CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ XẾP HẠNG TÍN DỤNG DOANH NGHIỆP TẠI CÁC ĐỊNH CHẾ TÀI CHÍNH 1. Tổng quan chung về xếp hạng tín dụng 1. Khái niệm về xếp hạng tín dụng Về định nghĩa, mỗi tổ chức tài chính định nghĩa “xếp hạng tín dụng” khác nhau, nhưng nội dung cốt lõi đều bao hàm ý kiến đánh giá chất lượng tín dụng hay khả năng trả nợ của chủ thể phát hành. Theo Viện nghiên cứu Nomura (Nomura Research Institute): Xếp hạng tín dụng là sự đánh giá hiện thời về mức độ sẵn sàng và khả năng trả (gốc, lãi) đối với chứng khoán nợ của một nhà phát hành trong suốt thời gian tồn tại của chứng khoán đó.
Theo Moody’s: Xếp hạng tín dụng là những ý kiến đánh giá về chất lượng tín dụng và khả năng thanh toán nợ của một nghĩa vụ nợ riêng lẻ hoặc chủ thể phát hành dựa trên các kết quả phân tích tín dụng cơ bản và thể hiện thông qua hệ thống ký hiệu từ Aaa đến C. Theo Standards & Poor’s: Xếp hạng tín dụng là những ý kiến đánh giá về rủi ro tín dụng, khả năng và sẵn sang thanh toán các nghĩa vụ tài chính một cách đầy đủ và đúng hạn của một chủ thể phát hành, như một Doanh nghiệp, một Chính Phủ. Xếp hạng tín dụng cũng đề cập đến chất lượng tín dụng của một khoản nợ riêng rẻ, như một trái phiếu doanh nghiệp hoặc một trái phiếu của chính quyền địa phương, và xác suất tương đối mà khoản phát hành đó có thể vỡ nợ. Như vậy, XHTD là các ý kiến đánh giá về chất lượng tín dụng và sẵn sàng thanh toán các nghĩa vụ tài chính (gốc, lãi) của đối tượng xếp hạng một cách đầy đủ và đúng hạn thông qua hệ thống phân loại theo ký hiệu đã được xác định trước suốt thời gian tồn tại của đối tượng xếp hạng đó.
Đặc điểm Xếp hạng tín dụng có một số đặc điểm sau: 5 - Xếp hạng tín dụng phản ánh cái nhìn về tương lai. Trong phân tích tín dụng, tổ chức xếp hạng đánh giá các thông tin lịch sử, hiện tại và ước lượng tiềm tàng của những sự kiện tương lai có thể dự báo được. Điều này hữu ích cho cả nhà đầu tư ngắn hạn và dài hạn. - XHTD không đảm bảo tuyệt đối chất lượng và rủi ro tín dụng trong tương lai vì các sự kiện trong tương lai không thể thấy trước.
- Xếp hạng tín dụng không phải là lời khuyên tài trợ, mua, bán hoặc nắm giữ các công cụ nợ. Xếp hạng tín dụng chỉ là một trong những nhân tố mà các nhà đầu tư có thể tham khảo, bên cạnh các nhân tố khác như: Danh mục đầu tư, chiến lược đầu tư, thời hạn đầu tư, giá trị chứng khoản nợ đã điều chỉnh rủi ro trước khi ra quyết định đầu tư và tài trợ.3 Vai trò của xếp hạng tín dụng 1.1 Đối với các tổ chức tín dụng Hiện nay hệ thống xếp hạng tín dụng, đặc biệt là XHTD doanh nghiệp có ý nghĩa cực kỳ quan trọng đối với các tổ chức tín dụng trong công tác quản trị rủi ro. Một hệ thống XHTD hiệu quả sẽ kiểm soát được mức độ tín dụng khách hàng, đánh giá hiệu quả danh mục tín dụng, danh mục đầu tư thông qua việc giám sát sự thay đổi dư nợ và phân loại nợ trong nhóm khách hàng đã được xếp hạng, qua đó điều chỉnh danh mục, áp dụng chính sách ưu tiên vào các nhóm khách hàng an toàn. Vai trò của XHTD trong các tổ chức tín dụng lúc này chính là cơ sở để quản trị rủi ro tín dụng nhằm hạn chế và giới hạn rủi ro ở mức mục tiêu, nhằm đảm bảo ổn định tính thanh khoản và thích ứng với các tình huống xấu có thể xảy ra.
