Chương 1: Giới thiệu đề tài. Trong chương này, luận văn giới thiệu lý do chọn đề tài, đưa ra mục tiêu nghiên cứu và câu hỏi nghiên cứu. Đồng thời luận văn sơ lược về phương pháp nghiên cứu và dữ liệu nghiên cứu mà luận văn tiếp cận; cuối cùng luận văn đưa ra nội dung nghiên cứu và ý nghĩa nghiên cứu. Chương 2: Cơ sở lý thuyết và bằng chứng thực nghiệm.
Luận văn khái quát về cơ sở lý thuyết đối với quyết định nắm giữ tiền mặt của các doanh nghiệp thông qua lý thuyết đánh đổi tĩnh, lý thuyết trật tự phân hạng, lý thuyết đai diện cũng như trình bày các động cơ nắm giữ tiền mặt bao gồm động cơ giao dịch, động cơ phòng ngừa và động cơ đại diện. Đồng thời luận văn cũng đưa ra vai trò của ràng buộc tài chính đối với mối quan hệ giữa dòng tiền và nhu cầu nắm giữ tiền mặt của các doanh nghiệp thông qua chi phí giao dịch, chi phí bất cân xứng thông tin, chi phí đại diện của nợ. Chương 3: Phương pháp nghiên cứu. Trong chương này, luận văn đề cập đến dữ liệu mà nghiên cứu sử dụng, cũng như quy trình lựa chọn các doanh nghiệp niêm yết và phi niêm yết được dùng trong luận văn.
Sau đó luận văn đưa ra mô hình nghiên cứu dựa vào các đề nghị của Lopez – Gracia và Sogrob – Mira (2015), đồng thời đề cập cách đo lường biến và phương pháp mà luận văn dùng để hồi quy mô hình nghiên cứu xem xét ảnh hưởng của dòng tiền đến nhu cầu nắm giữ tiền mặt của các doanh nghiệp. 6 Chương 4: Kết quả nghiên cứu. Chương này luận văn thống kê mô tả các biến và ma trận tương quan. Cuối cùng đưa ra các kết quả nghiên cứu có được từ việc ước lượng mô hình nghiên cứu và thảo luận các kết quả đạt được.
Chương 5: Kết luận. Cuối cùng trong luận văn này, luận văn đề cập các kết luận chính, đưa ra các khuyến nghị chính sách dựa vào các kết quả đạt được và đề cập đến hạn chế của đề tài cũng như các hướng nghiên cứu tiếp theo cho các đề tài xem xét ảnh hưởng của dòng tiền đến nhu cầu nắm giữ tiền mặt của các doanh nghiệp. Ý nghĩa đề tài Luận văn này cung cấp một bằng chứng thực nghiệm, đóng góp vào sự hiểu biết về ảnh hưởng của dòng tiền đến nhu cầu nắm giữ tiền mặt của các doanh nghiệp niêm yết và phi niêm yết đang hoạt động tại Việt Nam. Dựa vào nền tảng đó, các nhà quản lý doanh nghiệp và các nhà đầu tư đang quan tâm đến doanh nghiệp sẽ có thêm cái nhìn toàn diện hơn trong các quyết định tài chính để đạt được mục tiêu tối đa hóa hiệu quả trong việc quyết định các chính sách, chiến lược của doanh nghiệp.
CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ BẰNG CHỨNG THỰC NGHIỆM 2. Lý thuyết nắm giữ tiền mặt 2. Lý thuyết đánh đổi tĩnh Theo mô hình đánh đổi tĩnh của quyết định nắm giữ tiền mặt của các công ty, lượng tiền mặt được nắm giữ bởi một công ty được xác định bởi chênh lệch giữa chi phí biên và lợi ích biên của việc nắm giữ tài sản thanh khoản (Ferrreira và Vilela, 2004). Có nhiều lợi ích khi nắm giữ các tài sản thanh khoản.
