Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu
Thị trường chứng khoán (TTCK) giữ vai trò là kênh huy động vốn trung và dài hạn quan trọng cho nền kinh tế, đồng thời là môi trường đầu tư tìm kiếm lợi nhuận của công chúng. Tại Việt Nam, sau hơn 20 năm hình thành và phát triển, TTCK đã đạt được tốc độ tăng trưởng vốn hóa nhanh nhưng vẫn là một thị trường mới nổi còn non trẻ, tiềm ẩn nhiều biến động rủi ro. Thực tiễn giai đoạn gần đây cho thấy thị trường chịu tác động mạnh mẽ trước các biến cố kinh tế vĩ mô toàn cầu cũng như trong nước, tiêu biểu như đại dịch Covid-19 và căng thẳng địa chính trị thế giới, dẫn tới những nhịp điều chỉnh sâu xen kẽ các chu kỳ tăng trưởng mạnh. Trước thực tế đó, việc phân tích định lượng tác động của các nhân tố kinh tế vĩ mô đến chỉ số chứng khoán đóng vai trò thiết thực đối với hoạt động đầu tư, tư vấn môi giới và hoạch định chính sách.
Khóa luận xác định các mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu cụ thể như sau:
- Làm rõ tác động của các nhân tố kinh tế vĩ mô đến thị trường chứng khoán Việt Nam trên cả phương diện lý luận và thực tiễn.
- Đo lường và phân tích thực nghiệm mối tương quan giữa chỉ số VN-Index với 6 biến số vĩ mô: lãi suất tái chiết khấu, tỷ lệ lạm phát, tỷ giá hối đoái USD/VND, giá dầu thế giới, giá vàng thế giới và chỉ số sản xuất công nghiệp (IIP).
- Hỗ trợ nhà đầu tư cá nhân hoàn thiện phương pháp phân tích vĩ mô phục vụ chiến lược giải ngân; giúp các công ty chứng khoán nâng cao chất lượng tư vấn và quản trị rủi ro; đồng thời cung cấp luận cứ thực nghiệm nhằm gợi xuất các chính sách kinh tế vĩ mô phù hợp cho Chính phủ và Ngân hàng Nhà nước.
- Đối tượng nghiên cứu: Các yếu tố kinh tế vĩ mô (lãi suất, lạm phát, tỷ giá hối đoái, giá dầu, giá vàng, chỉ số sản xuất công nghiệp) và sự tác động của các yếu tố này tới thị trường chứng khoán Việt Nam.
- Phạm vi nghiên cứu:
- Không gian: Thị trường chứng khoán Việt Nam, đại diện thông qua chỉ số giá cổ phiếu VN-Index tại Sở Giao dịch Chứng khoán Thành phố Hồ Chí Minh (HOSE).
- Thời gian: Giai đoạn 8 năm, từ tháng 01 năm 2014 đến tháng 12 năm 2021 với chuỗi dữ liệu tần suất tháng.
Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu
Nghiên cứu dựa trên hệ thống lý luận về thị trường chứng khoán và cơ chế truyền dẫn kinh tế vĩ mô. Về bản chất, TTCK là một định chế tài chính trực tiếp, nơi huy động các nguồn vốn tiết kiệm tạm thời nhàn rỗi trong xã hội để phân bổ vào hoạt động sản xuất kinh doanh thông qua việc phát hành và giao dịch các công cụ tài chính. Nghiên cứu phân tích các chức năng cốt lõi của TTCK (huy động vốn, tạo môi trường đầu tư, tạo thanh khoản, định giá doanh nghiệp, hỗ trợ thực thi chính sách vĩ mô) và 4 nguyên tắc hoạt động (cạnh tranh, công bằng, trung gian, tập trung).
Về mặt tác động kinh tế, tác giả xây dựng giả thuyết nghiên cứu dựa trên cơ chế truyền dẫn của từng biến số vĩ mô:
- Lạm phát (đo bằng CPI): Lạm phát tăng làm gia tăng chi phí sản xuất, xói mòn lợi nhuận doanh nghiệp và làm giảm sức mua của dòng tiền, thúc đẩy nhà đầu tư rút vốn hoặc chuyển sang kênh phòng hộ. Giả thuyết: Tác động ngược chiều (-).
