chương 1, đề tài đã trình bày một cách tổng quan về các nghiên cứu tiêu biểu ở cả trong và ngoài nước liên quan đến mối quan hệ giữa các thông tin trên BCTC (mức độ CBTT và hiệu quả tài chính) và giá cổ phiếu. Qua việc nghiên cứu sơ bộ các nghiên cứu liên quan, tác giả đã xác định những khe hổng trong các nghiên cứu cũng như kế thừa các công trình nghiên cứu trước để làm nền tảng thực hiện đề tài. CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ MỨC ĐỘ CÔNG BỐ THÔNG TIN, HIỆU QUẢ TÀI CHÍNH VÀ GIÁ CỔ PHIẾU TRÊN THỊ TRƯỜNG CHỨNG KHOÁN 2.1 Các lý thuyết giải thích công bố thông tin của tổ chức 2.1 Lý thuyết về tính hợp pháp (Legitimacy theory) Lý thuyết về tính hợp pháp là lý thuyết mà trong thập kỷ qua ngày càng được các nhà nghiên cứu sử dụng, đặc biệt là các nhà nghiên cứu làm việc trong lĩnh vực kế toán, xã hội và môi trường. Lý thuyết này cho rằng các tổ chức luôn tìm cách để bảo đảm các hoạt động của tổ chức phù hợp với phạm vi và chuẩn mực của xã hội (Nguyễn Công Phương và Nguyễn Thị Hà My, 2018) và nhấn mạnh rằng tính hợp pháp của tổ chức có thể được coi là một nguồn lực mà nhiều tổ chức phụ thuộc vào để tồn tại.
Lý thuyết về tính hợp pháp bắt nguồn từ lý thuyết kinh tế chính trị và do đó chấp nhận rằng một tổ chức là một phần của hệ thống xã hội rộng lớn hơn - một hệ thống trong đó tổ chức vừa tác động, vừa bị ảnh hưởng bởi xã hội mà tổ chức đó hoạt động. Tổ chức có thể áp dụng các chiến lược để đạt được và duy trì trạng thái hợp pháp. Trọng tâm của những chiến lược này là vai trò của công bố thông tin doanh nghiệp (Craig Deegan, 2006).2 Lý thuyết đại diện (Agency Theory) Lý thuyết đại diện tìm hiểu các vấn đề được tạo ra khi một người đại diện đang cam kết thực hiện một vài dịch vụ cho người khác (chủ sở hữu, người ủy thác). Nhằm hạn chế mâu thuẫn giữa mối quan hệ này, người đại diện có nghĩa vụ phải giải trình, công bố thông tin về tổ chức mà họ đã thực hiện cho chủ sở hữu.
Bằng cách hướng dẫn người đại diện thực hiện công việc hoàn hảo nhất có thể cho người ủy thác, tiêu chuẩn ủy thác giúp giải quyết những tình huống khó xử về thể chế trong việc đảm bảo hành vi đáng tin cậy (Mitnick, 2015). Trong khi (những) người ủy thác và (những) người đại diện được giả định là khác nhau về thông tin về các đặc điểm của các tác nhân hoặc hành động của họ, lý thuyết giả định rằng mỗi bên sử dụng đầy đủ thông tin có sẵn cho mình trong việc thiết kế hợp đồng và trong việc quyết định cách hành động tương ứng. Do đó, lý thuyết đại diện - trái ngược với kinh tế học về chi phí giao dịch (Linder, S.3 Lý thuyết tín hiệu (Signalling Theory) Lý thuyết tín hiệu rất hữu ích khi mô tả hành vi của hai bên (cá nhân hoặc tổ chức) có quyền truy cập thông tin khác nhau. Lý thuyết tín hiệu lập luận rằng thông tin không cân xứng giữa người quản lý và nhà đầu tư dẫn đến sự lựa chọn bất lợi cho nhà đầu tư (Nguyễn Công Phương và Nguyễn Thị Hà My, 2018).