Đầu tiên, lợi ích của việc nắm giữ tiền mặt là tiền mặt có thể làm giảm độ nhạy cảm của công ty đối với kiệt quệ tài chính và khi có các tổn thất bất ngờ xảy ra tiền mặt sẽ đóng vai trò như một tấm đệm giúp công ty vượt qua các khó khăn và giảm tổn thất đến mức thấp nhất. Hơn thế nữa, việc nắm giữ tiền mặt có thể làm giảm các chi phí giao dịch liên quan đến các nguồn vốn bên ngoài hoặc các tài sản bị thanh lý. Thứ ba, tiền mặt có thể giúp các công ty có thể thực hiện các chính sách đầu tư tối ưu và do đó có thể giúp các công ty nắm bắt các dự án có NPV dương nếu như phải đối mặt với các ràng buộc tài chính bên ngoài. Mặt khác, việc nắm giữ tài sản thanh khoản cũng phải tốn kém chi phí nhất định.
Ferreira và Vilela (2004) khẳng định rằng chi phí chính của việc nắm giữ tiền mặt là chi phí cơ hội. Một công ty nắm giữ tiền mặt thì sẽ có lợi nhuận thấp hơn so với công ty đầu tư vào các dự án khác để tìm kiếm sinh lời cao hơn. Do đó đây là chi phí cơ hội của việc nắm giữ tiền mặt so với việc đầu tư vào các tài sản sinh lời khác. Lượng tiền mặt tối ưu của mỗi công ty được xác định bởi chênh lệch giữa chi phí biên của tình trạng thiếu hụt tài sản thanh khoản và chi phí biên của việc nắm giữ 8 tài sản thanh khoản.
Chi phí biên của việc nắm giữ tiền mặt là cố định vì không có bằng chứng thực nghiệm nào cho thấy rằng tỷ suất sinh lợi của tiền mặt thấp hơn khi so với các khoản đầu tư khác khi lượng tiền mặt nắm giữ thay đổi (Anonym, 2010). Càng nhiều tài sản thanh khoản mà công ty nắm giữ, thì sẽ càng ít điều kiện khi công ty tiếp cận với thị trường vốn. Một sự gia tăng trong lợi nhuận từ việc bán các tài sản thanh khoản hoặc sự gia tăng lượng tài sản thanh khoản bị thiếu hụt sẽ dịch chuyển đường cong chi phí sang phải, và dẫn đến lượng tiền mặt tối ưu cần nắm giữ sẽ cao hơn (Opler và các cộng sự, 1999). Do giả định của lý thuyết đánh đổi tĩnh, một số biến tài chính và phi tài chính có thể ảnh hưởng đến lượng tài sản thanh khoản tối ưu của công ty (Dittmar và các cộng sự, 2003; Ferreria và Vilela, 2004; Opler và các cộng sự, 1999).
Lý thuyết đánh đổi cho thấy rằng các công ty có các cơ hội đầu tư tốt hơn thì sẽ kỳ vọng sẽ nắm giữ tiền mặt nhiều hơn như là chi phí cơ hội cao hội nếu họ từ bỏ các dự án có NPV dương bởi vì khó khăn trong vấn đề tăng vốn tài trợ cho các dự án này. Nói cách khác, khi một công ty nắm giữ tài sản thanh khoản nhiều, thì công ty đó có thể thực hiện các dự án thậm chí trong trường hợp các chủ sở hữu và các chủ nợ không sẵn lòng hỗ trợ nguồn vốn để tài trợ cho các dự án này. Các công ty có quy mô lớn thường dễ dàng tiếp cận với thị trường vốn hơn các công ty có quy mô nhỏ. Bởi vì chi phí cố định (fixed cost) có liên quan với sự gia tăng nguồn vốn bên ngoài thì tương đối tốn kém đối với các công ty có quy mô nhỏ hơn các công ty quy mô lớn.