- Lãi suất (lãi suất tái chiết khấu): Lãi suất tăng làm tăng chi phí vốn vay của doanh nghiệp niêm yết, đồng thời nâng cao sức hấp dẫn của kênh tiền gửi tiết kiệm, rút bớt dòng tiền trên TTCK. Giả thuyết: Tác động ngược chiều (-).
- Tỷ giá hối đoái (USD/VND): Tỷ giá tăng tạo lợi thế cho doanh nghiệp xuất khẩu nhưng gây bất lợi cho doanh nghiệp nhập khẩu và làm tăng rủi ro rút vốn của nhà đầu tư nước ngoài. Giả thuyết: Tác động không xác định (+)/(-).
- Giá vàng thế giới: Vàng đóng vai trò là tài sản trú ẩn an toàn, thường có xu hướng biến động nghịch chiều với thị trường tài sản rủi ro như chứng khoán trong các giai đoạn biến động kinh tế. Giả thuyết: Tác động ngược chiều (-).
- Giá dầu thế giới (Brent): Chi phí năng lượng tăng đẩy chi phí đầu vào của nền kinh tế lên cao, gây sức ép bán tháo lên thị trường cổ phiếu. Giả thuyết: Tác động ngược chiều (-).
- Chỉ số sản xuất công nghiệp (IIP): Thước đo sản lượng sản xuất thực tế; tăng trưởng IIP phản ánh hoạt động mở rộng kinh doanh hiệu quả của doanh nghiệp. Giả thuyết: Tác động cùng chiều (+).
Phương pháp nghiên cứu thực nghiệm được tiến hành theo quy trình kinh tế lượng chuỗi thời gian thông qua phần mềm EViews 10 và Excel 2016 với 5 bước:
- Xử lý dữ liệu: Thu thập 96 quan sát theo tháng (01/2014 – 12/2021) và chuyển đổi chuỗi số liệu sang dạng logarit tự nhiên để triệt tiêu hiện tượng phương sai thay đổi.
- Thống kê mô tả: Tính toán giá trị trung bình, trung vị, cực đại, cực tiểu và độ lệch chuẩn của các chuỗi dữ liệu.
- Kiểm định tính dừng và độ trễ: Sử dụng kiểm định nghiệm đơn vị Augmented Dickey-Fuller (ADF) trên chuỗi gốc và sai phân; xác định độ trễ tối ưu thông qua các tiêu chí SC, AIC, HQ.
- Kiểm định đồng liên kết Johansen và lựa chọn mô hình: Kiểm tra mối quan hệ dài hạn qua kiểm định Johansen và ước lượng hệ số điều chỉnh sai số (CointEq1). Khi kết quả kiểm định cho thấy giá trị tuyệt đối $|t\text{-statistic}| < 1,645$ (hệ số điều chỉnh sai số không có ý nghĩa thống kê, không tồn tại quan hệ dài hạn), nghiên cứu sử dụng mô hình tự hồi quy véc-tơ (VAR) của Christopher A. Sims để ước lượng mối quan hệ ngắn hạn thay vì mô hình VECM hoặc ARDL.
- Kiểm định chẩn đoán và phân tích mở rộng: Thực hiện kiểm định tự tương quan (Autocorrelation LM Test) và kiểm định phương sai sai số thay đổi (White Heteroskedasticity Test) nhằm bảo đảm không xảy ra hiện tượng hồi quy giả; phân tích hàm phản ứng đẩy (Impulse Response Functions) và phân rã phương sai (Variance Decomposition).
