Chương 1 TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1. Thị trường rau xanh một số nước trên thế giới Trong những năm gần đây, thị trường rau tươi ở châu Âu giảm về khối lượng nhưng tăng về giá trị. Ở nhiều nước phía Đông châu Âu, mức tiêu dùng sản phẩm rau tươi vẫn tiếp tục tăng và người tiêu dùng đang chuyển dần từ tiêu dùng một số loại rau cơ bản sang những sản phẩm đa dạng hơn bao gồm cả các loại nhập khẩu. Bên cạnh đó, sự tồn tại sẵn có của nhiều đồ ăn khác như thức ăn nhẹ, đồ ăn nhanh đã trở thành sản phẩm cạnh tranh gay gắt đối với sản phẩm rau tươi.
Các nước như Đức, Tây Ban Nha, Ý, Pháp là những thị trường lớn nhưng đã gần như bão hòa. Chỉ có một số thị trường ngách và một số nhóm sản phẩm nhất định còn có cơ hội tăng trưởng. Đây cũng là cơ hội cho các nước đang phát triển đẩy mạnh việc xuất khẩu rau xanh và thị trường châu Âu [33]. Tại các cửa hàng bán đồ châu Á và các khu chợ buôn bán ở một số thành phố lớn như Moscow, Berlin, Praha, Warsaw, London, Paris… những mớ rau muống, mùng tơi, cải xanh, rau bí, mướp, bầu, cùng rau thơm đủ loại: rau mùi, húng láng, húng chó, tía tô, kinh giới… được bầy bán khắp nơi, nhìn qua tưởng “thuần Việt”, nhưng thật ra được trồng tại chính các nước sở tại.
Nhu cầu sử dụng rau xanh của các nước trên thế giới ngày một tăng cao. Bảng theo dõi chi phí sinh hoạt các mặt hàng tiêu dùng hàng ngày của Mirror.uk cũng cho thấy người tiêu dùng tại Anh hiện đang phải chi thêm trung bình hơn 3% so với năm 2009 để mua rau xanh [37]. Nếu ở Việt Nam, các loại rau xanh bị coi là thực phẩm “bình dân”, nhà nào cũng có trong bữa cơm gia đình thì khi đã “định cư” ở trời Tây, lại được xem là món “sơn hào hải vị”. Điển hình nhất là rau muống, từ lúc nào đã trở thành mặt hàng rất hút khách ở các nước châu Âu và chỉ dành cho những gia đình khá giả.
Không chỉ người châu Á thích ăn rau muống, mà cả dân Tây cũng 4 download by : skknchat@gmail. Tùy theo mùa, rau muống ở Nga có giá dao động từ 4,5 - 10 USD 1kg; ở Đức là 7 USD, Praha 5 USD… Theo ủy ban Phát triển Thị trường Trái cây và Rau quả tại Kalimati ở Ấn Độ, tổng lượng rau các loại đưa ra thị trường đã lên đến 360 tấn/ngày bắt đầu từ 17/01/2010. Trước khi lễ hội, cung lượng trung bình hàng ngày của các mặt hàng nông sản trên thị trường vào khoảng 600 - 650 tấn/ngày. Với sự cải thiện nguồn cung cấp, giá các loại rau quan trọng đã liên tục giảm trên thị trường.
"Hầu hết các mặt hàng rau quả hiện đang được bán với giá thấp hơn so với giá đã ghi nhận một vài tuần trước đây", ông Ramesh Dangol, một quan chức của ủy ban cho biết. Theo tin từ ủy ban, giá cả của Cà chua lớn, khoai tây đỏ và khoai tây trắng giảm xuống lần lượt là 24 Rupi, 20 Rupi và 14 Rupi/kg từ các mức giá 26 Rupi, 22 Rupi và 16 Rupi/kg ghi nhận được trước đây hai tuần. Tương tự như vậy đối với một số loại rau khác như hành, súp lơ thường và súp lơ Tarai cũng được bán với giá lần lượt là 33 Rupi, 18 Rupi và 10 Rupi/kg, giảm từ 36 Rupi, 22 Rupi và 18 Rupi/kg tương ứng. Giá của tỏi Trung Quốc cũng giảm xuống còn 120 Rupi/kg từ 124 Rupi/kg trong khoảng thời gian này.
