Chương 1: Giới thiệu, trình bày lý do chọn đề tài, mục tiêu nghiên cứu, câu hỏi nghiên cứu, đối tượng nghiên cứu, phạm vi nghiên cứu và kết cấu đề tài. Chương 2: Cơ sở lý thuyết và mô hình nghiên cứu, tác giả trình bày các khái niệm, cơ sở lý thuyết và các nghiên cứu có liên quan về sự hài lòng trong công việc qua lược khảo tài liệu, từ đó xây dựng mô hình nghiên cứu và các thang đo. Chương 3: Thiết kế nghiên cứu, tác giả giới thiệu quy trình nghiên cứu, phương pháp nghiên cứu, cách chọn mẫu, xác định kích thước mẫu, công cụ thu thập dữ liệu, quá trình thu thập được tiến hành như thế nào và các kỹ thuật phân tích dữ liệu LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 5 thống kê được sử dụng trong đề tài này. Chương 4: Kết quả nghiên cứu, tác giả phân tích, diễn giải các dữ liệu đã thu thập được từ cuộc khảo sát bao gồm các kết quả kiểm định độ tin cậy, độ phù hợp thang đo và các kết quả thống kê suy diễn.
Chương 5: Kết luận và kiến nghị, tác giả tóm lược lại những kết quả quan trọng của đề tài, đặc biệt là mô hình nghiên cứu. Từ đó hàm ý một số chính sách trong việc nâng cao sự hài lòng trong công việc của CBCC thanh tra trong thời gian tới nhằm ổn định tổ chức, tinh thần làm việc của họ. Ngoài ra, trong chương này tác giả nêu ý nghĩa, mức độ đóng góp của đề tài, đồng thời đánh giá lại những hạn chế của đề tài để từ đó mở ra hướng nghiên cứu tiếp theo. LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 6 CHƢƠNG 2: CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ MÔ HÌNH NGHIÊN CỨU Chương 2 tác giả trình bày một số khái niệm, khung lý thuyết và lược khảo tài liệu để xây dựng mô hình các nhân tố ảnh hưởng đến sự hài lòng trong công việc của CBCC ngành thanh tra tỉnh Bến Tre.
Đồng thời lý giải cách thức xây dựng thang đo, đề xuất mô hình nghiên cứu và các thang đo. Giải thích một số khái niệm 2. Khái niệm sự hài lòng trong công việc Hiện nay có nhiều định nghĩa khác nhau về sự hài lòng/thỏa mãn (satisfaction1) trong công việc. Theo từ điển Bách khoa toàn thư mở (From Wikipedia, the free encyclopedia) định nghĩa sự hài lòng trong công việc (Job satisfaction) là sự thỏa mãn của một cá nhân đối với công việc của họ.
Trong khi đó, từ điển Oxford Advanced Learner’s Dictionary thì định nghĩa rằng sự hài lòng trong công việc là việc đáp ứng một nhu cầu hay mong muốn nào đó và vì vậy có thể hiểu sự hài lòng trong công việc là điều mà người lao động có được đáp ứng nhu cầu hay mong muốn của họ khi làm việc hay không. Nhìn từ tổng thể các nghiên cứu trước đây cho thấy sự hài lòng trong công việc được tiếp cận ở hai góc độ khác nhau, đó là sự hài lòng chung trong công việc và sự hài lòng đối với từng khía cạnh (thành phần) công việc. Cả hai cách tiếp cận này đều phù hợp cho việc đo lường mức độ hài lòng của nhân viên trong công việc (Price, 1997). Nghiên cứu sự hài lòng chung trong công việc giúp các nhà quản trị có cách nhìn khái quát về sự hài lòng nói chung của toàn thể nhân viên đối với tổ chức của mình.
Tuy nhiên, nghiên cứu sự hài lòng đối với từng khía cạnh công việc sẽ giúp cho nhà quản trị biết rõ hơn về những điểm mạnh, điểm yếu trong điều hành tổ chức và hoạt động nào được nhân viên đánh giá cao nhất hoặc kém nhất (Deconinck và Stilwell C. Sau đây là định nghĩa của một số tác giả tiêu biểu về sự hài lòng trong công việc: Định nghĩa sự hài lòng chung trong công việc 1 Trong đề tài này tác giả dịch nghĩa của từ “satisfaction” theo nghĩa sự hài lòng LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 7 Theo Hoppock (1935) sự hài lòng trong công việc là tổng hợp sự thỏa mãn về mặt tâm sinh lý và các yếu tố môi trường khiến cho một người thật sự cảm thấy hài lòng về công việc của họ (trích dẫn trong Aziri, 2011). Vroom (1964) định nghĩa sự hài lòng trong công việc tập trung vào vai trò của người lao động tại nơi làm việc. Vì vậy ông cho rằng sự hài lòng trong công việc là trạng thái mà người lao động có định hướng hiệu quả, rõ ràng đối với công việc trong tổ chức (trích dẫn trong Aziri, 2011).
Weiss và cộng sự (1967) cho rằng sự hài lòng trong công việc là thái độ về công việc được thể hiện bằng cảm nhận, niềm tin và hành vi của người lao động. Locke (1976) định nghĩa sự hài lòng trong công việc là cảm xúc tích cực do sự đánh giá trong công việc hoặc kinh nghiệm trong công việc của người lao động bằng cách so sánh kỳ vọng của một người từ công việc và những gì mà họ thực sự đạt được. Quinn và Staines (1979) cho rằng sự hài lòng trong công việc là phản ứng tích cực đối với công việc. Đó chính là tình cảm hay cảm xúc của người nhân viên đối với công việc.
