Chương 1: Giới thiệu. 2 Chương 2: Tổng quan các lý thuyết và các nghiên cứu thực nghiệm trước đây. Tổng quan các lý thuyết. Tổng quan các nghiên cứu thực nghiệm trước đây.
8 Chương 3: Phương pháp nghiên cứu. Dữ liệu nghiên cứu. Mô hình nghiên cứu. Phương pháp nghiên cứu.
Định nghĩa các biến. 20 Chương 4: Nội dung và kết quả nghiên cứu. Thống kê mô tả các biến. Ma trận tương quan giữa các biến.
Kết quả nghiên cứu. 42 Chương 5: Kết luận. 50 Tài liệu tham khảo. 52 Phụ lục DANH MỤC CÁC BẢNG Bảng 3.1: Điều kiện xác định mô hình .2: Cách thức đo lường các biến trong mô hình .3: Kỳ vọng tác động của các nhân tố lên rủi ro của dòng tiền tự do [FCF] và đòn bầy [Lev] theo các lý thuyết và nghiên cứu thực nghiệm.1: Thống kê mô tả các biến .2: Thống kê mô tả các biến đối với nhóm doanh nghiệp có rủi ro dòng tiền tự do cao và thấp (phân loại theo giá trị trung bình [FCF]).3: Ma trận tương quan giữa các biến .4: Kết quả phương trình (1) .5: Kết quả phương trình (2) .6: Tổng kết các kết quả nghiên cứu của đề tài.
48 1 TÓM TẮT Bài nghiên cứu nhằm mục tiêu kiểm định mối liên hệ của cấu trúc sở hữu, chính sách nợ và dòng tiền tự do để giúp cho các nhà quản trị, cổ đông tăng tính hiệu quả trong việc quản lý điều hành và giảm thiểu các vấn đề của dòng tiền tự do. Dựa trên một mẫu gồm 106 công ty đang niêm yết tại thị trường chứng khoán Việt Nam trong vòng 5 năm từ năm 2008 đến năm 2012 với dữ liệu được lấy từ báo cáo tài chính hàng năm, cáo cáo thường niên của các công ty trong mẫu và sử dụng phương pháp bình phương tối thiểu ba bước (Three Stage Least Square – 3SLS), kết quả cho thấy có sự ảnh hưởng của đòn bẩy lên rủi ro dòng tiền tự do của doanh nghiệp. Cụ thể, đòn bẩy sẽ làm giảm mức độ rủi ro dòng tiền tự do và tác động của đòn bẩy lên rủi ro dòng tiền tự do là tương quan âm đáng kể, phù hợp với giả thuyết dòng tiền tự do. Tuy nhiên, kết quả lại không ghi nhận có tác động ngược của vấn đề đầu tư quá mức đến việc sử dụng đòn bẩy.
Với cơ cấu sở hữu, kết quả cho thấy sở hữu quản lý đóng vai trò quan trọng trong việc cắt giảm rủi ro của dòng tiền tự do với hàm ý để nâng cao hiệu quả hoạt động công ty, xu hướng cân bằng lợi ích giữa cổ đông và nhà quản trị là điều tất yếu khi có sự tham gia của cổ đông vào việc giám sát hoạt động công ty. Ngược lại, ảnh hưởng sở hữu nhà nước, sở hữu định chế lại không có ý nghĩa về mặt thống kê. 2 Chƣơng 1 GIỚI THIỆU Nghiên cứu về vấn đề quản lý doanh nghiệp cũng như các quyết định tài trợ từ lâu đã là một chủ đề thú vị và cũng gây nhiều tranh cãi của các nhà khoa học trên thế giới. Các ý kiến bất đồng cũng như các lý thuyết giải thích cho vấn đề này lần lượt được nêu ra và kiểm định tại các thị trường khác nhau.
