CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÍ LUẬN VỀ CÁC NHÂN TỐ VĨ MÔ VÀ MỐI QUAN HỆ VỚI THỊ TRƯỜNG CHỨNG KHOÁN 1. Bản chất và đặc điểm của thị trường chứng khoán 1. Bản chất của thị trường chứng khoán TTCK là nơi phát hành giao dịch mua bán, trao đổi các loại cổ phiếu chứng khoán và được thực hiện chủ yếu tại sở giao dịch chứng khoán hoặc thông qua các công ty môi giới chứng khoán (FiinGroup, 2020). Về bản chất, TTCK là một định chế tài chính trực tiếp, nơi tập trung phân phối các nguồn vốn tiết kiệm hoặc tạm thời nhàn rỗi, nơi giao dịch các công cụ tài chính của thị trường vốn.
Việc mua bán này được tiến hành ở thị trường sơ cấp khi người mua mua được chứng khoán lần đầu từ những người phát hành, và ở những thị trường thứ cấp khi có sự mua đi bán lại các chứng khoán đã được phát hành ở thị trường sơ cấp. Như vậy, về cơ bản TTCK là nơi trao đổi, mua bán, chuyển nhượng các loại chứng khoán được thực hiện giữa các cá nhân hoặc tổ chức theo các quy tắc và luật được ban hành. Đặc điểm của thị trường chứng khoán TTCK có một số đặc điểm chính sau đây: - Là phương thức cung cấp và huy động vốn trực tiếp, người có vốn nhàn rỗi và người có nhu cầu vốn trực tiếp tham gia thị trường mà không thông qua trung gian tài chính như ngân hàng. - Là thị trường gần với thị trường cạnh tranh hoàn hảo với sự tham gia của nhiều người mua và bán; giá hình thành trên cơ sở quan hệ cung - cầu.
- Là thị trường vừa gắn với hình thức tài chính dài hạn, vừa gắn với hình thức tài chính ngắn hạn Nhìn chung, TTCK là thị trường liên tục khi các chứng khoán thường xuyên được mua bán nhiều lần trên thị trường thứ cấp sau khi đã được phát hành trên thị trường sơ cấp. Chức năng và nguyên tắc hoạt động của thị trường chứng khoán 1. Chức năng của thị trường chứng khoán Là sản phẩm cao cấp của nền kinh tế hiện đại, tuy chưa có lịch sử lâu đời nhưng qua hoạt động thực tiễn, TTCK đã khẳng định vai trò quan trọng của nó trong nền kinh tế. Vai trò của thị trường chứng khoán được thể hiện qua các chức năng sau: Thứ nhất, huy động vốn đầu tư cho nền kinh tế Khi các nhà đầu tư mua chứng khoán do các công ty phát hành, số tiền nhàn rỗi của họ được đưa vào hoạt động sản xuất kinh doanh và qua đó góp phần mở rộng sản xuất xã hội.
Thông qua TTCK, Chính phủ và chính quyền ở các địa phương cũng huy động được các nguồn vốn cho mục đích sử dụng và đầu tư phát triển hạ tầng kinh tế, phục vụ các nhu cầu chung của xã hội. Thứ hai, cung cấp môi trường đầu tư cho công chúng TTCK cung cấp cho công chúng một môi trường đầu tư lành mạnh với các cơ hội lựa chọn phong phú. Các loại chứng khoán trên thị trường rất khác nhau về tính chất, thời hạn và độ rủi ro, cho phép các nhà đầu tư có thể lựa chọn loại hàng hoá phù hợp với khả năng, mục tiêu và sở thích của mình. Thứ ba, tạo tính thanh khoản cho các chứng khoán Nhờ có TTCK các nhà đầu tư có thể chuyển đổi các chứng khoán họ sở hữu thành tiền mặt hoặc các loại chứng khoán khác khi họ muốn.