Đồng thời, XHTD cũng hỗ trợ tổ chức tín dụng trong việc phân loại nợ và trích lập dự phòng rủi ro, tiến tới mục đích tối đa hóa lợi nhuận và bảo vệ sự ổn định của thị trường tài chính. Theo quyết định 493/2005/QĐ-NHNN về phân loại nợ, trích lập và sử dụng dự phòng để xử lý rủi ro tín dụng trong hoạt động của các tổ chức tín dụng. Hiện nay, một số định chế tài chính vẫn áp dụng việc trích lập dự phòng theo thời gian nợ của khách hàng. Tuy nhiên, khi tổ chức tín dụng có một hệ thống xếp hạng tín dụng hiệu quả như 6 một số ngân hàng thương mại tại Việt Nam, sẽ hỗ trợ cho việc sử dụng phương pháp định tính để xác định mức độ rủi ro của các khoản tín dụng, từ đó trích lập dự phòng theo tỷ lệ phù hợp trong thời gian tới (Áp dụng Thông tư 02/2013/TT - NHNN).
Xác định tương đối chính xác tổn thất ước tính thì việc trích lập dự phòng rủi ro trở nên đơn giản, hiệu quả và chính xác hơn. Không chỉ giúp xây dựng chính sách phân loại nợ và trích lập dự phòng rủi ro theo phương pháp định tính, công tác xếp hạng tín dụng còn là cơ sở để xây dựng chính sách tín dụng và chính sách khách hàng nhất quán, góp phần thực hiện nguyên tắc cho vay của các tổ chức tín dụng. Việc sàng lọc, phân loại khách hàng được tiến hành ngay từ khâu phê duyệt cấp tín dụng và thực hiện định kỳ thường xuyên trong suốt quá trình cho vay. Mỗi tổ chức tín dụng sẽ áp dụng những điều chỉnh về chính sách lãi suất, chính sách tài sản đảm bảo, hay các ưu tiên khác nhau cho mỗi nhóm khách hàng.2 Các đối tượng khác Đối với doanh nghiệp: Xếp hạng tín dụng giúp các doanh nghiệp mở rộng thị trường vốn trong nước, giảm bớt sự phụ thuộc vào các khoản vay của các tổ chức tín dụng, ngân hàng thương mại.
Xếp hạng tín dụng cũng giúp duy trì sự ổn định nguồn tài trợ cho doanh nghiệp, khi doanh nghiệp được các tổ chức XHTD đánh giá xếp hạng ở mức cao có thể duy trì được thị trường vốn, ngay cả khi thị trường vốn có những biến động bất lợi, kinh tế khó khăn, nguồn tài trợ vẩn linh hoạt hơn. Đặc biệt đối với các DN niêm yết trên thị trường chứng khoán sẽ được nhiều nhà đầu tư quan tâm hơn. Đối với nhà đầu tư: Xếp hạng tín dụng giúp cho nhà đầu tư có một công cụ để đánh giá về hoạt động kinh doanh, tài chính của doanh nghiệp, đánh giá được rủi ro tín dụng, giảm thiểu chi phí thu nhập, phân tích, theo dõi khả năng trả nợ của các tổ chức phát hành trái phiếu, công cụ nợ. Đồng thời, nhà đầu tư cũng có thể nhận được mức lãi suất cao hơn do giảm bớt được trung gian tài chính (ngân hàng) trong quá trình đầu tư.
