Chương 1: Tổng quan lý thuyết về thẩm định giá doanh nghiệp. (Từ trang 15 đến trang 49) Chương 2: Mô hình dòng lưu kim chiết khấu và các biến thể của nó. (Từ trang 50 đến trang 63) Chương 3: Thực trạng vận dụng mô hình dòng lưu kim chiết khấu trong thẩm định giá doanh nghiệp ở Việt Nam. (Từ trang 64 đến trang 81) Chương 4: Một số đề xuất cải tiến việc vận dụng mô hình dòng lưu kim chiết khấu trong thẩm định giá doanh nghiệp ở Việt Nam.
(Từ trang 82 đến trang 104) Lời kết luận (từ trang 105 đến trang 107) sẽ trình bày một cách khái quát về kết quả nghiên cứu cũng như những đóng góp tiềm năng của đề tài trên cả hai 24 phương diện lý luận và thực tiễn. Đồng thời, tác giả cũng sẽ chỉ ra những hạn chế của đề tài và các gợi ý nghiên cứu bổ sung trong tương lai. Phần phụ lục (từ trang PL1-1 đến trang PL3-38) thuyết minh thêm một số vấn đề liên quan đến nội dung chính của đề tài, hoặc cung cấp các dữ liệu phục vụ việc phân tích trong đề tài, bao gồm: Phụ lục 1: Mô hình tăng trưởng ổn định Gordon trong định giá cổ phiếu. Phụ lục 2: Trích minh hoạ số 1 và số 2 của Phụ lục số 2, ban hành theo Thông tư số 126/2004/TT-BTC ngày 04.2004 của Bộ Tài chính.
Phụ lục 3: Tổng quan về dự báo theo mô hình dãy số thời gian và ví dụ minh hoạ cho gợi ý chính sách. TỔNG QUAN LÝ THUYẾT VỀ THẨM ĐỊNH GIÁ DOANH NGHIỆP 1. THẨM ĐỊNH GIÁ VÀ THẨM ĐỊNH GIÁ DOANH NGHIỆP 1. Khái niệm về thẩm định giá Ủy ban tiêu chuẩn thẩm định giá quốc tế (UBTCTĐGQT, 2006: 431), định nghĩa một cách ngắn gọn: thẩm định giá là một “quá trình ước tính giá trị”.Seabrooke thuộc Viện Đại học Portsmouth, Vương quốc Anh cho rằng “thẩm định giá là sự ước tính giá trị của các quyền sở hữu tài sản cụ thể bằng hình thái tiền tệ cho một mục đích đã được xác định”(Cục quản lý giá, 2007: 203).
Giáo sư Lim Lan Yuan, Tổng thư ký Hiệp hội thẩm định giá Asean, Chủ tịch Hiệp hội các tổ chức thẩm định giá thế giới định nghĩa rằng “thẩm định giá là một nghệ thuật hay khoa học về ước tính giá trị cho một mục đích cụ thể của một tài sản cụ thể tại một thời điểm, có cân nhắc đến tất cả những đặc điểm của tài sản cũng như xem xét tất cả các yếu tố kinh tế căn bản của thị trường” (Cục quản lý giá, 2007: 203). Ở nước ta, khoản 2, điều 4 của Pháp lệnh giá Việt Nam 7 chỉ rõ:“Thẩm định TPF FPT giá là việc đánh giá hoặc đánh giá lại giá trị của tài sản phù hợp với thị trường tại một địa điểm, thời điểm nhất định theo tiêu chuẩn Việt Nam hoặc thông lệ quốc tế”. Có thể thấy khái niệm về thẩm định giá ở Việt Nam cũng chứa đựng những nội dung cơ bản, và tương tự như khái niệm thẩm định giá trên thế giới, nghĩa là 7 TP Pháp lệnh số 40/2002/PL-UBTVQH10 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội khoá X, ngày 26/04/2002 về giá. PT Có hiệu lực thi hành từ ngày 01/07/2002.
