CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ CHO VAY KHÁCH HÀNG DOANH NGHIỆP TẠI NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI 1. Tổng quan về cho vay khách hàng doanh nghiệp của ngân hàng thương mại 1.Khái niệm cho vay khách hàng doanh nghiệp Định nghĩa về cho vay KHDN thường được sử dụng trong lĩnh vực về tài chính – ngân hàng. Hiện nay, có nhiều định nghĩa và cách tiếp cận khác nhau đối với khái niệm này: Theo Luật các TCTD (2024): Cho vay là hình thức cấp tín dụng, theo đó bên cho vay giao hoặc cam kết giao một khoản tiền trong một khoảng thời gian nhất định với mục đích sử dụng xác định cho KH với quy định hoàn đầy đủ cả gốc và lãi theo thỏa thuận. (2019): Cho vay KHDN là dịch vụ tài chính có vai trò quan trọng tại các NHTM.
Dịch vụ này được cung cấp nhằm hỗ trợ các DN nguồn vốn để mở rộng hoạt động SXKD, đầu tư hoặc giải quyết các vấn đề về lưu động, thanh khoản. (2020): Cho vay KHDN là dịch vụ tài chính đóng vai trò quan trọng trong dịch vụ của NHTM. Đây là hoạt động hỗ trợ các DN có nguồn vốn để mở rộng kinh doanh, sản xuất, đầu tư, nâng cao khả năng cạnh tranh và tạo các cơ hội việc làm cho người lao động. Mỗi hình thức cho vay KHDN sẽ có quy định riêng về lãi suất, thủ tục và điều kiện.
Như vậy, trong phạm vi của luận văn, định nghĩa về cho vay KHDN có thể khái quát như sau: “Cho vay KHDN là một hình thức cấp tín dụng của NHTM cho đối tượng là KHDN, theo đó NHTM sẽ tạm thời chuyển giao hoặc cam kết chuyển giao một khoản tiền cho DN để sử dụng vào mục đích xác định (thường là các mục đích về đầu tư, mở rộng SXKD) trong khoảng thời gian nhất định dựa trên thỏa thuận trên nguyên tắc có hoàn trả cả gốc lẫn lãi”. Cho vay KHDN là hoạt động giúp các NHTM góp phần vào việc thúc đẩy sự phát triển của kinh tế - xã hội, thông qua cung cấp vốn cho các DN để tạo cơ hội việc làm, tăng thu nhập cho người dân và đóng góp một phần thu nhập vào nguồn ngân sách của nhà nước.Đặc điểm của cho vay khách hàng doanh nghiệp Tại các nước đang phát triển, cho vay KHDN là một lĩnh vực đầy tiềm năng vì số lượng DN ngày càng tăng nhanh và nhu cầu vay vốn rất lớn. Hơn nữa, cho vay KHDN góp phần rất lớn trong sự vận động và lưu thông nguồn vốn trong xã hội. Cho vay KHDN có một số đặc điểm cơ bản sau: Thứ nhất, cho vay KHDN tiềm ẩn nhiều rủi ro.
Các DN hoạt động SXKD phải chịu sự ảnh hưởng của nhiều yếu tố bên ngoài, đặc biệt là sự biến động của nền kinh tế. Ngoài ra, tài sản thế chấp của các DN thường là các nhà xưởng, máy móc, hàng hóa của chính họ; những tài sản này có đặc điểm khó định giá, kiểm soát, tính thanh khoản thấp và phức tạp. Một số loại rủi ro có thể xảy ra gồm: − Rủi ro tiềm ẩn: Các DN có thể mất khả năng trả nợ, hoặc chậm trễ trong việc trả nợ so với thời hạn đã thỏa thuận trong hợp đồng dẫn tới NHTM có thể mất tiền vốn và lãi. − Rủi ro thị trường: Các yếu tố thị trường như: biến động giá cả, điều chỉnh chính sách, giới hạn về nhập và xuất khẩu có thể ảnh hưởng tới khả năng trả nợ và tình hình SXKD của DN.