Khả năng thanh khoản là một trong những đặc tính hấp dẫn của chứng khoán đối với người đầu tư. Đây là yếu tố cho thấy tính linh hoạt, an toàn của vốn đầu tư. TTCK hoạt động càng năng động và có hiệu quả thì tính thanh khoản của các chứng khoán giao dịch trên thị trường càng cao. Thứ tư, đánh giá hoạt động của doanh nghiệp Thông qua chứng khoán, hoạt động của các doanh nghiệp được phản ánh một cách tổng hợp và chính xác, giúp cho việc đánh giá và so sánh hoạt động của doanh nghiệp được nhanh chóng và thuận tiện, từ đó cũng tạo ra một môi trường cạnh tranh lành mạnh nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng vốn, kích thích áp dụng công nghệ mới, cải tiến sản phẩm.
Thứ năm, tạo môi trường giúp Chính phủ thực hiện các chính sách kinh tế vĩ mô Các chỉ báo của TTCK phản ánh động thái của nền kinh tế một cách nhạy bén và chính xác. TTCK tăng lên cho thấy đầu tư đang mở rộng, nền kinh tế tăng 11 trưởng; ngược lại TTCK giảm sẽ cho thấy các dấu hiệu tiêu cực của nền kinh tế. Vì thế, TTCK chính là biểu hiện của một nền kinh tế và là một công cụ quan trọng giúp Chính phủ thực hiện các chính sách kinh tế vĩ mô. Thông qua TTCK, Chính phủ có thể mua và bán Trái phiếu chính phủ để tạo ra nguồn thu bù đắp thâm hụt ngân sách và quản lý lạm phát.
Ngoài ra, Chính phủ cũng có thể sử dụng một số chính sách, biện pháp tác động vào TTCK nhằm định hướng đầu tư đảm bảo cho sự phát triển cân đối của nền kinh tế. Các nguyên tắc hoạt động của thị trường chứng khoán Thứ nhất, nguyên tắc cạnh tranh Theo nguyên tắc này, giá cả trên TTCK phản ánh quan hệ cung cầu về chứng khoán và thể hiện tương quan cạnh tranh giữa các công ty. Trên thị trường sơ cấp, các nhà phát hành cạnh tranh với nhau để bán chứng khoán của mình cho các nhà đầu tư, các nhà đầu tư được tự do lựa chọn các chứng khoán theo các mục tiêu của mình. Trên thị trường thứ cấp, các nhà đầu tư cũng cạnh tranh tự do để tìm kiếm cho mình một lợi nhuận cao nhất, và giá cả được hình thành theo phương thức đấu giá.
Thứ hai, nguyên tắc công bằng Công bằng có nghĩa là mọi người tham gia thị trường đều phải tuân thủ những quy định chung, được bình đẳng trong việc chia sẻ thông tin và trong việc gánh chịu các hình thức xử phạt nếu vi phạm vào những quy định đó. Thứ ba, nguyên tắc trung gian Nguyên tắc giao dịch qua trung gian được hiểu là trên thị trường chứng khoán các giao dịch của nhà đầu tư được thực hiện thông qua các tổ chức trung gian mà chủ yếu là qua các công ty chứng khoán. Thứ tư, nguyên tắc tập trung Các giao dịch chứng khoán chỉ diễn ra trên sở giao dịch và trên thị trường OTC dưới sự kiểm tra giám sát của cơ quan quản lý nhà nước và các tổ chức tự quản. Các nhân tố kinh tế vĩ mô tác động đến thị trường chứng khoán 1.
Lạm phát Lạm phát là sự tăng mức giá chung một cách liên tục của hàng hóa và dịch vụ theo thời gian và sự mất giá trị của một loại tiền tệ nào đó (Lê Minh Trường, 2022). Khi mức giá chung tăng cao, một đơn vị tiền tệ sẽ mua được ít hàng hóa và dịch vụ hơn so với trước đây, do đó lạm phát phản ánh sự suy giảm sức mua trên một đơn vị tiền tệ. 12 * Phân loại lạm phát Do biểu hiện đặc trưng của lạm phát là sự tăng lên của giá cả hàng hóa, nên các nhà kinh tế thường dựa vào tỉ lệ tăng giá để làm căn cứ phân loại lạm phát ra làm ba mức độ khác nhau: - Lạm phát vừa phải: Loại lạm phát một con số, tỉ lệ tăng giá thấp dưới 10%/năm. Đồng tiền mất giá không lớn, chưa ảnh hưởng nhiều đến sản xuất kinh doanh, mọi người vẫn sẵn sàng giữ tiền để thực hiện giao dịch trên TTCK.