Tuy nhiên, giá của dưa chuột lại tăng từ 20 Rupi/kg lên 24 Rupi/kg [18] 1. Các nghiên cứu về vai trò và giá trị sử dụng các loài rau Cây rau xanh là thành phần quan trọng trong bữa ăn hàng ngày của nhân dân ta. Những câu nói “cơm không rau như đau không thuốc” hoặc “đói ăn rau, đau uống thuốc” đã được khẳng định tầm quan trọng, sự cần thiết của rau trong bữa ăn và trong đời sống của con người [4] Nhân dân ta có rất nhiều loại rau, phổ biến nhất trong bữa ăn hàng ngày là các loại rau cải, rau muống, rau ngót. đặc biệt người dân sống ở miền núi thường sử dụng các loài rau rừng như rau Dớn (Diplazium esculentum), rau Sắng (Meliantha suavis P.
Trong bữa ăn của người dân ta chỉ có hai loại thực phẩm (tính bằng gam) thường xuyên chiếm 3 con số là gạo và rau. Cơm rau cũng là thành ngữ quen thuộc và phổ biển ở Việt Nam. 5 download by : skknchat@gmail.com Khoa học dinh dưỡng đã phân tích và xác định trong rau quả hầu hết các chất dinh dưỡng cần thiết cho con người. Không những rau quả đã góp phần quan trọng và kịp thời chống đói ở những vùng đói thường xuyên hoặc bị thiên tai mà quan trọng hơn cả là vì rau là nguồn cung cấp chủ yếu vitamin, chất khoáng, chất xơ và một phần quan trọng chất đạm là những chất dinh dưỡng không thể thiếu đối với hoạt động sinh lý của cơ thể [4].
Rau là nguồn cung cấp nhiều chất dinh dưỡng cần thiết cho hoạt động bình thường của các chức phận sinh lý và sự chuyển hoá của các chất trong cơ thể. Lịch sử còn ghi lại 100 người trong số 160 thủy thủ của đoàn thám hiểm Vasco de Gama đi tìm đường sang phương Đông đã bị chết về bệnh scorbut, do chế độ ăn dài ngày trên biển thiếu Vitamin C. Lịch sử cũng ghi lại nhiều cuộc chiến tranh đã phải nhanh chóng kết thúc vì hàng vạn quân số của 2 bên đều bị bệnh thiếu vitamin, không còn sức chiến đấu [4]. Giá trị dinh dưỡng của rau cũng rất cao, nếu ăn mỗi ngày khoảng 300g rau rừng sẽ cung cấp cho cơ thể khoảng 70 - 80 calo và trên 10g protein đồng thời có thêm lượng vitamin C cần thiết cho cơ thể [4].
Ngày nay tuy là thời bình, thực phẩm đầy đủ nhưng vẫn còn nhiều người thiếu kiến thức về ăn uống hợp lý dẫn đến xảy ra một số bệnh như khô mắt do thiếu Vitamin A, tê phù do thiếu Vitamin B1. Thiếu Vitamin sẽ gây rất nhiều bệnh tật, ảnh hưởng đến sự phát triển của cơ thể, thường xuyên gây cho người ta cảm giác mệt mỏi, thiếu sức bền bỉ, năng suất lao động và công tác sút kém [4]. Theo Farmsworth et al và cộng sự vào năm 1985 có khoảng 119 hợp chất hóa học chiết suất từ thực vật bậc cao được sử dụng vào sản xuất thuốc trên toàn thế giới. Tổ chức y tế thế giới (WHO) ước tính là có 80% người dân ở các nước đang phát triển của thế giới hiện nay đang phụ thuộc vào các loại thuốc truyền thống để chữa bệnh và trong khoảng 85% các loại thuốc truyền thống đó có sử dụng các chiết xuất từ thực vật.