− Rủi ro thông tin: NHTM đánh giá chưa chính xác về năng lực trả nợ của DN do DN cung cấp các thông tin không chính xác và không đầy đủ. − Rủi ro quản lý: Sự quản lý kém trong một số DN gây ảnh hưởng tới kết quả kinh doanh và khả năng trả nợ của họ. Như vậy, cho vay KHDN có thể ẩn chứa rất nhiều rủi ro, đòi hỏi các NHTM phải đánh giá DN một cách rất kỹ lưỡng trước khi đồng ý cho vay vốn. Thứ hai, số lượng KH thấp nhưng dư nợ cao.
So với số lượng KH cá nhân, hộ gia đình, KHDN có số lượng ít hơn nhiều dẫn đến số lượng KHDN vay vốn cũng thấp hơn nhiều so với KH cá nhân. Tuy nhiên, các khoản vay của KH cá nhân, hộ gia đình thường có quy mô nhỏ trong khi quy mô khoản vay của KHDN thường lớn do các khoản vay này thường liên quan tới việc đầu tư, mở rộng SXKD. Hơn nữa, các khoản vay này cũng thường là các khoản vay dài hạn, chính vì vậy dư nợ cho vay KHDN thường chiếm tỷ trọng lớn trong tổng dư nợ cho vay của NHTM. Một số giải pháp có thể thực hiện để tăng tỷ trọng KHDN như đơn giản hóa các thủ tục, ưu đãi phí dịch vụ, lãi suất và đưa ra các chính sách hỗ trợ….
với mục tiêu hấp dẫn nhiều KHDN vay vốn. 11 Thứ ba, thông tin của KHDN có độ tin cậy cao hơn KH cá nhân, hộ gia đình. Muốn hoạt động kinh doanh, các DN bắt buộc phải công khai thông tin, đăng ký thông tin với Sở Kế hoạch và đầu tư tại các địa phương và các DN được đặt dưới sự quản lý của cơ quan thuế, đồng thời các DN phải tuân thủ quy định về báo cáo, kiểm toán định kỳ hàng năm. Do đó, các thông tin của KHDN đã được cơ quan kiểm toán, cơ quan thuế kiểm chứng có độ tin cậy cao.
Thứ tư, đối tượng cho vay KHDN của NHTM rất đa dạng. Đối tượng cho vay KHDN rất phong phú và đa dạng do các DN có thể tập trung ở nhiều lĩnh vực khác nhau (hàng tiêu dùng, vận chuyển, dệt may,….) với quy mô và địa bàn khác nhau. Các đối tượng của cho vay KHDN thường bao gồm tổ chức phi lợi nhuận, DN vừa và nhỏ, tập đoàn, công ty. Thứ năm, DN có nhu cầu vay rất lớn nhưng khả năng đáp ứng về tài sản bảo đảm có giới hạn.
Các DN thường có nhu cầu vay vốn khá lớn để đáp ứng nguồn vốn thiếu hụt cho hoạt động SXKD. Tuy nhiên, chỉ có một số ít tài sản trong những tài sản mà DN nắm giữ đảm bảo được điều kiện của tài sản bảo đảm nợ vay.Phân loại cho vay khách hàng doanh nghiệp Các cách phân loại cho vay KHDN phổ biến gồm: căn cứu vào thời hạn cho vay, căn cứ vào hình thức đảm bảo, căn cứ vào phương thức cho vay, căn cứ vào mục đích cho vay. Cụ thể: − Thứ nhất, căn cứ vào thời hạn cho vay: + Cho vay ngắn hạn: là hình thức cho vay có thời hạn từ một năm trở xuống nhằm đáp ứng nhu cầu vốn thường xuyên và nhu cầu vốn do đặc điểm SXKD theo thời vụ của DN. Đa phần các khoản vay này có thể cầm cố tài sản hoặc thế chấp.