| Ký hiệu biến |
Tên biến số |
Cách tính toán |
Kỳ vọng tác động |
Nguồn dữ liệu |
| VNI |
Chỉ số VN-Index |
$\text{LVNI} = \ln(\text{VNI})$ |
Biến phụ thuộc |
CafeF |
| CPI |
Chỉ số giá tiêu dùng hàng tháng |
$\text{LCPI} = \ln(\text{CPI})$ |
(-) |
Vietstock Finance |
| INT |
Lãi suất tái chiết khấu hàng tháng |
$\text{LINT} = \ln(\text{INT})$ |
(-) |
Ngân hàng Nhà nước Việt Nam |
| GOLD |
Giá vàng thế giới hàng tháng |
$\text{LGOLD} = \ln(\text{GOLD})$ |
(-) |
Trading Economics |
| OIL |
Giá dầu Brent thế giới hàng tháng |
$\text{LOIL} = \ln(\text{OIL})$ |
(-) |
Trading Economics |
| USD |
Tỷ giá hối đoái USD/VND |
$\text{LUSD} = \ln(\text{USD})$ |
(+)/(-) |
Trading Economics |
| IIP |
Chỉ số sản xuất công nghiệp |
$\text{LIIP} = \ln(\text{IIP})$ |
(+) |
Vietstock Finance |
Nội dung chính theo từng chương
CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÍ LUẬN VỀ CÁC NHÂN TỐ VĨ MÔ VÀ MỐI QUAN HỆ VỚI THỊ TRƯỜNG CHỨNG KHOÁN
Chương 1 hệ thống hóa cơ sở lý luận về thị trường chứng khoán, phân tích bản chất định chế vốn trực tiếp, tính cạnh tranh, tính liên tục và tính thanh khoản của thị trường. Tác giả luận giải 5 chức năng kinh tế và 4 nguyên tắc hoạt động của TTCK. Đồng thời, chương này đi sâu phân loại lạm phát thành ba cấp độ (vừa phải dưới 10%/năm, phi mã 10% - 100%/năm, siêu lạm phát trên 100%/năm) và chỉ ra 4 nguyên nhân chủ yếu gây lạm phát (do tiền tệ, do cầu kéo, do chi phí đẩy và ngoại nhập).
Tác giả phân tích cơ chế truyền dẫn của lãi suất chiết khấu qua hai kênh: tác động trực tiếp lên chi phí vốn của doanh nghiệp và tác động gián tiếp thông qua chi tiêu tiêu dùng của cá nhân. Mối quan hệ giữa chứng khoán với tỷ giá, giá vàng, giá dầu và chỉ số IIP cũng được phân tích lý thuyết. Cuối chương, tác giả tổng quan các nghiên cứu thực nghiệm quốc tế (Humpe và Macmillan, 2009; Aisyah Abdul Rahman và cs, 2009; Mohammad và cs, 2009; Aman Srivastava, 2010; Godwin Chigozie Okpara, 2010; Mu-lan Wang và cs, 2010; Pal và Mittal, 2011; Pooja Misra, 2018) và các nghiên cứu tại Việt Nam (Khaled Hussainey và Lê Khánh Ngọc, 2009; Nguyễn Hữu Tuấn, 2011; Nguyễn Minh Kiều và cs, 2013; Nguyễn Thị Bảo Trân và cs, 2015; Bùi Kim Yến và Nguyễn Thái Sơn, 2014; Phan Ngọc Trung, 2016; Đỗ Thu Huyền, 2020,...), qua đó chỉ ra khoảng trống nghiên cứu khi các công trình trước chưa bao quát giai đoạn biến động đặc thù do đại dịch Covid-19.
CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG ẢNH HƯỞNG CỦA CÁC NHÂN TỐ VĨ MÔ TỚI THỊ TRƯỜNG CHỨNG KHOÁN VIỆT NAM GIAI ĐOẠN 2014 – 2021
Chương 2 phác họa bức tranh toàn cảnh về tiến trình phát triển của TTCK Việt Nam qua 4 giai đoạn lịch sử:
- Giai đoạn 2000 – 2005: HOSE đi vào hoạt động ngày 28/7/2000 với 2 mã cổ phiếu REE và SAM, quy mô vốn hóa 270 tỷ đồng. VN-Index từ mốc 100 điểm vượt 500 điểm vào tháng 6/2001 rồi suy giảm về vùng 130 – 300 điểm, vốn hóa thị trường chỉ đạt xấp xỉ 1% GDP. HNX được thành lập ngày 8/3/2005.
- Giai đoạn 2006 – 2009: Thị trường bùng nổ, VN-Index lập đỉnh 1170,67 điểm vào tháng 3/2007. Kết thúc năm 2009, VN-Index đạt 494,77 điểm; vốn hóa đạt 620 nghìn tỷ đồng (~38% GDP) với 457 doanh nghiệp niêm yết trên cả hai sàn.
