Chương 1 đã đưa ra bối cảnh và những số liệu dẫn chứng về lý do tại sao tác giả lựa chọn đề tài "Chấp nhận và sử dụng ứng dụng BIDV SmartBanking của khách hàng cá nhân tại Thành phố Hồ Chí Minh: Góc nhìn từ mô hình UTAUT-3". Bắt đầu với một tổng quan về sự phát triển của ngân hàng số, từ đó có sự ra đời của BIDV SmartBanking. Từ lý do đó, khóa luận đưa ra những mục tiêu nghiên cứu, câu hỏi nghiên cứu và những đóng góp của đề tài nghiên cứu. Khóa luận bao gồm 5 chương, được thực hiện trong phạm vi TP.HCM với phương pháp nghiên cứu chính là định lượng.
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN VIỆC CHẤP NHẬN VÀ SỬ DỤNG ỨNG DỤNG BIDV SMARTBANKING VÀ TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU Chương 2 trình bày các khung lý thuyết, các khái niệm và định nghĩa liên quan đến việc chấp nhận và sử dụng ứng dụng BIDV SmartBanking của khách hàng cá nhân tại TP. Ngoài ra, chương này cũng sẽ giới thiệu tổng quan về các nghiên cứu đã được thực hiện trước đây liên quan đến đề tài. TỔNG QUAN LÝ THUYẾT 2. Giới thiệu ứng dụng ngân hàng điện tử trên thiết bị di động và BIDV SmartBanking Hoạt động ngân hàng truyền thống tốn rất nhiều thời gian và nguồn lực để làm hài lòng khách hàng và dẫn đến tác động không tốt đến hoạt động kinh doanh của ngân hàng.
Điều này cần phải được thay đổi thông qua việc tự động hóa một số quy trình bằng công nghệ khi giao dịch để không chỉ giúp giảm bớt gánh nặng cho nhân viên ngân hàng trong việc xử lý các giao dịch hàng ngày, mà còn nâng cao hiệu quả hoạt động và mức độ hài lòng của khách hàng ̣(Mustafa 2021). Không giống hoàn toàn với các dịch vụ ngân hàng điện tử khác như Internet Banking, công nghệ mới nổi này sử dụng phần mềm, thường được gọi là ứng dụng. Là một phần quan trọng của ngân hàng điện tử, ứng dụng ngân hàng di động là một kênh phân phối thay thế cho các giao dịch tài chính và phi tài chính truyền thống (Shaikh and Karjaluoto 2015). Thông qua đó, khách hàng có thể truy cập vào tài khoản ngân hàng của mình và thực hiện giao dịch 24/7 chỉ với thiết bị có kết nối Wifi hoặc dữ liệu di động (2G, 3G, 4G, 5G).
Ứng dụng có thể tải xuống từ trang web của ngân hàng, Google Play hoặc Apple Store (Chigori và ctg 2020). Ứng dụng ngân hàng điện tử trên thiết bị di động tạo điều kiện cho các ngân hàng có thể giảm thiểu chi phí vận hành và cải thiện dịch vụ, tối ưu hóa trải nghiệm dành cho khách hàng vì họ có thể giao dịch ở bất cứ đâu. Với sự tiện ích và các tính năng nổi bật đó, ứng dụng này đang ngày càng được sử dụng rộng rãi vì người dùng 8 smartphone đang mở rộng từng ngày. Theo Shaikh va Karjaluoto (2015), tính di động và linh hoạt của thiết bị di động đã làm tăng số lượng người dùng ở các quốc gia tiên tiến và đang phát triển, hơn nữa, số người sử dụng thiết bị di động có vai trò quan trọng trong việc triển khai ứng dụng ngân hàng điện tử.
