chương 1, cần phải xây dựng mô hình nghiên cứu. Và mô hình nghiên cứu cần phải dựa trên cơ sở lý thuyết và các nghiên cứu thực nghiệm trước đó. Ở chương 2, đầu tiên tác giá trình bày định nghĩa về nợ dài hạn và nguồn hình thành nợ dài hạn. Tiếp đến, là sơ lược về các lý thuyết trong việc lựa chọn tỷ lệ nợ để nêu lên những quan điểm về các yếu tố tác động đến tỷ lệ nợ của doanh nghiệp nói chung và những nhân tố tác động lên tỷ lệ nợ dài hạn nói riêng.
Cuối cùng, tác giả tóm tắt lại những nghiên cứu thực nghiệm để có cái nhìn bao quát về những yếu tố tác động đến tỷ lệ nợ dài hạn của doanh nghiệp. Khái quát về nợ dài hạn 2. Định nghĩa nợ dài hạn Hiện nay vẫn chưa có một định nghĩa thống nhất về nợ dài hạn trên toàn thế giới. Các bài nghiên cứu khác nhau thường xác định nợ dài hạn theo những cơ sở khác nhau.
Một số tác giả dùng thời hạn vay nợ để phân loại nợ dài hạn và nợ ngắn hạn. Theo Scherr and Hulburt (2001) thì một khoản nợ được cho là dài hạn nếu đó là khoản phải trả có thời gian quá một năm, trong khi một số tác giả khác như Barclay và Smith (1995) lại định nghĩa nợ dài hạn là khoản phải trả có thời gian hơn ba tháng, và theo quan điểm của Schiantarelli và Sembenelli (1997) thì đó là khoản phải trả có thời gian trên 5 năm. Bên cạnh việc dùng thước đo về thời gian của các khoản phải trả, một số nghiên cứu lại dựa trên các tiêu chí khác để định nghĩa nợ dài hạn, các tiêu chí đó là: - Thời gian đáo hạn trung bình của các khoản nợ (Stohs và Mauer, 1996). - Bên cạnh đó, Scherr và Hulburt (2001) đã áp dụng hai cách xác định nợ dài hạn là: tỷ số giữa nợ vay có thời gian trên một năm với tổng nợ và kỳ hạn đáo hạn trung bình có trọng số của nợ, và kết quả nghiên cứu cho thấy chỉ có khác biệt rất nhỏ khi chọn hai định nghĩa trên.
Dựa vào điều 112 (Hướng dẫn lập và trình bày Bảng cân đối kế toán năm), thông tư 200 của bộ tài chính, nợ dài hạn được định nghĩa như sau: Nợ dài hạn là chỉ tiêu 6 tổng hợp phản ánh tổng giá trị các khoản nợ dài hạn của doanh nghiệp bao gồm những khoản nợ có thời hạn thanh toán còn lại từ 12 tháng trở lên hoặc trên một chu kỳ sản xuất, kinh doanh thông thường như: Khoản phải trả người bán, phải trả nội bộ, các khoản phải trả dài hạn khác, vay và nợ thuê tài chính dài hạn,… tại thời điểm báo cáo. Các nguồn hình thành nợ dài hạn Theo điều 112 (Hướng dẫn lập và trình bày Bảng cân đối kế toán năm), thông tư 200 của bộ tài chính ban hành ngày 22 tháng 12 năm 2014 đã quy định các nguồn hình thành nợ dài hạn trong bảng cân đối kế toán như sau: - Phải trả người bán dài hạn: Chỉ tiêu này phản ánh số tiền còn phải trả cho người bán có thời hạn thanh toán còn lại trên 12 tháng hoặc hơn một chu kỳ sản xuất, kinh doanh thông thường tại thời điểm báo cáo. - Người mua trả tiền trước dài hạn: Chỉ tiêu này phản ánh số tiền người mua ứng trước để mua sản phầm, hàng hóa, dịch vụ, tỷ lệ tài sản cố định, bất động sản đầu tư và doanh nghiệp có nghĩa vụ cung cấp trên 12 tháng hoặc hơn một chu kỳ sản xuất, kinh doanh thông thường tại thời điểm báo cáo (không bao gồm các khoản doanh thu nhận trước). - Chi phí phải trả dài hạn: Chỉ tiêu này phản ánh giá trị các khoản nợ còn phải trả do đã nhận hàng hóa, dịch vụ nhưng chưa có hóa đơn hoặc các khoản chi phí của kỳ báo cáo chưa có đủ hồ sơ, tài liệu nhưng chắc chắn sẽ phát sinh cần phải được tính trước vào chi phí sản xuất, kinh doanh và chỉ phải thanh toán sau 12 tháng hoặc sau chu kỳ sản xuất, kinh doanh thông thường tiếp theo tại thời điểm báo cáo, như lãi vay phải trả của kỳ báo cáo nhưng chi phải thanh toán khi hợp đồng vay dài hạn đáo hạn.