+ Cho vay trung và dài hạn: là hình thức cho vay có thời hạn từ trên một năm đến năm năm đối với cho vay trung hạn và trên năm năm với cho vay dài hạn. Mục đích chủ yếu để tài trợ cho nhu cầu mua sắm trang thiết bị, xây dựng nhà xưởng, mua công nghệ, cải tiến kĩ thuật hay để đầu tư cho các dự án có thời gian tương ứng. − Thứ hai, căn cứ vào hình thức đảm bảo: + Cho vay không tài sản bảo đảm (tín chấp): là cho vay không có tài sản thế chấp, cầm cố hay bảo lãnh của người thứ ba, việc cho vay chỉ dựa vào uy tín của bản thân DN. 12 NH dựa trên các yếu tố như: phương án SXKD, lợi nhuận, khả năng tài chính, nhân phẩm,.
của KHDN để xét duyệt khoản vay. + Cho vay có tài sản bảo đảm: là cho vay dựa trên cơ sở các KHDN thế chấp, cầm cố tài sản cho NHTM, hoặc được bảo lãnh bằng tài sản của bên thứ 3. Điều này giúp NHTM có quyền xử lý các tài sản đó để thu hồi tiền cho vay khi KHDN vi phạm hợp đồng. − Thứ ba, căn cứ vào phương thức cho vay: + Cho vay từng lần: là hình thức cho vay theo từng món của NHTM.
Mỗi lần vay yêu cầu bộ hồ sơ vay vốn và hợp đồng tín dụng riêng biệt với các lần vay trước đó. Nó thường áp dụng cho KHDN có nhu cầu vay vốn không thường xuyên, SXKD không ổn định, kinh doanh theo thời vụ, không đủ điều kiện để cấp hạn mức thấu chi. Vốn tín dụng trong hình thức này chỉ tham gia vào một giai đoạn hoặc một chu kỳ nhất định trong SXKD. + Cho vay theo hạn mức tín dụng: là hình thức NHTM cấp cho KHDN một hạn mức tín dụng trong một khoảng thời gian nhất định hoặc theo chu kỳ SXKD theo thoả thuận dựa trên xét duyệt kế hoạch tài chính của KHDN.
KHDN được vay vốn trong phạm vi số dư của hạn mức tín dụng và tổng số tiền vay trong kỳ có thể lớn hơn hạn mức tín dụng nhiều lần trong trường hợp KHDN vay và trả nhiều đợt trong kỳ. + Cho vay theo dự án đầu tư: là hình thức NH cho KH vay vốn để thực hiện đầu tư phát triển SXKD, dịch vụ và các dự án đầu tư phục vụ đời sống. Hình thức này chia sẻ lợi ích và rủi ro cho cả hai bên KHDN và NHTM. + Cho vay hợp vốn: là hình thức hai hoặc nhiều NHTM cùng cho vay đối với một dự án vay vốn hoặc phương án vay vốn của KHDN.
Trong đó có một NHTM làm đầu mối để phối hợp với các NHTM khác. Hình thức này phải tuân theo quy chế đồng tài trợ của các TCTD do Thống đốc Ngân hàng Nhà nước (NHNN) ban hành. Hai hình thức cho vay hợp vốn phổ biến là bảo lãnh NH và bao thanh toán. + Cho vay trả góp: là hình thức cho vay số lãi vốn vay phải trả cộng với số nợ gốc chưa trả được chia ra để trả nợ theo nhiều kỳ hạn trong thời hạn cho vay, thường là theo tháng hoặc quý.
Hình thức vay này có thể áp dụng khi mua các tài sản có giá trị cao như máy móc thiết bị, nhà xưởng, ô tô. 13 + Cho vay theo hạn mức thấu chi: NHTM cho phép KHDN sử dụng một số tiền vượt quá số dư tiền gửi thanh toán của mình tới một giới hạn nhất định, trong một thời gian xác định theo thỏa thuận và đảm bảo đúng quy định của pháp luật. − Thứ tư, căn cứ vào mục đích cho vay: + Cho vay bất động sản: là hình thức NHTM cho KHDN vay các loại bất động sản như mặt bằng kinh doanh, nhà ở trong thời gian và mức phí đã thỏa thuận giữa hai bên.