Chương 1 của IFRS framework, mục tiêu của BCTC được nêu rỏ là cung cấp thông tin tài chính cho các nhà đầu tư tiềm năng, các tô chức tín dụng và các chủ nợ. Những thông tin này giúp họ đưa ra quyết định cung cấp các nguồn tài trợ từ bẻn ngoài cho công ty. Chương 3 của IFRS framework tiêp tục trình bày 12 những đặc tính chất lượng cùa các BCTC được công bố, cụ thê là các đặc tính bao gồm: - Tính thích họp (Relevance), hàm ý rằng người sử dụng thông tin được cung cấp trong BCTC là có giá trị. - Tính trung thực (Faithfully representation), hàm ý thông tin được công bổ trong BCTC khồng bị sửa chừa, xuyên tạc, và được truyền lái đến người đọc một cách khách quan.
- Tính so sánh (Comparability), hàm ý thông tin do doanh nghiệp cung cấp sẽ hừu dụng hơn khi nó được so sánh với những doanh nghiệp khác nhằm nhận ra những sự tương đồng, khác biệt cùa những khoản mục được trình bày. - Tính de hicu (Understandability), hàm ý viộc thông tin được công bổ cần được phân loại trước một cách rõ ràng, nhăm hạn chê việc hiêu nhâm hay diên giải sai lệch ý muốn cũa các nhà quán trị doanh nghiệp. - Tính kịp thời (Timeliness), hàm ý thông tin truyền lái phái mang tính thời diêm nhăm đảm bảo việc ra quyêt định kịp thời của các bên liên quan. - Tính xác thực (Verifiability), hàm ý thông tin trước khi công bô có thê phải được xác nhận hoặc kiếm tra của bên thứ ba.
Quy định của Việt Nam Theo quy định cua Hệ thống Chuẩn mực Kẻ toán Việt Nam - VAS, chuấn mực số 1 quy định chung về BCTC giúp người dùng hiêu và đánh giá thông tin được lập phù hợp với chuân mực ke toán, ngoại trừ các quy định tương đồng với IFRS, VAS so 1 còn quy định thêm hai đặc tính của BCTC được lập theo chế độ kế toán Việt Nam gồm: - Tính khách quan, hàm ý rằng các thông tin được ghi nhận đúng với bán chất kinh tế và không bị bóp méo. 13 - Tính đầy đù, hàm ý rằng tất cả các nghiệp vụ kinh tế đều phải được ghi nhận trong kỳ kế toán, không được bỏ sót. Năm 2007, Bộ Tài chính đà ban hành Thông tư số 38/2007/TT-BTC vào ngày 18/4/2007, cung cấp hướng dần về việc CBTT trên TTCK. Thông tư này đà đặt nền mỏng cho quy định về CBTT bắt buộc đổi với các công ty niêm yết.
Quy định này không chỉ giúp nâng cao tính minh bạch trong hoạt động cua các doanh nghiệp niêm yết mà còn bảo vệ quyền lợi cua nhà đầu tư, lạo ra một môi trường đầu tư an loàn và tin cậy hơn. Thông tư này cũng là bước đầu tiên trong việc xây dựng khung pháp lý vững chắc cho hoạt động CBTT trong TTCK Việt Nam. Năm 2012, Bộ Tài chính đà ban hành Thông tư sổ 155/2015/TT-BTC đế thay thế Thông tư 38/2007/TT-BTC. Mục tiêu cùa Thông tư này là cái thiện công tác CBTT của các công ty đại chúng niêm yết trên TTCK.
Thông tư 155/2015/TT-BTC không chỉ nâng cao tính minh bạch và độ tin cậy của thông tin tài chính mà còn mờ rộng phạm vi và quy định chi tiết hơn về các thông tin cần công bổ. Điều này nham bâo đám các nhà đầu tư có đù thông tin để đưa ra quyết định chính xác, đồng thời thúc đẩy sự phát triến bền vững của TTCK Việt Nam. Đê đáp ứng với tình hình đôi mới liên tục của kinh tê thê giới và trong nước, Bộ Tài chính đà ban hành Thông tư 96/2020/TT-BTC vào ngày 16/11/2020, có hiệu lực từ 1/1/2021. Thông tư này quy định rõ ràng răng BCTC được công bô phải được kiểm toán bởi một công ty kiểm toán được UBCKNN chấp thuận, với tần suất kiểm toán theo định kỳ (quý, nừa năm và cá năm).