Rất nhiều nước trên thế giới quan tâm đầu tư nghiên cứu tìm các hợp chất mới từ thực vật như Trung Quốc, 6 download by : skknchat@gmail.com Nhật Bản, Mỹ, Đức, Ấn Độ. Trong thực tế các nghiên cứu như vậy chỉ được bắt đầu từ thế kỷ 19 và công nghệ cũng phát triển rất mạnh mẽ từ đó. Tại trung tâm Ung thư Quốc gia Hoa Kỳ đã kiểm tra rất nhiều loài thực vật để tìm kiếm chất ung thư, rất nhiều loài đã chứng tỏ có hoạt chất chống ung thư, một số hoạt chất đã được chiết xuất và nghiên cứu về cấu trúc để thử nghiệm chữa trị cho con người [18]. Tại Hồng Kông vào năm 1981 với dân số gần 5,7 triệu người, Hồng Kông có ít nhất 346 người bán cây cỏ làm thuốc và 1477 cửa hàng bán thuốc từ các loại cây cỏ, trong khi đó có 3362 thầy thuốc có đăng ký và 375 hiệu thuốc.
Hiệp hội các nhà thuốc Bắc ở đây có khoảng 5. Có thể nói Hồng Kông là một thị trường đông dược lớn nhất thế giới, nhập khẩu vượt con số 190 triệu đô la Mỹ mỗi năm. Chỉ có khoảng 70% các loại sản phẩm thảo dược đó là được sử dụng tại chỗ, còn 30% lại được tái xuất. Theo tính toán thì mỗi năm người dân nơi đây tiêu thụ khoảng 25 đô la Mỹ cho thuốc Bắc.
Đây mới chỉ là số liệu tính riêng cho Hồng Kông mà chưa hề đưa ra các số liệu cho cả Trung Quốc, một đất nước mà từ hàng nghìn năm qua người dân đã quen sử dụng thuốc dân tộc sản xuất từ thực vật để chữa bệnh [18]. Tại Nhật Bản hệ thống y học cổ truyền được gọi là Kampo là một dạng ứng dụng y học Trung Quốc. Thuốc dân tộc bao gồm các sản phẩm từ tự nhên, mà chủ yếu là các chiết xuất từ thực vật. Tổng chi phí cho các sản phẩm thuốc tại Nhật Bản là khoảng 8,3 tỉ đô la Mỹ trong năm 1986, song các loại thuốc dân tộc chỉ chiếm 12,5 triệu đô la Mỹ.
Vào năm 1984, tổng chi phí cho các loại thuốc đã lên tới 14,6 tỉ đô la Mỹ và chi phí cho thuốc dân tộc cũng tăng lên 150 triệu đô la Mỹ (Terasawa, 1986) [18]. Tonga Noweg và cộng sự (2003) nghiên cứu những loài cây làm rau lấy từ rừng của các cộng đồng trong khu vực Vườn quốc gia Crocker Range, Sabah, Malaysia cho thấy có đến 70,6% cộng đồng dân cư có lấy các loài rau từ rừng, 82% phụ nữ tham gia lấy các loại rau rừng phục vụ cho gia đình 18% vừa lấy để dùng vừa đem bán ở các chợ địa phương. 7 download by : skknchat@gmail.com Wang Guang-Yin và cộng sự (2002) nghiên cứu về khai thác và sử dụng nguồn tài nguyên rừng tại tỉnh Hà Nam, Trung Quốc, chỉ ra có tới 91 họ, 226 chi và 415 loài. Phân bố địa lý, sự khai thác và cách thức sử dụng được chỉ rõ và đặc tính của loài, đặc điểm sinh học, các phần có thể ăn được, thời gian thu hái và sinh cảnh của chúng cũng đề cập tới.
Tugba Bayrak Ozbucak và cộng sự đã nghiên cứu phân bố các loài cây ăn được ở vùng biển đen Thổ Nhĩ Kỳ cho thấy các loài cây ăn được rất phổ biến và được dân cư vùng này sử dụng thường xuyên, thống kê được có 52 loài cây ăn được thuộc trong 26 họ. Họ có số loài nhiều nhất là họ Lamiaceae (10 loài), tiếp theo là các họ Asteraceae (5loài), Apiaceae và Boraginaceae (4 loài), Liliaceae (3 loài), Orchidaceae và Polygonaceae (2 loài). Ở Thái Lan đã và đang phát triển các mô hình trồng cây rau Sắng (Melientha suavis) dưới tán các vườn cây ăn quả hay trong các mô hình nông lâm kết hợp nhằm nâng cao hiệu quả kinh tế trong sản xuất nông lâm nghiệp [18]. Rau quả là một trong 4 nhóm thực phẩm cần thiết để có một bữa ăn hợp lý.