- Giai đoạn 2010 – 2015: Thị trường biến động giằng co quanh mốc 600 điểm; năm 2015 đóng cửa tại 641,06 điểm (+14,92%), tổng giá trị giao dịch đạt hơn 617 nghìn tỷ đồng (-15,8% so với năm 2014).
- Giai đoạn 2016 – 2021: Từ 545 điểm đầu năm 2016, VN-Index tăng lên đỉnh 1211,34 điểm vào ngày 10/4/2018 rồi rơi về 888 điểm do chiến tranh thương mại Mỹ - Trung. Tháng 3/2020, dịch Covid-19 khiến VN-Index sụt giảm về đáy 649,1 điểm (31/3/2020), sau đó phục hồi mạnh lên 1103,87 điểm (+67% từ đáy). Năm 2021, VN-Index thiết lập đỉnh lịch sử 1500,82 điểm (25/11/2021) và kết năm tại 1494,4 điểm (+35%), thanh khoản bình quân đạt 25.950 tỷ đồng/phiên (+250%), số tài khoản mở mới đạt trên 4,3 triệu.
Phân tích diễn biến thực tế 6 biến vĩ mô giai đoạn 2014 – 2021 phản ánh rõ nét tương quan với thị trường:
- CPI: Tháng 6/2014, CPI tăng 1,38% khiến VN-Index giảm từ 621,88 xuống 559,23 điểm; tháng 10/2016 CPI tăng 0,83% đưa lạm phát chạm 4% khiến chính sách tiền tệ bị thắt chặt và VN-Index giảm 25 điểm; tháng 5/2017 CPI giảm 0,53% giúp thị trường tăng 8,6%; tháng 3/2020 CPI giảm 0,72% do giãn cách xã hội; bình quân năm 2021 tăng 1,84% - mức thấp nhất từ năm 2014.
- Lãi suất tái chiết khấu: Duy trì mức 4,5% (2014 – 2017); giảm về 4,25% vào tháng 7/2017; hạ tiếp xuống 4,0% từ ngày 16/9/2019. Năm 2020, Ngân hàng Nhà nước hạ lãi suất 3 lần (tháng 3 xuống 3,5%, tháng 5 xuống 3,0%, tháng 10 xuống 2,5%) và duy trì mức 2,5% suốt năm 2021 để kích thích kinh tế.
- Giá vàng thế giới: Biến động nghịch chiều rõ rệt; giảm về đáy 1068,25 USD/ounce cuối năm 2015; tăng lên 1522 USD/ounce tháng 8/2019 và chạm đỉnh lịch sử 1974,70 USD/ounce vào tháng 7/2020 khi đại dịch bùng phát.
- Giá dầu Brent: Năm 2014 giảm từ 106,4 USD/thùng xuống 48 USD/thùng; cuối 2015 chạm 27 USD/thùng; tháng 4/2020 sụt giảm xuống 20,3 USD/thùng; tháng 10/2021 tăng vọt lên 83,72 USD/thùng kéo theo nhịp điều chỉnh của VN-Index về 1340 điểm.
- Tỷ giá USD/VND: Tăng nhẹ và giữ ổn định; năm 2015 chạm 22480 do Trung Quốc phá giá nhân dân tệ 4,6%; tháng 3/2020 đạt đỉnh 23616 USD/VND; năm 2021 giảm 1,6% hỗ trợ thu hút vốn FII.
- Chỉ số IIP: Thường giảm vào tháng 2 và tăng mạnh vào tháng 3; tháng 3/2019 tăng 27,6% sau khi giảm 16,8% trong tháng 2; cả năm 2020 tăng 3,36% và năm 2021 tăng 4,82%.
CHƯƠNG 3: DỮ LIỆU VÀ MÔ HÌNH NGHIÊN CỨU
Chương 3 trình bày chi tiết quy trình xây dựng mô hình VAR và các kết quả thống kê mô tả 96 quan sát (giai đoạn 2014 – 2021). Số liệu logarit tự nhiên cho thấy chỉ số VN-Index (LVNI) có giá trị trung bình là 6,697002 (tương đương 844,58 điểm), giá trị thấp nhất là 6,301244 (545,25 điểm) và cao nhất là 7,312073 (1498,28 điểm), độ lệch chuẩn đạt 0,2838.