- Phải trả nội bộ về vốn kinh doanh: Tùy thuộc vào đặc điểm hoạt động và mô hình quản lý của từng đơn vị, doanh nghiệp thực hiện phân cấp và quy định cho đơn vị hạch toán phụ thuộc ghi nhận khoản vốn do doanh nghiệp cấp vào chỉ tiêu này hoặc chỉ tiêu “Vốn góp của chủ sở hữu”. - Phải trả nội bộ dài hạn: Chỉ tiêu này phản ánh các khoản phải trả nội bộ có kỳ hạn thanh toán còn lại trên 12 tháng hoặc hơn một chu kỳ sản xuất, kinh doanh thông thường tại thời điểm báo cáo (ngoài phải trả về vốn kinh doanh) giữa đơn vị cấp trên và đơn vị trực thuộc không có tư cách pháp nhân hạch toán phụ thuộc và giữa các đơn vị hạch toán phụ thuộc trong một doanh nghiệp. - Doanh thu chưa thực hiện dài hạn: Chỉ tiêu này phản ánh các khoản doanh thu 7 chưa thực hiện tương ứng với phần nghĩa vụ mà doanh nghiệp sẽ phải thực hiện trong sau 12 tháng hoặc sau một chu kỳ sản xuất, kinh doanh thông thường tiếp theo tại thời điểm báo cáo. - Phải trả dài hạn khác: Chỉ tiêu này phản ánh các khoản phải trả khác có kỳ hạn thanh toán còn lại trên 12 tháng hoặc hơn một chu kỳ sản xuất, kinh doanh thông thường tại thời điểm báo cáo, ngoài các khoản nợ phải trả đã được phản ánh trong các chỉ tiêu khác, như: Các khoản nhận ký cược, ký quỹ dài hạn, cho mượn dài hạn, khoản chênh lệch giữa giá bán trả chậm, trả góp theo cam kết với giá bán trả ngay dài hạn,… - Vay và nợ thuê tài chính dài hạn: Chỉ tiêu này phản ánh các khoản doanh nghiệp vay, nợ của các ngân hàng, tổ chức, công ty tài chính và các đối tượng khác, có kỳ hạn thanh toán còn lại trên 12 tại thời điểm báo cáo, như: Số tiền vay ngân hàng, khoản phải trả về tỷ lệ tài sản cố định thuê tài chính, tiền thu phát hành trái phiếu thường,.
- Trái phiếu chuyển đổi: Chỉ tiêu này phản ánh giá trị phần nợ gốc của trái phiếu chuyển đổi do doanh nghiệp phát hành tại thời điểm báo cáo. - Cổ phiếu ưu đãi: Chỉ tiêu này phản ánh giá trị cổ phiếu ưu đãi theo mệnh giá mà bắt buộc người phát hành phải mua lại tại một thời điểm đã được xác định trong tương lai. - Thuế thu nhập hoãn lại phải trả: Chỉ tiêu này phản ánh số thuế thu nhập doanh nghiệp hoãn lại phải trả tại thời điểm báo cáo. - Dự phòng phải trả dài hạn: Chỉ tiêu này phản ánh khoản dự phòng cho các khoản dự kiến phải trả sau 12 tháng hoặc sau chu kỳ sản xuất, kinh doanh thông thường tiếp theo tại thời điểm báo cáo, như dự phòng bảo hành sản phẩm, hàng hóa, công trình xây dựng, dự phòng tái cơ cấu, các khoản chi phí trích trước để sửa chữa tài sản cố định định kỳ, chi phí hoàn nguyên môi trường trích trước,… Các khoản dự phòng phải trả thường được ước tính, chưa chắc chắn về thời gian phải trả, giá trị phải trả và doanh nghiệp chưa nhận được hàng hóa, dịch vụ từ nhà cung cấp.
