phiến lá nguyên, thuôn dai, gân chính nổi rõ, có khoảng 35 — 40 đôi gân phụ song song kéo dai từ gân chính ra vành lá. Lá xanh sam va bóng ở mặt trên, xanh vàng ở mặt dưới. Lá măng cụt có khả năng quang hợp kém, tuy nhiên nếu được gia tăng nồng độ CO> trong không khí lên gấp đôi so với bình thường thì cây có thể hấp thụ thêm 40 — 60% khí CO» dé tạo chất khô và cây tăng trọng được thêm 77%. Không khí giàu CO2 cũng giúp cho cây có nhiều nhánh ngang, gia tăng diện tích lá, trọng lượng lá; giúp cho cây quang hợp hiệu quả, ngoài ra 4 còn giúp cho bộ rễ gia tăng gấp đôi so với điều kiện bình thường (Trần Văn Minh và Nguyễn Lân Hùng, 2000).3 Hoa mang cụt Theo Vũ Công Hậu (1996), điều kiện thuận lợi thì cây ra hoa vào năm thứ 6 — 7, trong điều kiện bat lợi, đến năm thứ 10 — 12 sau trồng cây mới ra hoa.
Măng cut được thụ hàn với nhiệt độ thấp ở mùa Giáng sinh cùng với khô hạn từ tháng 11 đến tháng 12 là điêu kiện thời tiết can cho măng cut ra hoa. Ở miền Nam, măng cụt ra hoa vào khoảng thang 1 — 3 và cho quả chín vào tháng 5 — 8 (hoảng 120 ngày sau khi hoa nở) (Pham Hoàng Hộ, 1999). Hoa thường mọc đơn độc hoặc từng cặp ở ngọn các nhánh non. Hoa gồm hoa cái và hoa lưỡng tính, 2n = 76 hoặc 96, có 4 lá đài, 6 — 8 cánh hoa có màu vàng đỏ.
Trong hoa cái, ta có thể nhìn thấy nhị đực vô sinh, mang 1 — 3 bao phan (dài 5 — 6 mm, hoàn toàn bat thụ). Hat phát triển được nhờ phôi bất định (do đó cây con trồng từ hạt hoàn toàn giống cây mẹ). Bầu noãn hình cầu có 4 — 8 ngăn (Nguyễn Việt Khởi, 2006).4 Quả và hạt Qua mang đài hoa ở cuống và núm nhụy ở đầu quả. Vỏ quả khi non có màu xanh đọt chuối, khi chín vỏ đỏ dan rồi chuyển sang tím và tim sam.
Qua chứa một loại dịch đắng màu vàng và tiết ra khi quả non bị tốn thương. Dịch trong vỏ quả gồm mangostansterine, phytosterine và tanin được dùng trong được liệu. Phan thịt bên trong quả có 5 — 8 múi màu trăng, dê tách, các múi có hoặc không có hạt. Hạt có thời gian sống ngắn, do không hình thành từ thụ phấn, chỉ sống từ 3 đến 5 tuần.
Nếu bảo quản trong điều kiện thích hợp như nhiệt độ 25°C, độ ẩm vừa phải thì có thể kéo dài đời sống của hạt măng cụt (Thái Thị Hòa và cs, 2004).5 Rễ măng cụt Theo Suhanrtano và cs (2010), khi quan sát rễ măng cụt ở những cây nhỏ thấy có 1 rễ đuôi chuột dài và rất ít rễ ngang, lông hút hầu như không có cả ở rễ chính và rễ 5 ngang. Vì thế khi trồng nên hạn chế làm đứt rễ cây con. Rễ măng cụt mọc yếu, ở các cây khoảng 5 — 10 tuổi bộ rễ chủ yêu phân bố ở 30 cm lớp đất mặt và mới chi lan rộng độ 1 m tính từ gốc ra.5 Yêu cầu sinh thái cây măng cụt Mang cụt phát triển tốt ở các vùng nóng 4m với nhiệt độ khoảng từ 25 đến 35°C và độ âm không khí thấp nhất là 80%. Măng cụt không thé sinh trưởng phát triển tốt ở vùng quá khô hay quá âm, yêu cầu lượng mưa thấp nhất phải đạt 1.