| Dữ liệu |
VNI (Điểm) |
CPI (%) |
INT (%) |
GOLD (USD/oz) |
OIL (USD/thùng) |
USD (VND) |
IIP (%) |
| Trung bình |
844,58 |
100,09 |
4,00 |
1391,00 |
62,62 |
22574,88 |
101,76 |
| Giá trị nhỏ nhất |
545,25 |
98,46 |
2,50 |
1068,25 |
22,54 |
21035,00 |
77,70 |
| Giá trị lớn nhất |
1498,28 |
101,52 |
5,00 |
1974,70 |
110,64 |
23616,00 |
127,60 |
| Độ lệch chuẩn (chuỗi Log) |
0,2838 |
0,004458 |
0,21625 |
0,1800 |
0,30579 |
0,0150 |
0,084297 |
Chuỗi LCPI có độ lệch chuẩn thấp nhất (0,004458), dao động từ mức 98,46% (tháng 4/2020) đến 101,52% (tháng 2/2021). Biến LOIL có độ biến động lớn nhất khi giá dầu Brent chênh lệch gấp 5 lần (từ 22,54 lên 110,64 USD/thùng, độ lệch chuẩn 0,30579). Biến LINT ghi nhận mức cao nhất 5% (tháng 1/2014) và thấp nhất 2,5% (tháng 10/2020). Tỷ giá USD/VND biến động ổn định với độ lệch chuẩn 0,015. Chỉ số IIP biến động mạnh giữa tháng thấp nhất (giảm 22,3%) và tháng cao nhất (tăng 27,6%).
CHƯƠNG 4: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU
Chương 4 thực hiện các bước kiểm định kinh tế lượng:
- Kiểm định tính dừng ADF: Chuỗi dữ liệu gốc không dừng ở bậc I(0), nhưng sau khi lấy sai phân bậc 1, các biến đều có tính dừng ở bậc I(1) với mức ý nghĩa 1%, 5%, 10%.
- Xác định độ trễ: Các tiêu chuẩn SC, AIC và HQ được sử dụng để xác định độ trễ tối ưu cho mô hình.
- Kiểm định Johansen và lựa chọn mô hình: Kết quả kiểm định đồng liên kết Johansen và ước lượng hệ số điều chỉnh sai số CointEq1 cho thấy giá trị tuyệt đối $|t\text{-statistic}| < 1,645$. Do đó, hệ số điều chỉnh sai số không có ý nghĩa thống kê, chứng minh không tồn tại mối quan hệ cân bằng dài hạn giữa VN-Index và các biến số vĩ mô trong giai đoạn 2014 – 2021. Tác giả chuyển sang sử dụng mô hình VAR để đánh giá tác động ngắn hạn.
- Kiểm định tính phù hợp: Kiểm định Autocorrelation LM Test và White Heteroskedasticity Test đều cho giá trị P-value > 0,05, khẳng định mô hình VAR không vi phạm hiện tượng tự tương quan và phương sai sai số thay đổi.
- Hàm phản ứng xung và phân rã phương sai: Phân tích phản ứng của VN-Index trước các cú sốc từ giá vàng, giá dầu, tỷ giá, lạm phát, lãi suất và IIP qua các bước thời gian, đồng thời đo lường tỷ lệ đóng góp phương sai sai số dự báo của từng biến số đối với biến động của VN-Index.
CHƯƠNG 5: KIẾN NGHỊ VÀ GIẢI PHÁP
Trên cơ sở kết quả nghiên cứu thực nghiệm, chương này đề xuất 3 nhóm giải pháp chính sách vĩ mô:
- Chính sách kiểm soát lạm phát: Kết hợp linh hoạt chính sách tiền tệ và tài khóa; giám sát chặt chẽ biến động giá năng lượng và các mặt hàng tiêu dùng thiết yếu nhằm giữ chỉ số CPI bình quân ổn định quanh ngưỡng mục tiêu.
- Chính sách lãi suất: Sử dụng công cụ lãi suất tái chiết khấu hợp lý nhằm hỗ trợ doanh nghiệp tiếp cận nguồn vốn rẻ để phục hồi sản xuất, đồng thời kiểm soát dòng tiền tín dụng chảy vào các kênh đầu tư đầu cơ rủi ro.