Theo đó, lý thuyết đại diện được Jensen và Meckling (1976) đưa ra xuất phát từ mâu thuẫn lợi ích giữa các nhà quản trị công ty cổ phần (người đại diện) và các cổ đông (chủ sở hữu). Trong môi trường bất cân xứng thông tin, mâu thuẫn này sẽ làm phát sinh chi phí đại diện. Ví dụ như, khi một doanh nghiệp có dòng tiền tự do cao nhưng lại thiếu các cơ hội đầu tư sinh lợi, các nhà quản trị có thể đầu tư dòng tiền vượt trội này vào các hoạt động mà có thể làm giảm giá trị công ty thay vì giữ lại để chia cho cổ đông hay còn gọi là vấn đề đầu tư quá mức. Để giải quyết vấn đề này, lý thuyết dòng tiền tự do (Jensen, 1986) ra đời được xem như là giải pháp khả thi để giải quyết mâu thuẫn về lợi ích có thể xảy ra giữa cổ đông và nhà quản trị trong công ty.
Bằng cách tăng nợ thì các nhà quản trị sẽ bị ràng buộc bởi việc chi trả dòng tiền tương lai. Tuy nhiên, việc sử dụng đòn bẩy lại làm tăng mâu thuẩn giữa cổ đông và các trái chủ. Cho nên, vấn đề là làm thế nào để động viên các nhà quản trị trả lại tiền mặt thay vì đầu tư nó dưới chi phí vốn hay lãng phí nó vào các hoạt động kém năng suất và dòng tiền tự do là nhân tố chính của vấn đề. Mặc dù, trên thế giới đã có rất nhiều bài nghiên cứu lý thuyết và thực nghiệm về mối quan hệ giữa dòng tiền tự do, chính sách nợ và cấu trúc sở hữu.
Tuy nhiên, qua khảo sát thực tế, ở Việt Nam hiện còn chưa nhiều bài nghiên cứu đầy đủ về chủ đề này. Có thể thấy, Việt Nam đang là một quốc gia đang phát triển, phần lớn các doanh nghiệp tại Việt Nam có quy mô vừa và 3 nhỏ với mức độ tập trung sở hữu cao, cổ đông nhà nước chiếm đa số, các cổ đông nằm trong ban quản lý cũng chiếm số lượng lớn. Ngoài ra, mô hình quản trị của các công ty cổ phần Việt Nam khá giống với hầu hết các nền kinh tế mới nổi, với những đặc điểm như tỷ lệ cổ đông nội bộ ớn, thông tin công bố ạn chế ảo vệ cổ đông thiểu số Cho nên, từ những đặc điểm đó, các câu hỏi đặt ra là: - Liệu có tồn tại mối tương quan giữa cấu trúc sở hữu – chính sách nợ - dòng tiền tự do trong các doanh nghiệp Việt Nam như các nghiên cứu khác trên thế giới hay không? - Cấu trúc sở hữu có tác động như thế nào đến dòng tiền tự do, nó làm tăng hay giảm chi phí đại diện của dòng tiền tự do? - Chính sách nợ có ảnh hưởng như thế nào trong việc giảm thiểu vấn đề của dòng tiền tự do? - Những công ty đang đối mặt với vấn đề đầu tư quá mức sẽ có cấu trúc vốn như thế nào? Xuất phát từ những cơ sở nêu trên, tác giả đã lựa chọn đề tài “Mối liên hệ giữa cấu trúc sở hữu, chính sách nợ và dòng tiền tự do – Bằng chứng tại các doanh nghiệp niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam” nhằm mục tiêu kiểm định mối tương quan giữa cấu trúc sở hữu, chính sách nợ và dòng tiền tự do để từ đó đưa ra các đề xuất giúp cho các nhà quản trị, cổ đông tăng tính hiệu quả trong việc quản lý điều hành và giảm thiểu các vấn đề của dòng tiền tự do. Bài nghiên cứu sử dụng mẫu là dữ liệu dạng bảng của 106 công ty phi tài chính niêm yết trên Sở Giao dịch chứng khoán Thành phố Hồ Chí Minh 4 (HOSE) và Sở Giao dịch chứng khoán Hà Nội (HNX) trong giai đoạn từ năm 2008 đến năm 2012 dựa trên nghiên cứu của Ben Moussa Fatma (2011).