- Quỹ phát triển khoa học và công nghệ: Chỉ tiêu này phản ánh số quỹ phát triển khoa học và công nghệ chưa sử dụng tại thời điểm báo cáo. Các lý thuyết về việc lựa chọn tỷ lệ nợ Lý thuyết này là những lý thuyết về cấu trúc giữa việc sử dụng nợ và vốn cổ phần, những lý thuyết này cung cấp những thông tin cần thiết tại sao các doanh nghiệp trong một trường hợp này họ lại thích việc sử dụng nợ, trong khi những trường hợp khác thì không. Những vấn đề này chủ yếu liên quan đến những lợi ích và bất lợi trong việc sử dụng nợ (chi phí tài chính, lợi ích từ tấm chắn thuế, khả năng suy kiệt tài chính,…). Và một điều quan trọng: nợ dài hạn được xem là nhân tố tác động lớn nhất sau những lợi ích và bất lợi trong việc sử dụng nợ.
Phần sau trình bày một số quan điểm về việc sử dụng nợ, cũng như những tranh luận giữa các nhà kinh tế về nguyên nhân mà các doanh nghiệp sử dụng nợ dài hạn. Quan điểm truyền thống Quan điểm này cho rằng khi một doanh nghiệp thực hiện việc vay mượn thì sẽ có được nhiều lợi ích hơn là điều bất lợi. Bởi vì chi phí nợ thấp kết hợp với lợi ích từ tấm chắn thuế sẽ khiến WACC (Chi phí vốn bình quân gia quyền) giảm khi nợ tăng. Tuy nhiên, khi tỷ lệ giữa nợ và vốn chủ sở hữu (VCSH) tăng, tác động của tỷ lệ vốn vay so với tổng vốn buộc các chủ sở hữu (CSH) tăng lợi tức yêu cầu của họ (nghĩa là chi phí VCSH tăng).
Ở mức tỷ lệ nợ và VCSH cao, chi phí nợ cũng tăng bởi vì khả năng doanh nghiệp không trả được nợ là cao hơn (nguy cơ phá sản cao hơn). Vì vậy, ở mức tỷ số giữa vốn nợ và VCSH cao hơn thì chi phí vốn bình quân gia quyền (WACC) sẽ tăng. Vấn đề chính của quan điểm truyền thống là không có một lý thuyết cơ sở thể hiện chi phí VCSH nên tăng bao nhiêu do tỷ lệ giữa vốn nợ và VCSH hay chi phí nợ nên tăng bao nhiêu do nguy cơ vỡ nợ. Lý thuyết cấu trúc vốn của Modilligani và Miller (mô hình MM) Trái với quan điểm truyền thống, Modilligani và Miller (1958) đã xem xét chi phí vốn sẽ tăng hay giảm khi một doanh nghiệp tăng hoặc giảm việc vay mượn với hai giả định: - Giả định nếu như không có tác động của thuế.
- Nguy cơ trong lý thuyết của MM được tính toán hoàn toàn bởi tính biến đổi của các luồng tiền và bỏ qua khả năng các luồng tiền có thể dừng vì vỡ nợ. Modigliani và Miler chỉ ra rằng việc sử dụng nợ mang đến cho CSH tỷ suất lợi tức cao hơn, nhưng lợi tức cao hơn này chính xác là những gì họ bù đắp cho nguy cơ 9 tăng lên từ tỷ lệ vốn vay so với tổng vốn. Với các giả thuyết trên, dẫn đến các phương trình cho lý thuyết của MM. Vg = Vu: Tổng giá trị của doanh nghiệp sử dụng nợ bằng tổng giá trị của doanh nghiệp không sử dụng nợ.
Năm 1963, Modilligani và Miller đưa ra một nghiên cứu tiếp theo với việc loại bỏ giả thiết về thuế thu nhập doanh nghiệp.