Trong hai năm đầu trồng ra ruộng sản xuất, măng cụt cần được che bớt ánh nắng mặt trời, che bóng bằng cách trồng xen chuối hoặc lưới đen (che bớt khoảng 50 — 60% ánh sáng mặt trời) sẽ giúp cho cây phát triển tốt hơn. Măng cụt có thé sinh trưởng trên nhiều loại đất khác nhau nhưng tốt nhất là đất sét giàu hữu cơ, tang canh tác dày, độ pH đất khoảng 5,5 — 7,0; thoát nước tốt và nguồn nước tưới đầy đủ (Tôn Thất Trình, 2000). Măng cụt có nhu cầu nước khá cao, chế độ tưới cho măng cụt chia thành 4 thời kỳ cơ bản gồm: (1) sau thu hoạch cần tưới dé cây ra lá non; (2) đón hoa cần ngưng tưới, gây stress nước dé chỗi thuần thục phân hóa mầm hoa; (3) ra hoa đậu qua và phát triển qua cần tưới nhiều nhất với chu kỳ 2 — 3 ngày/lần, mỗi lần lượng nước trung bình khoảng 120 lít/cây; (4) giai đoạn quả từ 80 ngày tuổi đến khi thu hoạch cần ngưng tưới dé quả có chất lượng tốt (Nguyễn Minh Châu, 2003).6 Tình hình sản xuất và tiêu thụ cây măng cụt Theo thống kê toàn thế giới có khoảng 280.000 ha măng cut với sản lượng khoảng 250. Về tình hình xuất khâu năm 2020 của Thái Lan có 100.000 tan măng cụt xuất khâu, trong đó 50% xuất khâu đến Trung Quốc, 30% đến Việt Nam, và 20% đến các quốc gia khác, Indo xuất khâu 2.450 tan măng cụt và thị trường xuất khẩu chính là Trung Quốc, Trung Đông và Châu Au (FAO, 2020).
Tổng điện tích trồng măng cụt ở Việt Nam khoảng 7.600 ha, được trồng phổ biến ở 2 vùng Đồng bằng sông Cửu Long và Đông Nam Bộ với diện tích lần lượt là 3.900 ha, cho sản lượng thu hoạch khoảng 26 nghìn tấn và hơn 11 nghìn tấn. Các tỉnh trồng nhiều mang cụt như: Bến Tre, Vĩnh Long, Trà Vinh, Cần Thơ, Hậu Giang, Sóc Trăng, Bình Dương và Đồng Nai. y = Duyên hải Nam Trung Bộ « Tây Nguyên = Đông Nam Bộ = Đồng bằng sông Cửu Long Hình 1.3 Tỷ lệ diện tích trồng măng cụt tại các vùng năm 2019 (Bộ Nông nghiệp và PTNT, 2023) Ở khu vực phía Nam, măng cụt thường ra hoa từ tháng 12 đến tháng 2 dương lịch. Thời gian thu hoạch tập trung trong tháng 5 — 6 và thường kết thúc trong tháng 7 — 8.
Giá thu mua tại vườn phụ thuộc vào mức độ chín của quả và thời gian thu hoạch của mỗi vườn, thường dao động từ 40.000 đồng đến gần 100. Hiện nay, măng cụt được tiêu thụ tại thị trường trong nước và phục vụ xuất khẩu. Tuy nhiên, sản lượng thu hoạch chưa đủ để đáp ứng nhu cầu của thị trường do loại cây này yêu cầu về điều kiện khí hậu khá nghiêm ngặt dẫn đến diện tích trồng măng cụt ở Việt Nam còn hạn chế. Giá trị xuất khâu măng cụt Việt Nam tăng từ 0,12 triệu USD năm 2010 lên 4 triệu USD năm 2016.
Xuất khẩu măng cụt trong 5 tháng đầu năm 2019 đạt trên 140 triệu USD, tăng 146% so với cùng kỳ năm 2018. Măng cụt trở thành mặt hàng xuất khẩu mang về giá trị lớn thứ 2 trong nhóm trái cây. Day cũng là mặt hàng xuất khâu chính đạt tốc độ tăng trưởng mạnh trong 5 tháng đầu năm 2019 (Bộ Nông Nghiệp và PTNT, 2020) 1.7 Tình hình sản xuất cây măng cụt tại tỉnh Bình Dương Bảng 1.1 Diện tích và sản lượng cây măng cụt tại Bình Dương năm 2022 Diện tích Huyện/Thành phố/Thị xã Tiện ch trong (ha) cho sản phẩm thế oo lượng (tân) Thành phố Thủ Dau Một 103,1 65,0 219,0 Huyện Bàu Bàng 19,4 13,4 27,0 Huyén Dau Tiéng 143,2 118,0 138,0 Thị xã Bến Cát 119,8 91,5 241,0 Huyện Phú Giáo 72 4,6 2,4 Thi xã Tan Uyên - - - Thanh phé Di An : “ - Thành phó Thuận An 521,1 505,7 2.074,3 Huyén Bac Tan Uyén 1,0 1,0 = TONG SỐ 914.702,7 Chú thích: (-) không có số liệu thong kê (Thông tin thống kê tinh Bình Dương, 2023) Qua Bang 1.1 cho thấy, măng cụt tại Bình Dương được trồng hầu hết trên địa bàn tỉnh. Trong đó, các huyện chiếm diện tích lớn như Thành phố Thủ Dầu Một, Huyện Dầu Tiếng, Thị xã Bến Cát.
Sản lượng măng cụt năm 2022 của toàn tỉnh là 2. Măng cụt của xã Thanh Tuyền, huyện Dau Tiếng luôn nỗi bat, và giành được giải thưởng cao ở các hội thi như Hội thi trái ngon — An toàn Nam Bộ đã phần nào chứng minh được chất lượng của măng cụt nơi đây.2 Kỹ thuật chăm sóc cây măng cụt ở giai đoạn kinh doanh và sâu bệnh hại chính 1.