Những điều trên cho thấy ứng dụng ngân hàng điện tử trên thiết bị di động đang ngày càng phổ biến và đã cung cấp những phương pháp để cải thiện chất lượng dịch vụ cho các ngân hàng, giúp xây dựng lòng trung thành của khách hàng nhằm duy trì lợi thế cạnh tranh. Khái niệm hành vi chấp nhận của người tiêu dùng Dương Thị Ngọc Ngân (2020) kết luận rằng hành vi chấp nhận sử dụng của người tiêu dùng “là những phản ứng của khách hàng dưới tác động của những kích thích bên ngoài và quá trình tâm lý bên trong diễn ra thông qua quá trình quyết định lựa chọn hàng hóa, dịch vụ”. Sự chấp nhận sử dụng cũng đồng nghĩa với việc chấp nhận công nghệ đó (Chen và Salmanian 2017). Thiếu sự chấp nhận của người dùng từ lâu đã là trở ngại cho sự thành công của các hệ thống thông tin mới (Gould và ctg 1991; Nickerson 1981).
Tuy nhiên, một trong những định nghĩa phổ biến hay được trích dẫn trong các nghiên cứu khác về hành vi chấp nhận của người tiêu dùng (Taherdoost 2018; Al Kurdi và ctg 2020; Nadal và ctg 2020) là định nghĩa trong nghiên cứu của Dillon và Morris (1996). Hai tác giả cho rằng sự chấp nhận là một hàm ý thái độ cá nhân ảnh hưởng đến sự lựa chọn của mọi người để thực hiện hay không thực hiện một hành vi cụ thể và dưới góc nhìn trong lĩnh vực công nghệ, sự chấp nhận sử dụng được minh họa là “sự sẵn lòng của một nhóm người dùng trong việc sử dụng công nghệ thông tin cho các nhiệm vụ được thiết kế để hỗ trợ”. Sự chấp nhận của người dùng được khái niệm hóa như một kết quả của quá trình tâm lý trong việc đưa ra quyết định về việc sử dụng công nghệ. Tóm lại hành vi chấp nhận của người tiêu dùng phản ánh ý định của người đó trong việc áp dụng và sử dụng một sản phẩm, dịch vụ hoặc công nghệ mới.
Ý định 9 này được xem như là bước trung gian quan trọng giữa thái độ đối với sản phẩm hoặc công nghệ và hành vi sử dụng thực tế của người tiêu dùng. BIDV SmartBanking là một ứng dụng ngân hàng điện tử. Đây là một ứng dụng tiên tiến kết hợp hoàn hảo giữa các nền tảng giao dịch trực tuyến, vượt qua ranh giới truyền thống trước đây giữa Internet Banking và Mobile Banking. Ứng dụng cung cấp các tính năng hỗ trợ tài chính thông minh và cho phép người dùng thực hiện giao dịch trực tuyến.
Một trong những điểm mạnh của BIDV SmartBanking là tính linh hoạt và tiện lợi, cho phép người dùng thực hiện giao dịch mọi lúc, mọi nơi, chỉ cần có kết nối Internet. Ứng dụng cũng được tối ưu hóa để tương thích với cả hai hệ điều hành phổ biến là iOS và Android, đảm bảo mọi người dùng đều có thể truy cập và sử dụng dịch vụ một cách thuận lợi. Khái niệm hành vi sử dụng của người tiêu dùng Hành vi sử dụng của người tiêu dùng chính là sự kết hợp giữa ý định sử dụng và việc sử dụng thực tế. Sự sẵn sàng sử dụng công nghệ mới bao gồm nhận thức, kỳ vọng, ý định sử dụng và hành vi sử dụng thực tế, các yếu tố này giúp xác định hành vi sử dụng của người tiêu dùng (Davis và ctg 1989; Venkatesh và ctg 2003).
Hành vi sử dụng của người tiêu dùng có thể được hiểu là quyết định của một cá nhân dựa trên đánh giá và thái độ của họ đối với việc sử dụng sản phẩm hoặc dịch vụ công nghệ mới. Vì vậy hành vi sử dụng của người tiêu dùng chính là nhân tố then chốt để đánh giá sự thành công hay thất bại của một dự án hệ thống thông tin (Davis 1993). Tóm lại, hành vi sử dụng của người tiêu dùng là biểu hiện thực tế của việc áp dụng và sử dụng một sản phẩm, dịch vụ, hoặc công nghệ mới trong thực tế. Đây là giai đoạn cuối cùng trong quá trình chấp nhận sử dụng công nghệ, nơi người dùng không chỉ bày tỏ ý định sử dụng mà còn thực sự tích cực tương tác với công nghệ.