26 cũng bao hàm một sự ước tính giá trị của một tài sản nhất định, cho những mục đích nhất định. Khái niệm trên cũng chỉ ra rằng mục đích của thẩm định giá chính là xuất phát điểm cho việc lựa chọn quy trình và phương pháp để ước tính giá trị của tài sản. Mục đích thẩm định giá khác nhau có thể dẫn các đến quy trình và phương pháp ước tính giá trị tài sản khác nhau. Ngay cả quá trình “ước tính” cũng hàm chứa khả năng tạo ra những kết quả thẩm định giá không thống nhất cho cùng một loại tài sản và cùng một mục đích thẩm định giá, bởi việc “ước tính” ấy có thể được thực hiện dựa trên những nền tảng giả định và niềm tin khác nhau.
Doanh nghiệp, giá trị doanh nghiệp, và thẩm định giá doanh nghiệp Khoản 1, điều 4, Luật Doanh nghiệp Việt Nam 8 định nghĩa: “doanh nghiệp TPF FPT là tổ chức kinh tế có tên riêng, có tài sản, có trụ sở giao dịch ổn định, được đăng ký kinh doanh theo quy định của pháp luật nhằm mục đích thực hiện các hoạt động kinh doanh”. Vì là một tổ chức, có tài sản, theo đuổi mục tiêu sinh lợi thông qua những hoạt động kinh doanh của con người, nên rõ ràng giá trị doanh nghiệp sẽ phải khác với giá trị một tài sản thuần tuý. Giá trị của doanh nghiệp không chỉ là phép cộng giản đơn giá trị của các tài sản hữu hình hiện có tại doanh nghiệp, mà còn phải tính đến giá trị của các tài sản vô hình cũng như các tác động của tình hình hoạt động kinh doanh trong hiện tại và những triển vọng trong tương lai, tình hình tài chính, những ưu thế về nguồn lực con người trong doanh nghiệp, và ngay cả lợi thế của vị trí mà trụ sở doanh nghiệp đang toạ lạc. Điều này cũng hàm ý rằng thẩm định giá doanh nghiệp là một vấn đề phức tạp hơn nhiều lần so với việc thẩm định giá một tài sản riêng biệt nào đó.
8 TP Luật doanh nghiệp được Quốc hội nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam khoá XI, kỳ họp thứ 8 thông PT T qua ngày 29 tháng 11 năm 2005, có hiệu lực thi hành từ 01/07/2006. T 27 Một cách khái quát, nếu xuất phát từ khái niệm thẩm định giá đã nêu ở trên, ta có thể hiểu thẩm định giá doanh nghiệp là sự ước tính giá trị doanh nghiệp tại một thời điểm nhất định, cho một mục đích nhất định, và bằng những phương pháp nhất định phù hợp với mục đích thẩm định đó. Ủy ban tiêu chuẩn thẩm định giá quốc tế định nghĩa rằng “thẩm định giá doanh nghiệp là một hoạt động hay quá trình thực hiện để đạt được việc đánh giá hay ước tính giá trị của một doanh nghiệp, công việc kinh doanh, hoặc các khoản lợi ích của chúng”(UBTCTĐGQT, 2006: 229). Ở Việt Nam hiện nay vẫn còn những cách gọi khác nhau như: thẩm định giá doanh nghiệp ; xác định giá trị doanh nghiệp ; ước tính giá trị doanh nghiệp; hay đơn giản chỉ là lượng giá doanh nghiệp.
Tuy vậy, để đảm bảo tính nhất quán, tác giả sẽ sử dụng thuật ngữ thẩm định giá doanh nghiệp trong toàn bộ luận văn này. Mục tiêu thẩm định giá doanh nghiệp Nói chung, giá trị một doanh nghiệp nào đó không chỉ khác nhau đối với những người mua khác nhau, mà còn khác nhau giữa người mua và người bán. Sự khác nhau này có thể đến từ vô số lý do như: sự khác biệt về mục tiêu giữa người mua và người bán ; hoặc sự khác biệt trong niềm tin về triển vọng của doanh nghiệp hoặc của ngành mà doanh nghiệp đang sinh hoạt trong đó. Chẳng hạn như một doanh nghiệp nước ngoài có quy mô lớn và trình độ kỹ thuật công nghệ cao muốn mua lại một doanh nghiệp nội địa khá nổi tiếng để xâm nhập thị trường và tận dụng sự nổi tiếng của thương hiệu nội địa này.