Đối với cơ quan quản lý Nhà nước và thị trường tài chính: Xếp hạng tín dụng giúp thị trường tài chính minh bạch hơn, điều hành nền kinh tế hiệu quả, tăng cường khả năng giám sát thị trường của Ủy ban giám sát, Chính phủ và Ngân hàng Nhà Nước. 7 Hiện nay, các thị trường chứng khoán trên thế giới đều tồn tại các tổ chức xếp hạng tín dụng. Không chỉ có các tổ chức tín dụng mà cơ quan Nhà nước, nhà phát hành hay các nhà đầu tư cũng đều rất quan tâm đến xếp hạn tín dụng. Việc xếp hạn tín dụng sẽ giúp nâng cao tính công khai, lành mạnh, minh bạch của thị trường vì các thông số đã được công khai, phản ánh đầy đủ để các thành phần tham gia thị trường hoàn toàn chủ động trong việc lựa chọn mục tiêu.
Việt Nam cũng bắt đầu xuất hiện một vài công ty về xếp hạn tín dụng.4 Mục tiêu của hệ thống xếp hạng tín dụng Mục tiêu của hệ thống xếp hạng tín dụng nội bộ của các ngân hàng, các TCTD cũng như hệ thống xếp hạng tín dụng của các tổ chức chuyên xếp hạng quốc tế như Fitch, Moody's, S&P đều nhằm đánh giá về rủi ro tín dụng của ngân hàng, rủi ro do khách hàng không có khả năng hoàn trả vốn vay hoặc rủi ro do ngân hàng phải thực hiện thay các nghĩa vụ cam kết bảo lãnh cho khách hàng với một bên thứ ba. Tuy nhiên, do dựa trên các phương pháp luận và điều kiện khác nhau, nên có thể có những sự khác biệt trong cơ cấu và thiết kế của hệ thống xếp hạng tín dụng nội bộ của các ngân hàng thương mại so với các tổ chức xếp hạng quốc tế (bản thân giữa các tổ chức quốc tế cũng có sự khác nhau này). Theo thông lệ, hệ thống xếp hạng tín dụng nội bộ có thể được sử dụng trong các quy trình quản lý rủi ro tín dụng sau: Ban hành chính sách tín dụng, Quy trình cho vay, Giám sát rủi ro danh mục tín dụng, Lập báo cáo quản trị rủi ro, Chính sách dự phòng rủi ro tín dụng, Xác định mức vốn an toàn tối thiểu, Phân tích hiệu quả sinh lời của danh mục tín dụng và Xác định khung lãi suất tiêu chuẩn. Các đặc điểm về cấu trúc, thiết kế và vận hành của hệ thống xếp hạng tín dụng nội bộ có thể khác nhau giữa các ngân hàng, TCTD.
Ví dụ như: Cơ cấu của các chỉ tiêu đánh giá, Trọng số của các chỉ tiêu, Số lượng các mức xếp hạng, ước tính mức rủi ro gắn liền với các mức xếp hạng, Các chính sách khách hàng, chính sách tín dụng áp dụng cho từng mức xếp hạng tín dụng. Nhìn chung, khi xây dựng một hệ thống xếp hạng tín dụng nội bộ, các ngân hàng, TCTD đều cân nhắc đến các yếu tố như: chi phí 8 và lợi ích của việc thu thập và đánh giá thông tin, tính nhất quán của các tiêu chí đánh giá, tính hợp lý của các mức xếp hạng tín dụng tương ứng với các mức rủi ro xác định, các chính sách đối với cán bộ tín dụng, chiến lược hoạt động kinh doanh của tổ chức mình và việc ứng dụng các kết quả xếp hạng tín dụng vào hoạt động quản trị. * Các nhân tố ảnh hưởng đến công tác xếp hạng tín dụng nội bộ đối với khách hàng doanh nghiệp: - Hoạt động của doanh nghiệp và các nhân tố môi trường kinh doanh - Các nhân tố bên trong của TCTD thực hiện việc xếp hạng tín dụng 1.5 Xếp hạng tín dụng theo Basel II (Internal Rating Basel – IRB) Để chuẩn hóa hoạt động của hệ thống các ngân hàng trên thị trường tài chính quốc tế, các ngân hàng lớn trên thế giới (chủ yếu ở châu Âu) đã thực hiện một số công cụ, trong đó có Hiệp ước Basel (còn gọi là Basel I). Hàng loạt những rủi ro phát sinh trong lĩnh vực tài chính ngân hàng đã khiến Chính phủ các quốc gia phải cải tiến Basel I (1988).