Các công ty nắm giữ tài sản thanh khoản thì được kỳ vọng sẽ nắm ít tiền mặt hơn các công ty khác. Bởi vì tiền mặt và tài sản thanh khoản là các tài sản thay thế 9 nhau, điều này hàm ý rằng các công ty có mức độ tài sản thanh khoản càng cao thì không cần thiết phải nắm giữ nhiều tiền mặt. Ferreira và Vilela (2004) khẳng định rằng không có bằng chứng nào rõ ràng giữa đòn bẩy và lượng tài sản thanh khoản mà công ty nắm giữ trong mô hình đánh đổi. Các tác giả lập luận rằng đòn bẩy có thể làm tăng rủi ro của công ty mà công ty phải cam chịu từ kiệt quệ tài chính trong tương lai, do đó, các công ty có mức độ đòn bẩy càng cao được kỳ vọng sẽ nắm giữ tài sản thanh khoản nhiều hơn để giảm rủi ro phá sản.
Tuy nhiên, mặt khác đòn bẩy cũng có được xem như là một đại diện cho khả năng gia tăng nợ của công ty. Các công ty mà có thể dễ dàng tiếp cận với các khoản nợ từ phía các nhà đầu tư bên ngoài thì thường là các công ty có quy mô lớn với danh tiếng tốt. Do đó, khi các công ty này dễ dàng tiếp cận với thị trường vốn thì được kỳ vọng rằng các công ty sẽ ít nắm giữ tiền mặt hơn. Tuy nhiên, Anonyn (2010) lập luận cho sự hiểu nhầm này là đòn bẩy chỉ có thể giúp cho các công ty có thể dễ dàng tiếp cận dễ dàng hơn với thị trường vốn chứ không giúp công ty gia tăng tiền mặt trong tương lai.
Hơn thế nữa, các công ty có mức độ nợ càng cao thì sẽ càng gặp nhiều khó khăn trong việc tiếp cận với thị trường vốn vì đòn bẩy cao thì phải tốn kém nhiều chi phí hơn để tiếp cận được các khoản tài trợ bên ngoài. Do đó sẽ không có một mối quan hệ rõ ràng nào khi giải thích mối quan hệ giữa nắm giữ tiền mặt và đòn bẩy trong mô hình đánh đổi. Lý thuyết đánh đổi cho rằng các công ty chi trả cổ tức nhiều hơn được dự kiến sẽ có lượng tiền mặt nắm giữ ít hơn vì các công ty này có thể giảm các khoản thanh toán này để có thể được nhiều nguồn vốn hơn. Ngược lại, các công ty không chi trả cổ tức phải tiếp cận với thị trường vốn để đạt được các khoản tài trợ bên ngoài.
Mô hình đánh đổi cũng cho rằng các công ty có độ biến động dòng tiền càng cao thì các công ty có thể sẽ thiếu hụt nhiều tài sản thanh khoản. Tuy nhiên, có thể tốn kém chi phí đối với các công ty bán các tài sản thanh khoản do đó các công ty này có thể bỏ qua các cơ hội đầu tư có giá trị. Ho nên các công ty có độ biến động 10 dòng tiền càng cao thì sẽ càng được kỳ vọng nắm giữ nhiều tiền mặt để làm giảm các chi phí có liên quan đến ràng buộc thanh khoản (Ozkan và Ozkan, 1996). Almeida và các cộng sự (2004) tìm thấy rằng các công ty đối mặt với ràng buộc tài chính thì sẽ càng có độ nhạy cảm của tiền mặt đối với dòng tiền càng cao.
Nói cách khác, các công ty ràng buộc tài chính sẽ nắm giữ tiền mặt nhiều hơn khi dòng tiền của công ty cao. Han và Qiu (2007) tìm thấy rằng từ 1998 đến 2002, tiền mặt được nắm giữ bởi các công ty ràng buộc tài chính sẽ gia tăng với độ biến động của dòng tiền. Tương tự vậy, Lopez – Gracia và Sogorb – Mira (2015) cũng tìm thấy ràng buộc tài chính có thể gây ra sự khác biệt trong chính sách nắm giữ tiền mặt khi dòng tiền của doanh nghiệp gia tăng.