Ngoài ra, BCTC phái bao gồm đầy đủ tất cả các báo cáo, phụ lục và thuyết minh cần thiết. Đổi với các công ty hoạt động theo mô hình mẹ - con, yêu càu công bố cá BCTC hợp nhất và riêng của công ty mẹ cũng được nêu rõ. Bên cạnh đó, các công ty niêm yết cũng phái CBTT về nhiều hoạt động quan trọng như chào bán và phát hành thêm chứng khoán, niêm yêt, đăng ký giao dịch chứng khoán, tỷ lộ sờ hữu nước ngoài tổi đa, cũng như các giao dịch mua lại và bán ra cô phiếu quỳ. Thông tư này nhằm nâng cao tính minh bạch và độ 14 tin cậy cùa thông tin tài chính, lạo điều kiện thuận lợi cho các nhà đầu tư trong việc ra quyết định.
Chi phí sử dụng nợ Cấu trúc vốn của doanh nghiệp về cơ bán được cấu thành bời nợ và vốn chủ sờ hừu hay còn được gọi là vốn nợ và vốn chủ sớ hữu. Mồi loại vốn khi doanh nghiệp sử dụng đều phái lốn chi phí tương ứng, do đó, các nhà quán trị doanh nghiệp cần cân nhắc việc tài trợ nên sử dụng nguồn cấp von nào, ngắn hay dài hạn. Khi doanh nghiệp quyết định sử dụng nguồn tài trợ cho các dự án hay hoạt động kinh doanh từ nguồn tài trợ bên ngoài thì chi phí phải trá cho nguồn tài trợ này được gọi là chi phí sử dụng nợ (cost of debt). Chi phí sử dụng nợ của một doanh nghiệp phụ thuộc vào uy tín của người đi vay; cụ thế, mức chi phí cao phán ánh ràng người đi vay có rui ro cao hơn (Van Binsbergen, Graham và cộng sự.
Khi doanh nghiệp thay đôi cấu trúc vốn, chi phí sư dụng nợ sè có sự thay đối tương ứng (Mello & Parsons, 1992). Điều này thu hút sự quan tâm từ các nhà đầu tư vì chi phí nợ nó trực tiếp ành hường lợi nhuận của doanh nghiệp. Cụ thê, khi chi phí nợ tăng lên, lợi nhuận ròng của doanh nghiệp có thê bị giâm, điêu này có the ánh hường đên quyêt định đâu tư của nhà đâu tư. Vì vậy, việc quán lý hiệu quá cấu trúc vốn là một yếu tố quan trọng trong việc tối ưu hóa chi phí sử dụng nợ và nâng cao giá trị cho người sở hừu.
Một trong những yếu tố quan trọng có ánh hường đến chi phí sử dụng nợ là các quyết định cua nhà quán trị doanh nghiệp và thông tin liên quan cần được công bô đên các bên liên quan (Saputra & Faizal, 2016). Theo lý thuyêl vẻ các bên liên quan (Freeman, 1984), mọi bên đều quan tâm đến hoạt động của doanh nghiệp thông qua việc tiết cận thông tin mà công ty tiết lộ. Việc CBTT không chi đảm bào tính minh bạch mà còn tác động đến cách thức các nhà đầu tư và các bôn liên quan khác đánh giá rủi ro là bao nhiêu. Sự minh bạch trong thông tin giúp giám thiêu bât cân xứng thông tin, từ đó có thê làm giảm chi phí sử dụng nợ.