Vẫn còn tồn tại khoảng cách giữa thông tin mà nhà quản trị có thể cung cấp và thông tin mà nhà đầu tư mong đợi nhận được. Lý thuyết này giả định rằng các nhà quản lý doanh nghiệp biết nhiều hơn về chất lượng công ty họ hơn là các nhà đầu tư bên ngoài (Papaioannou, G.Theo Allen và Faulhaber (1989), các công ty chất lượng cao đánh đổi khoản lỗ do định giá thấp để được thị trường đánh giá tốt hơn sau khi họ tiết lộ chất lượng thông tin của mình thông qua các thông báo về thu nhập và cổ tức. Các nhà đầu tư phản ứng với những thông báo này bằng cách đánh giá lại vốn chủ sở hữu của công ty một cách tích cực hơn. Để hạn chế sự bất đối xứng thông tin, các doanh nghiệp cần truyền tải thông điệp tích cực hơn đến nhà đầu tư, tìm hiểu thông tin mà nhà đầu tư muốn có khi phân tích tình hình tài chính của doanh nghiệp.
Nguyên tắc công bố thông tin hướng đến việc cung cấp thông tin phù hợp, đáng tin cậy và đầy đủ để các bên liên quan có thể đưa ra các quyết định hợp lý (Okolie, A. Hiệu quả tài chính công ty (Corporate financial performance - CFP) 2.1 Định nghĩa Hiệu quả tài chính là thước đo chủ quan về việc một công ty có thể sử dụng tài sản tốt như thế nào từ phương thức kinh doanh chính và tạo ra doanh thu, được sử dụng như thước đo chung về sức khỏe tài chính tổng thể của công ty trong một khoảng thời gian nhất định. Các nhà quản lý và nhà đầu tư sử dụng hiệu quả tài chính để so sánh các công ty tương tự trong cùng ngành. CFP xác định mức độ hiệu quả của một công ty trong việc tạo ra doanh thu và quản lý tài sản, nợ phải trả và lợi ích tài chính của các bên liên quan.
Hơn nữa, nhà phân tích hoặc nhà đầu tư có thể muốn xem xét sâu hơn các báo cáo tài chính và tìm kiếm tỷ lệ tăng trưởng lợi nhuận hoặc bất kỳ khoản nợ giảm nào. Hiệu quả tài chính là một trong những đặc điểm chính, xác định khả năng cạnh tranh, tiềm năng kinh doanh và lợi ích kinh tế của ban quản lý và độ tin cậy của các nhà đầu tư trong tương lai. Theo Keown (2010), mục tiêu chính của quản lý tài chính là tối đa hóa tài sản của cổ đông. Hành vi thị trường tài chính phải được sử dụng trong việc thiết lập các mục tiêu của công ty nhằm bảo vệ lợi ích của các cổ đông.
Các cổ đông sẽ được thưởng dựa trên các khoản đầu tư góp vốn của họ nếu hiệu quả tài chính tốt. Đo lường hiệu quả tài chính Nhiều nhà nghiên cứu sử dụng thước đo thị trường (Alexander và Buchholz, 1978; Vance, S., 1975), những người khác đưa ra các biện pháp đo lường dựa trên kế toán (Waddock và Graves 1997; Cochran và Wood 1984) và một số áp dụng cả hai phương pháp (McGuire, J. Hạn chế của việc đo lường hiệu quả tài chính bằng các chỉ số tài chính là chỉ phản ánh dữ liệu lịch sử (McGuire, Schneeweis & Hill, 1986). Thứ hai, dữ liệu có thể sai lệch hay bị thiên vị do chính sách kế toán và đặc điểm kinh doanh khác nhau giữa những doanh nghiệp khác nhau.
Các thước đo thị trường hướng đến tương lai và tập trung vào hiệu suất thị trường, đánh giá khả năng của một công ty để tạo ra thu nhập kinh tế trong tương lai. Hai phương pháp đại diện cho sự khác biệt về quan điểm về cách đánh giá hiệu quả tài chính của một công ty nào đó. Cho đến nay, một số mô hình đã được đề xuất và sử dụng để phân tích các chỉ tiêu tài chính và đánh giá hiệu suất (Heidary Dahooie et al. Theo Keown (2010), tỷ số tài chính là một cách để so sánh dữ liệu tài chính của công ty có ý nghĩa hơn.