- Chính sách tỷ giá: Điều hành tỷ giá trung tâm theo diễn biến thị trường, gia tăng dự trữ ngoại hối để giữ giá trị đồng nội tệ ổn định, giảm thiểu rủi ro rút vốn của khối ngoại và hỗ trợ cân bằng hoạt động xuất nhập khẩu.
Kết quả và đóng góp nghiên cứu
Khóa luận đưa ra các kết quả định lượng cụ thể:
- Thống kê mô tả chỉ ra sự phân hóa lớn về biên độ biến động giữa các yếu tố vĩ mô: CPI là biến số ổn định nhất với độ lệch chuẩn logarit chỉ 0,004458, trong khi giá dầu Brent biến động mạnh nhất với độ lệch chuẩn 0,30579 (chênh lệch giữa mức đáy 22,54 USD/thùng và đỉnh 110,64 USD/thùng là gần 5 lần).
- Kiểm định Johansen và kiểm tra hệ số điều chỉnh sai số khẳng định không có bằng chứng thống kê về mối quan hệ đồng liên kết dài hạn giữa 6 nhân tố kinh tế vĩ mô và chỉ số VN-Index trong chuỗi dữ liệu 2014 – 2021 ($|t\text{-statistic}| < 1,645$). Mối quan hệ giữa các biến số chủ yếu diễn ra trong ngắn hạn và được phản ánh phù hợp qua mô hình VAR.
- Mô hình VAR vượt qua các kiểm định chẩn đoán khuyết tật (kiểm định tự tương quan LM và kiểm định phương sai sai số thay đổi White đều có P-value > 0,05), bảo đảm độ tin cậy của các suy luận thống kê.
- Về mặt giải pháp, tác giả hệ thống hóa các khuyến nghị điều hành đối với ba công cụ chính sách vĩ mô trọng yếu (lạm phát, lãi suất tái chiết khấu, tỷ giá) nhằm tạo nền tảng ổn định cho TTCK phát triển bền vững.
- Về mặt đóng góp so với các nghiên cứu trước: Khóa luận đã cập nhật chuỗi dữ liệu đến hết năm 2021 (96 quan sát), bao quát trọn vẹn hai sự kiện kinh tế lớn có tác động sâu rộng là cuộc chiến thương mại Mỹ - Trung (2018 – 2019) và đại dịch Covid-19 (2020 – 2021) – những giai đoạn mà các nghiên cứu trước đây tại Việt Nam chưa phản ánh được.
Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp
Khóa luận tập trung đánh giá biến động ở cấp độ chỉ số toàn thị trường (VN-Index) mà chưa đi sâu phân tích tác động vĩ mô tới từng nhóm ngành niêm yết cụ thể (như ngân hàng, bất động sản, dầu khí, xuất nhập khẩu). Bên cạnh đó, mô hình thực nghiệm dừng lại ở việc lượng hóa mối quan hệ ngắn hạn do chuỗi dữ liệu giai đoạn 2014 – 2021 không ghi nhận quan hệ đồng liên kết dài hạn.
Hướng nghiên cứu tiếp theo có thể mở rộng kiểm định tác động của các biến số vĩ mô đối với các chỉ số ngành hoặc phân loại cổ phiếu theo quy mô vốn hóa (VN30, Midcap, Smallcap), đồng thời kéo dài chuỗi dữ liệu và áp dụng các mô hình phi tuyến tính để đánh giá tính bất đối xứng trong phản ứng của thị trường trước các cú sốc kinh tế.
Giá trị tham khảo
Khóa luận là nguồn tài liệu hữu ích cho:
- Sinh viên, học viên chuyên ngành Tài chính - Ngân hàng, Kinh tế học ứng dụng tham khảo phương pháp xử lý dữ liệu chuỗi thời gian, quy trình kiểm định tính dừng ADF, kiểm định đồng liên kết Johansen và quy trình hồi quy mô hình VAR trên phần mềm EViews.
- Các chuyên viên phân tích vĩ mô, chuyên viên tư vấn đầu tư tại các công ty chứng khoán và quỹ đầu tư tham khảo cơ sở dữ liệu thực nghiệm về mối tương quan giữa biến số vĩ mô và VN-Index giai đoạn 2014 – 2021.
- Phần nội dung đáng tham khảo nhất là Chương 2 (hệ thống hóa số liệu thực tế về các mốc biến động vĩ mô song hành cùng VN-Index) và Chương 3 (quy trình 5 bước xây dựng mô hình thực nghiệm và xử lý khuyết tật mô hình).