Như vậy, việc CBTT 15 có thê giúp nâng cao niêm tin và giàm đánh giá rúi ro của các bên liên quan, dần đến chi phí sử dụng nợ thấp hon cho công ty. Lý thuyết CO’ sờ Bắt nguồn từ nghiên cứu cua Cerf (1961), những nghiên cứu tiếp theo sử dụng các lý thuyết nền làm nền tâng cho việc xây dựng mô hình nghiên cửu, cụ thể là lý thuyết đại diện (agency theory), lý thuyết tín hiệu (signalling theory), lý thuyết về tính hợp pháp (legitimacy theory), lý thuyết chi phí sờ hữu (proprietary cost theory), lý thuyết tiết kiệm chi phí thong tin (information cost saving theory), lý thuyết thông tin bất cân xứng (asymmetric information theory), và lý thuyết các bên liên quan (stakeholder theory). Các nghiên cửu về những nhân tổ ành hường đến chi phí sứ dụng nợ thường dựa trôn nền táng lý thuyết tương đồng với CBTT, bao gồm một số lý thuyết quan trọng như lỷ thuyết đại diện, lý thuyết tín hiệu, lý thuyết về lính họp pháp, và lý thuyết trật tự phân hạng (peaking order theory). Tất cá các lý thuyết này giúp làm rõ mối quan hệ giừa CBTT và chi phí nợ, nhấn mạnh ràng sự minh bạch và quán lý thông tin có thể ánh hường tích cực đến chi phí của doanh nghiệp khi tham gia thị trường vốn.
L Lý thuyêt đại diện - Agency theory Lý thuyêt này được xây dựng bởi Ross (1973) và được phát triên bời Jensen và Meckling (1976) nhằm giái thích sự xung đột về mặt lợi ích giừa bên uy nhiệm (the principal) và ben được ủy nhiệm (the agent). Bên được úy nhiệm là bên sừ dụng quyền điồu hành, quán lý của mình đe thực hiộn những công việc phục vụ lợi ích của bán thân mà không làm lôi đa hóa lợi nhuận cùa bên ủy nhiệm. Theo nghiên cứu cùa Jensen và Mcckling (1976), từ sự khác biệt giừa các ben trong lý thuyết đại diện, xuât hiện chi phi dại diện nhăm điêu hòa môi quan hệ một cách cân băng và hiệu quà, chi phí này được phân thành ba loại là chi phí giám sát, chi phí ràng buộc và chi phí cơ hội. 16 Chi phí giám sát là chi phí phát sinh làm giảm lợi ích của bên ủy nhiệm nhằm thực hiện các hoạt động kiềm soát, kiểm tra, xây dựng hệ thống báo cáo để ràng buộc trách nhiệm của bên được được úy nhiệm.
Nhằm gắn kết lợi ích giữa các bên trong quá trình thực hiện úy nhiệm, bên úy nhiệm giao quyền và trách nhiệm cho bên được ủy nhiệm thông qua các hợp đồng với những thỏa thuận, lợi ích rõ ràng và cân bằng. Mối quan hệ ủy nhiệm trong một doanh nghiệp thường dần đến sự phân tách giũa lợi ích của bên được ủy nhiệm và bên ủy nhiệm. Điều này tạo ra sự bất cân xứng thông tin, vì nhà quán trị nam giừ nhiều thông tin về hoạt động và tình hình tài chính của công ty so với các cô đông. Trong bối cành này, việc CBTT trở nên cần thiết.
Lý thuyêt tín hiệu — Signalling theory Năm 1974, Spence (1974) lần đầu tiên giới thiệu lý thuyết tín hiệu trong nghiên cứu cùa mình về thị trường lao động. Theo lý thuyết này, người lao động phái phát tín hiệu về năng lực và thông tin cá nhân của họ nhằm thu hút sự chú ý từ các nhà tuyến dụng. Trong bổi cânh CBTT, điều này hàm ý rằng bên nắm giừ thông tin cân chú động CBTT mà họ sờ hữu đe phục vụ cho các bên có nhu câu. Morris (1987) đã chi ra rằng lý thuyết tín hiệu nhấn mạnh sự bất cân xứng thông tin giừa các nhà đâu lư và công ty, điêu này có thê dân đên những quyêt định bât lợi cho cá hai bên.
Cụ thể, trên TTCK, các công ty có chất lượng hoạt động vượt trội sẽ thường có chính sách CBTT cho phép họ công bổ một cách tích cực hơn (Jog & McConomy, 2003).