Phần còn lại của bài nghiên cứu được sắp xếp như sau: chương 2 là tổng quan các lý thuyết và nghiên cứu thực nghiệm trước đây, chương 3 là phương pháp nghiên cứu, chương 4 là trình bày nội dung, các kết quả nghiên cứu và chương cuối cùng tổng kết lại các kết luận chính và các hàm ý của nghiên cứu này. 5 Chƣơng 2 TỔNG QUAN CÁC LÝ THUYẾT VÀ CÁC NGHIÊN CỨU THỰC NGHIỆM TRƢỚC ĐÂY 2.1 Tổng quan các lý thuyết Nhìn chung, các nghiên cứu tại thị trường các nước phát triển cũng như những nước mới nổi trong thời gian vừa qua nhằm mục tiêu tìm ra mối liên hệ giữa các nhân tố cấu trúc sở hữu, chính sách nợ và dòng tiền tự do đều dựa trên các lập luận lý thuyết đại diện của Jensen và Meckling (1976), lý thuyết thông tin bất cân xứng, lý thuyết đánh đổi của Myers (1977), lý thuyết trật tự phân hạng của Myers và Majluf (1984) và lý thuyết dòng tiền tự do của Jensen (1986), cụ thể như sau: Lý thuyết đại diện (The agency theory) Lý thuyết đại diện được Jensen và Meckling (1976) đưa ra xuất phát từ mâu thuẫn lợi ích giữa các nhà quản trị của công ty (người đại diện) và các cổ đông (chủ sở hữu) do có sự tách biệt giữa quyền sở hữu và quyền quản lý. Các chủ sở hữu không trực tiếp tham gia hoạt động hàng ngày của doanh nghiệp mà việc này được giao lại cho các nhà quản trị (người được thuê bởi chủ sở hữu). Trong môi trường bất cân xứng thông tin, mâu thuẫn này sẽ làm phát sinh chi phí đại diện.
Vấn đề chi phí đại diện nghiêm trọng hơn trong các doanh nghiệp có dòng tiền vượt quá mức cần thiết để thực hiện tất cả các dự án có hiện giá dòng tiền ròng (NPV) dương. Cụ thể, khi một doanh nghiệp có dòng tiền tự do cao nhưng lại thiếu các cơ hội đầu tư sinh lợi, các nhà quản trị có thể đầu tư dòng tiền thặng dư này vào các hoạt động có thể làm giảm giá trị công ty hay còn gọi là vấn đề đầu tư quá mức. Ông gọi dòng tiền dôi dư này là dòng tiền tự do, và hậu quả của chi phí đại diện do dòng tiền này là chi phí đại diện của dòng tiền tự do. Lý thuyết đại diện cho rằng chi phí đại diện 6 này có thể được giảm bớt thông qua việc gia tăng chi trả cổ tức và sử dụng đòn bẩy.
Khi chi trả cổ tức càng nhiều sẽ làm giảm dòng tiền tự do của công ty. Trường hợp, nếu công ty có nhu cầu vốn đầu tư mới thì có thể huy động nguồn tài trợ từ vay nợ. Đồng thời khi gia tăng nợ vay, một phần của dòng tiền tạo ra sẽ được chi trả cho các chủ nợ để thực hiện các nghĩa vụ cam kết, nếu không, có thể dẫn công ty đến con đường phá sản. Tuy nhiên vay nợ nhiều hơn sẽ khiến chi phí đại diện của nợ tăng lên (chi phí đại diện phát sinh do mâu thuẫn giữa cổ đông và trái chủ).
Theo đó, cổ đông có thể chiếm hữu tài sản của chủ nợ bằng cách gia tăng rủi ro đầu tư. Bởi vì, lập luận của Jensen và Meckling được giả định dựa trên quyết định đầu tư độc lập với cấu trúc vốn. Cho nên, cổ đông của một doanh nghiệp có thể vay nợ, chuyển rủi ro cho chủ nợ bằng việc làm tăng rủi ro đầu tư sau khi đã nhận được các khoản vay.