Câu hỏi thường gặp
1. Vì sao tác giả lựa chọn mô hình VAR thay vì mô hình VECM hay ARDL?
Trong quy trình kiểm định đồng liên kết Johansen, tác giả thực hiện ước lượng hệ số điều chỉnh sai số (CointEq1). Do giá trị tuyệt đối của kiểm định $t$ nhỏ hơn 1,645 ($|t\text{-statistic}| < 1,645$), hệ số điều chỉnh sai số không có ý nghĩa thống kê, chứng minh VN-Index không tồn tại mối quan hệ dài hạn với các biến vĩ mô trong giai đoạn 2014 – 2021. Do đó, mô hình VAR được lựa chọn để phân tích tương quan ngắn hạn thay cho VECM và ARDL.
2. Trong giai đoạn 2014 – 2021, biến số vĩ mô nào có mức biến động thấp nhất và cao nhất?
Theo kết quả thống kê mô tả tại Chương 3, chỉ số giá tiêu dùng CPI là biến biến động ít nhất với độ lệch chuẩn chuỗi logarit chỉ 0,004458 (biên độ dao động từ 98,46% đến 101,52%). Ngược lại, giá dầu Brent biến động mạnh nhất với độ lệch chuẩn 0,30579 (giá thấp nhất đạt 22,54 USD/thùng, giá cao nhất đạt 110,64 USD/thùng, chênh lệch gần 5 lần).
3. Ngân hàng Nhà nước đã điều chỉnh lãi suất tái chiết khấu như thế nào trong năm 2020 để ứng phó với Covid-19?
Trong năm 2020, Ngân hàng Nhà nước đã thực hiện 3 lần hạ lãi suất tái chiết khấu: ngày 17/03/2020 giảm từ 4,0%/năm xuống 3,5%/năm; ngày 13/05/2020 giảm tiếp xuống 3,0%/năm; và ngày 01/10/2020 hạ về mức 2,5%/năm. Mức lãi suất 2,5% này tiếp tục được duy trì xuyên suốt cho đến hết năm 2021.
4. Mô hình VAR trong nghiên cứu đã được kiểm tra những khuyết tật kinh tế lượng nào?
Tác giả đã thực hiện hai kiểm định chẩn đoán quan trọng gồm: kiểm định tự tương quan (Autocorrelation LM Test) và kiểm định phương sai sai số thay đổi (White Heteroskedasticity Test). Kết quả cả hai kiểm định đều cho giá trị P-value lớn hơn 0,05, cho thấy mô hình không tồn tại khuyết tật tự tương quan hay phương sai sai số thay đổi, đảm bảo hồi quy không bị giả.
5. Đóng góp nổi bật về phạm vi dữ liệu của khóa luận so với các nghiên cứu trước là gì?
Khóa luận đã cập nhật chuỗi số liệu theo tháng kéo dài 8 năm đến tháng 12/2021 (96 quan sát), phản ánh trọn vẹn tác động của hai sự kiện kinh tế lớn là cuộc chiến thương mại Mỹ - Trung (2018 – 2019) và đại dịch Covid-19 (2020 – 2021) – giai đoạn mà các nghiên cứu trước đó chưa bao quát được.
Kết luận
Khóa luận tốt nghiệp của tác giả Nguyễn Thị Hằng đã làm rõ cơ chế tác động của 6 biến số kinh tế vĩ mô đến chỉ số VN-Index của thị trường chứng khoán Việt Nam giai đoạn 2014 – 2021. Bằng quy trình kinh tế lượng thực nghiệm chặt chẽ, nghiên cứu đã chứng minh giữa các yếu tố vĩ mô và VN-Index không tồn tại quan hệ đồng liên kết dài hạn, từ đó sử dụng mô hình VAR để lượng hóa các tương tác ngắn hạn và kiểm định phản ứng trước cú sốc. Kết quả nghiên cứu cung cấp bức tranh thực nghiệm đáng tin cậy về thị trường trong các giai đoạn biến cố kinh tế phức tạp, mang lại giá trị tham khảo hữu ích cho công tác quản trị rủi ro đầu tư và hoạch định chính sách điều hành vĩ mô.