Đứng trên quan điểm của doanh nghiệp nước ngoài (người mua), họ chỉ định giá cho thương hiệu chứ không phải cho các tài sản, máy móc.của doanh nghiệp nội địa, đơn giản bởi vì bản thân họ đã có trình độ công nghệ tiến bộ hơn. Do vậy, mục tiêu cơ bản của người mua là ước tính mức giá tối đa mà họ có thể trả cho những gì mà doanh nghiệp nội địa có thể đóng góp cho hoạt động tương lai của mình (tức ước tính mức giá có thể trả cho giá trị của thương hiệu nội địa). 28 Đứng trên góc độ của người bán, doanh nghiệp nội địa cố gắng ước tính mức giá tối thiểu mà họ sẽ chấp nhận bán, và mức giá này phải phản ảnh được giá trị của cả những nguồn tài nguyên (máy móc, thiết bị.) phục vụ sản xuất mà họ sở hữu. Hai mức giá nêu trên sẽ là hai thái cực được đưa ra trên bàn thương lượng cho đến khi cả hai bên mua-bán nhất trí được một mức giá chung, nằm đâu đó giữa hai thái cực này.
Minh hoạ trên cho thấy mục tiêu thẩm định sẽ có tác động mang tính quyết định đến kết quả thẩm định giá doanh nghiệp. Việc thẩm định giá doanh nghiệp có thể phục vụ cho nhiều mục tiêu đa dạng khác nhau. Các mục tiêu khác nhau sẽ kéo theo sự khác nhau trong quy trình và phương pháp thẩm định, dẫn tới những kết quả có thể không hoàn toàn giống nhau. Phần dưới đây tóm tắt một số mục tiêu chủ yếu của việc thẩm định giá doanh nghiệp.
Kết quả thẩm định giá doanh nghiệp là căn cứ cho các thương lượng trong hoạt động hợp nhất và sáp nhập doanh nghiệp, thành lập liên doanh hoặc thay đổi tỷ lệ sở hữu giữa các bên liên doanh. Kết quả thẩm định giá doanh nghiệp là căn cứ để cơ quan Nhà nước có thẩm quyền xem xét, phê duyệt chi từ ngân sách Nhà nước, tính thuế, xác định giá trị tài sản đảm bảo vay vốn ngân hàng, mua bảo hiểm, cho thuê, chuyển nhượng, bán, góp vốn, cổ phần hóa, giải thể doanh nghiệp DNNN. Kết quả thẩm định giá trị các doanh nghiệp cổ phần đã niêm yết là cơ sở để các nhà đầu tư (tổ chức và cá nhân) quyết định mua, bán, hay cầm giữ chứng khoán do các doanh nghiệp phát hành. Giá trị của doanh nghiệp còn được nhà đầu tư sử dụng để quyết định nên tập trung vào loại chứng khoán nào (chẳng hạn những chứng khoán dường như đang được thị trường định giá thấp hơn giá trị nội tại của chúng) trong danh mục đầu tư của mình.
Như đã nêu trong lời mở đầu của luận văn, đứng trên góc độ của công ty cổ phần thực hiện huy động vốn, kết quả thẩm định giá doanh nghiệp sẽ là cơ sở quan trọng cho việc xác định giá khởi điểm của cổ phiếu trong đấu giá 29 một cách phù hợp. Điều này không chỉ giúp bảo vệ quyền lợi của bản thân doanh nghiệp và các nhà đầu tư, mà còn đảm bảo cho sự thành công của quá trình phát hành cổ phiếu lần đầu ra công chúng. Kết quả thẩm định cũng cung cấp phương tiện cho việc đo lường tác động của những chính sách và chiến lược của doanh nghiệp đối với việc tạo ra hay phá huỷ giá trị doanh nghiệp. Điều này thúc đẩy doanh nghiệp cải tiến liên tục, nâng cao hiệu quả hoạt động sản xuất kinh doanh của mình.