Loại lạm phát này thường được các nước duy trì như một chất xúc tác để thúc đẩy nền kinh tế phát triển. - Lạm phát cao (lạm phát phi mã): Loại lạm phát hai hay ba con số, tức trong khoảng 10% - 100%/năm. Lạm phát phi mã trong một thời gian dài sẽ gây những biến dạng kinh tế nghiêm trọng, đồng tiền mất giá nhanh, gây ảnh hưởng rất lớn đến TTCK. Cụ thể, lạm phát cuối năm 2007 lên đến hai con số là 12,6% và khoảng đầu năm 2008 là 23% đã tác động rất lớn đến TTCK, giá cổ phiếu tuột dốc trong một thời gian dài làm cho các doanh nghiệp và các nhà đầu tư rơi vào tình trạng khó khăn.
- Siêu lạm phát: Lạm phát trên ba con số, tức tỉ lệ lạm phát lên đến hàng ngàn %, người ta ví nó như một căn bệnh ung thư chết người, có tác động rất lớn đến nền kinh tế cũng như là TTCK, bị chìm trong sự khủng hoảng vì khi đó tiền tệ không thực hiện chức năng trao đổi vì không ai muốn bán hàng để nhận lấy những đồng tiền vô giá trị. * Nguyên nhân gây ra lạm phát Giá cả lạm phát tăng cao ở nước ta thường do nhiều nguyên nhân khác nhau và mỗi nguyên nhân lại chiếm ưu thế trong từng thời kỳ nhất định: - Lạm phát do tiền tệ: là một lượng cung tiền lớn được đưa vào lưu thông, do NHTW tung nội tệ ra để mua ngoại tệ vào để giữ cho ngoại tệ khỏi mất giá so với trong nước, hay do chính phủ thực hiện chính sách nới lỏng tiền tệ, lúc này tiền được bơm ra để giúp vốn cho các DN, hoặc Chính phủ in tiền để bù đắp khoản thâm hụt ngân sách của mình. - Lạm phát do cầu kéo: xảy ra khi mức tổng cầu tăng trong khi tổng cung không thay đổi hay nhanh hơn so với mức cung. Lúc đó một lượng tiền lớn được 13 dùng để mua một lượng hàng hóa không tương xứng làm cho giá cả tăng lên.
Chênh lệch giữa cung cầu càng lớn thì giá càng tăng nhiều. - Lạm phát do chi phí đẩy: xảy ra do tăng chi phí và có thể phát triển ngay cả khi thất nghiệp và việc sử dụng nguồn lực thấp. Vì tiền lương (tiền công) thường là chi phí sản xuất quan trọng nhất, sự gia tăng tiền lương không phù hợp với tăng trưởng năng suất có thể khơi mào cho quá trình lạm phát vì lúc này để đảm bảo mức lợi nhuận, các xí nghiệp tăng giá thành sản phẩm làm cho mức giá chung của toàn nền kinh tế tăng lên. - Lạm phát “ngoại nhập”: do giá các sản phẩm trên thị trường thế giới tăng ảnh hưởng đến giá sản phẩm trong nước.
Ngoài bốn nguyên nhân trên, còn có một nhân tố khác góp phần tăng áp lực lên lạm phát đó là đầu cơ, cố tình làm tăng giá để thu lợi. * Tác động của lạm phát đến TTCK Khi lạm phát xảy ra, giá cả của nền kinh tế tăng lên, được biểu hiện qua chỉ số giá tiêu dùng CPI.