Lý thuyết chấp nhận và sử dụng công nghệ (UTAUT) Sự phát triển của thương mại điện tử và công nghệ số đã thúc đẩy việc áp dụng công nghệ mới trong các tổ chức, làm thay đổi cách thức kinh doanh và tối ưu hóa quy trình làm việc trong bối cảnh này (Verhoef và ctg 2021). Mặc dù việc đầu tư vào công nghệ thông tin mang lại những lợi ích như cải thiện năng suất cao hơn và giúp gia tăng sự hài lòng của khách hàng (Papagiannidis và Marikyan 2020), tỷ lệ đầu tư triển khai thành công của nó lại không mấy khả quan và thường mang lại lợi nhuận thấp (Davis 1989; Venkatesh và ctg 2003). Điều này dẫn đến sự quan tâm đặc biệt của cộng đồng nghiên cứu về việc chấp nhận công nghệ, với nhiều mô hình lý thuyết được phát triển nhằm hiểu rõ hơn về hành vi người dùng liên quan đến việc chấp nhận và sử dụng công nghệ (Davis 1989; Davis và ctg 1989; Moore và Benbasat 1991; Taylor và Todd 1995; Venkatesh và Davis 2000; Ajzen 1991). Tuy nhiên, các mô hình này đều có nguồn gốc từ nhiều lĩnh vực khác nhau, khiến việc áp dụng các mô hình lý thuyết này bị giới hạn trong một số bối cảnh nhất định.
Điều này dẫn đến việc cần một cách tiếp cận thống nhất kết hợp các biến từ nhiều góc độ và lĩnh vực đa dạng, giúp tăng khả năng áp dụng mô hình lý thuyết vào các bối cảnh khác nhau (Venkatesh và ctg 2003). Để cung cấp sự hiểu biết toàn diện về việc chấp nhận công nghệ, Venkatesh và ctg (2003) đặt mục tiêu phát triển một mô hình lý thuyết thống nhất về chấp nhận công nghệ bằng cách tích hợp các cấu trúc chính trong dự đoán ý định và hành vi sử dụng. Các tác giả đã lược khảo các mô hình lý thuyết, bao gồm Thuyết hành động hợp lý (Theory of Reasoned Action – TRA), Mô hình chấp nhận công nghệ (Technology Acceptance Model – TAM), Mô hình động cơ (Motivation Model – MM), Thuyết dự định hành vi (Theory of Planned Behavior – TPB), Mô hình kết hợp TAM và TPB (Model combining TAM and TPB – C-TAM-TPB), Mô hình sử dụng máy tính cá nhân (Model of PC Utilization – MPCU), Mô hình phổ biến sự đổi mới (Innovation Diffusion Theory – IDT) và Thuyết nhận thức xã hội (Social Cognitive Theory – SCT). Các tác giả đã rút ra những điểm tương đồng và khác biệt về mặt lý thuyết và bối cảnh giữa các lý thuyết chấp nhận công nghệ bắt nguồn từ ba dòng 11 nghiên cứu, bao gồm tâm lý xã hội, quản lý hệ thống thông tin và tâm lý học hành vi.
Trong đó, TRA, TPB và SCT đại diện cho tâm lý xã hội về hành vi cá nhân; TAM, C-TAM-TPB, IDT và MPCU giải thích việc chấp nhận công nghệ từ góc độ quản lý hệ thống thông tin; lý thuyết từ quan điểm tâm lý học hành vi - MM, được dùng để khám phá hành vi chấp nhận và sử dụng công nghệ thông qua động cơ người dùng. Việc so sánh thực nghiệm lý thuyết cho phép các tác giả phát triển một mô hình thống nhất, phản ánh tất cả các yếu tố quan trọng (Venktesh và ctg 2003).