Smith (1983) định nghĩa rằng sự hài lòng trong công việc đơn giản chỉ là cảm giác mà người lao động cảm nhận về công việc của họ. Ivancevich và cộng sự (1997) cho rằng sự hài lòng trong công việc đề cập đến thái độ, mối quan tâm của nhân viên đối với công việc, là kết quả nhận thức công việc và mức độ gắn kết giữa các cá nhân với tổ chức. Spector (1997) cho rằng sự hài lòng trong công việc là việc người ta cảm thấy thích công việc và các khía cạnh khác nhau trong công việc của họ, xem sự hài lòng trong công việc như một biến hành vi. Sự hài lòng trong công việc cũng được xem như việc hài lòng với các khía cạnh chung của công việc.
Ellickson và Logsdon (2002) ủng hộ quan điểm này bằng cách khẳng định sự hài lòng trong công việc là mức độ người nhân viên yêu thích công việc của họ. Đó là thái độ dựa trên nhận thức của người nhân viên (tích cực hay tiêu cực) về công việc hoặc môi trường làm việc của họ. Nói đơn giản hơn có nghĩa là môi trường làm việc càng đáp LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 8 ứng được các nhu cầu, giá trị và tính cách của người lao động thì sự hài lòng trong công việc của họ càng cao. Kreitner và Kinicki (2007) thì cho rằng sự hài lòng trong công việc chủ yếu phản ánh mức độ một cá nhân yêu thích công việc của mình.
Đó chính là tình cảm hay cảm xúc của người nhân viên đó đối với công việc của mình. Định nghĩa sự hài lòng đối với từng khía cạnh công việc Theo Smith, Kendall và Hulin (1969), mức độ hài lòng với các thành phần hay khía cạnh trong công việc là thái độ ảnh hưởng và ghi nhận của nhân viên về các khía cạnh khác nhau trong công việc bao gồm: bản chất công việc, cơ hội đào tạo và thăng tiến, lãnh đạo, đồng nghiệp, tiền lương của họ. Staples và Higgins (1998) cho rằng sự hài lòng trong công việc của nhân viên nhìn chung được cảm nhận thông qua phạm vi công việc và tất cả những thái độ tích cực của họ đối với môi trường làm việc. Kusku (2003) cho rằng sự hài lòng trong công việc phản ánh nhu cầu, mong muốn cá nhân được đáp ứng và mức độ cảm nhận của các nhân viên về công việc của họ.
Định nghĩa này xuất phát từ lý thuyết nhu cầu cấp bậc của Maslow (1943) cho rằng người lao động hài lòng trong công việc khi họ được đáp ứng các nhu cầu từ thấp đến cao. Trong khi đó Schemerhon (1993, được trích dẫn bởi Luddy, 2005) định nghĩa sự hài lòng trong công việc như là sự phản ứng về mặt tình cảm hay cảm xúc của nhân viên đối với các khía cạnh khác nhau trong công việc của họ. Tác giả nhấn mạnh đến các nguyên nhân của sự hài lòng trong công việc bao gồm: vị trí công việc, sự giám sát của cấp trên, mối quan hệ với đồng nghiệp, nội dung công việc, sự đãi ngộ và các phần thưởng bao gồm sự thăng tiến, điều kiện vật chất của môi trường làm việc, cũng như cơ cấu của tổ chức. Một số tác giả khác cho rằng sự hài lòng trong công việc được xem là do ảnh hưởng bởi các yếu tố cá nhân người lao động hoặc do các tác động của tổ chức đối với các cảm nhận của họ về công việc (Bergmann, 1981 dẫn theo Luddy, 2005).
Rõ ràng, sự hài lòng của người lao động trong công việc là một khái niệm rất rộng, bởi đứng ở nhiều góc độ khác nhau sẽ có nhiều định nghĩa khác nhau về sự LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 9 hài lòng trong công việc. Tuy nhiên, việc đánh giá có hài lòng hay không hài lòng, tiêu cực hay tích cực của một người còn phụ thuộc vào cách nhìn nhận và đánh giá của bản thân người lao động. Điều này có nghĩa là việc đánh giá sự hài lòng hay không hài lòng của người lao động đối với công việc của họ là một sự tổng hợp phức tạp của nhiều yếu tố công việc riêng biệt (Nguyễn Hữu Lam, 1998). Trong số các định nghĩa trên, tác giả nhận thấy định nghĩa của Smith và cộng sự (1969), Schemerhon (1993) và Spector (1997) là phù hợp để nghiên cứu sự hài lòng trong công việc của CBCC ngành thanh tra tỉnh Bến Tre vì các nhân tố này trong thực tế có ảnh hưởng đến sự hài lòng trong công việc của CBCC thanh tra như: mức độ yêu thích công việc, vị trí công việc, bản chất công việc, cơ hội đào tạo và thăng tiến, quan hệ đồng nghiệp, điều kiện vật chất, môi trường làm việc và tiền lương.
Khái niệm cán bộ, công chức a. Khái niệm cán bộ Cán bộ là công dân Việt Nam được bầu cử, phê chuẩn, bổ nhiệm giữ chức vụ, chức danh theo nhiệm kỳ trong cơ quan của Đảng Cộng sản Việt Nam, Nhà nước, tổ chức chính trị-xã hội ở Trung ương, ở tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương, ở huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh, trong biên chế và hưởng lương từ ngân sách nhà nước (Quốc hội, 2008, Luật Cán bộ công chức). Như vậy tiêu chí xác định cán bộ gắn với cơ chế bầu cử, phê chuẩn, bổ nhiệm giữ chức vụ, chức danh theo nhiệm kỳ.