Có thể so sánh giữa một bộ phận với các bộ phận trong một báo cáo hoặc giữa các bộ phận tồn tại giữa các báo cáo tài chính. Khi đó các số được so sánh có thể ở dạng số trong một kỳ hoặc nhiều kỳ khác nhau. Nhóm tác giả đã đã chọn cách đo lường hiệu quả tài chính dựa vào các thước đo của kế toán đó là tỷ số tài chính. Hiệu quả tài chính có thể được đo lường thông qua các thước đo tài chính khác nhau như lợi nhuận sau thuế, lợi nhuận trên tài sản (ROA), lợi nhuận trên vốn chủ sở hữu (ROE), thu nhập trên mỗi cổ phiếu (EPS) và bất kỳ tỷ lệ giá trị thị trường nào được chấp nhận rộng rãi (Yenesew, 2014) hay các chỉ số tài chính như tỷ lệ nợ, tỷ lệ thanh toán hiện hành.
Các chỉ tiêu này được thu thập trên bộ báo cáo tài chính của doanh nghiệp. Nhóm tác giả đã lựa chọn các chỉ tiêu sau để đo lường hiệu quả tài chính: Lãi cơ bản trên cổ phiếu (Basic EPS), Tỷ suất lợi nhuận trên tài sản (ROA), Tỷ lệ nợ và Tỷ lệ thanh toán hiện hành (CR). Lý thuyết về cổ phiếu và các loại giá cổ phiếu 2.1 Cổ phiếu Theo luật chứng khoán Việt Nam năm 2019, Cổ phiếu là loại chứng khoán xác nhận quyền và lợi ích hợp pháp của người sở hữu đối với một phần vốn cổ phần của tổ chức phát hành. Khi xem xét đến cổ phiếu của CTCP, việc phân loại cổ phiếu dựa vào mục đích là huy động nguồn vốn, có thể chia thành cổ phiếu đang lưu hành, cổ phiếu đã phát hành và cổ phiếu quỹ.
- Cổ phiếu đang lưu hành là những cổ phiếu đã được phát hành và đang được nắm giữ bởi các cổ đông. Việc chia cổ tức được căn cứ vào số lượng cổ phiếu này. - Cổ phiếu đã phát hành là số cổ phiếu công ty đã bán hoặc chuyển cho cổ đông, ngoài ra những cổ phiếu công ty được phép phát hành nhưng chưa phát hành thì không ghi nhận. - Cổ phiếu quỹ là cổ phiếu đã được phát hành ra công chúng và được chính các tổ chức phát hành mua lại trên thị trường.
Cổ phiếu quỹ không được chia cổ tức và không có quyền biểu quyết. Cổ phiếu quỹ được sử dụng nhưu một công cụ tài chính linh hoạt để công ty cổ phần điều chỉnh cấu trúc vốn. Dựa vào quyền lợi của người nắm giữ cổ phiếu, có thể phân loại thành cổ phiếu thường và cổ phiếu ưu đãi: a) Cổ phiếu thường Cổ phiếu thường là loại cổ phiếu mà tất cả các CTCP đều phát hành. Cổ đông nắm giữ cổ phiếu thường là một trong những chủ sở hữu của doanh nghiệp nên là người trực tiếp hưởng lợi trực tiêp từ lợi tức của hoạt động sản xuất kinh doanh và đồng thời là người chia sẻ rủi ro kinh doanh, do đó cổ phiếu thường có 2 đặc điểm sau: - Cổ phiếu thường không có kỳ hạn và không hoàn vốn - Lợi tức của cổ phiếu tùy thuộc vào kết quả sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp, do đó cổ tức của nó không cố định b) Cổ phiếu ưu đãi Cổ phiếu ưu đãi là một loại chứng khoán kết hợp giữa cổ phiếu thường và trái phiếu.
Đây là giấy chứng nhận ưu tiên so với cổ đông thường về mặt tài chính nhưng lại bị hạn chế về quyền hạn (ví dụ; quyền biểu quyết).