Chương 1: Tổng quan tài liệu và cơ sở lý luận Chương 2: Phương pháp nghiên cứu Chương 3: Kết quả nghiên cứu Chương 4: Đề xuất giải pháp nâng cao chất lượng mua sắm trực tuyến trên các sản thương mại điện tử NỘI DUNG NGHIÊN CỨU CHUONG I. TONG QUAN TAI LIEU VÀ CƠ SỞ LÝ LUẬN 1. Co sở lý luận 1. Một số khái niệm liên quan 1.
Khái niệm mỹ phẩm Tại Hoa Kỳ, Cục quản lý Thực pham và Dược phâm (FDA), kiểm soát mỹ phẩm định nghĩa mỹ phẩm là "chất dùng dé bôi thoa vào cơ thể người nhăm tây sạch, tô điểm, tăng cường độ thu hút hoặc thay đôi diện mạo mà không ảnh hưởng đến cấu trúc hoặc chức năng của cơ thể". Định nghĩa rộng này bao gồm bất kỳ chất liệu nào được sử dụng làm thành phần của một sản phẩm mỹ phẩm. FDA đặc biệt loại trừ xà phòng khỏi danh mục nay Theo Thông tư số 06/2011/TT-BYT và Hiệp định về hoà hợp Asean trong quan lý mỹ phẩm thì khái niệm về mỹ pham (Cosmetics) là những chất hoặc sản pham được dùng dé trang điểm hoặc thay đối diện mạo, mùi hương trên cơ thể người. Nói một cách cụ thé hơn thì mỹ phẩm được sử dụng trực tiếp lên những bộ phận bên ngoài cơ thể con người (da, hệ thống lông tóc, móng tay, móng chân, môi va cơ quan sinh dục ngoài) hoặc răng và niêm mạc miệng với mục đích chính là để làm sạch, làm thơm, thay đổi diện mạo, hình thức, điều chỉnh mùi cơ thể, bảo vệ cơ thể hoặc giữ cơ thé trong điều kiện tốt.
Mỹ phẩm được tạo nên bởi những hợp chất hóa học hoặc một số thành phần có chiết xuất từ nguyên liệu tự nhiên. Những hoạt chất này sẽ được tỉnh chế, pha trộn thông qua công nghệ dé tạo nên một loại mỹ phẩm hoàn chỉnh với công dụng riêng biệt. Các loại mỹ phẩm phô biến gồm CÓ son môi, mascara, phan mat, kem nén, phan ma hong, phan phủ, sữa rửa mat và sữa dưỡng thể, dầu gội, sản pham tạo kiểu tóc (gel vuốt tóc, gdm xịt tóc,. Mỹ phẩm là sản phẩm chỉ dùng ngoài da (để bôi).
Giống như những lĩnh vực khác thì mỹ phẩm cũng trải qua quá trình hình thành lâu đời gắn với những dấu mốc lịch sử đáng nhớ. Người đầu tiên sáng chế ra son môi là những phụ nữ và đàn ông tộc người sumer cô đại cách ngày nay khoảng 5. Sau đó khoảng khoảng 3000 TCN đến 1500 TCN người Ai Cập cô đại đã phát minh ra son với những hiệu ứng lung linh dé trang trí môi và mặt. Những sản phẩm mỹ phẩm đầu tiên được phát minh theo các nhà nghiên cứu đã phát hiện và tìm thấy như là: Phan kohl được người Ai Cập cổ dùng vẽ bảo vệ mắt; Dau thầu dầu được người Ai Cập cô dùng làm dầu xoa bop; Kem xoa da điều chế từ sáp ong, dầu ô liu và nước hoa hồng, theo người La Mã mô tả; Vaseline và lanolin ở thế kỷ XIX.
Tiếp theo là mỹ phẩm do người Trung Quốc và Nhật Ban sản xuất bằng các nguyên liệu từ thuốc đông y là mộc nhĩ trắng để giữ âm cho da, giảm nếp nhăn và căng mịn da. Tuy nhiên đến thế kỷ 19 mỹ phẩm không được tán thành sử dụng tại phương tây nữ hoàng Victoria công khai tuyên bố trang điểm mỹ phẩm là bat lịch sự, thô tục và chấp nhận chỉ dành cho diễn viên sử dụng. Cuối cùng vào năm 1909 hãng mỹ phẩm L’Oréal nồi tiếng nhất thế giới được thành lập tại Pháp. Trải qua 21 thế kỷ tính đại chúng của mỹ phẩm ngày càng phổ biến, đến nay mỹ pham trở thành một phan không thé nào thiếu trong cuộc sống đối với mỗi cá nhân.
Phân loại mỹ phẩm Dược mỹ phẩm (Cosmeceuticals) là sự kết hợp giữa mỹ phẩm (comestic) và dược pham (phamarceuticals). Dược mỹ phẩm vừa có tác dụng làm đẹp vừa ho trợ điêu tri các vân dé vê da như: lão hóa, mun, sam nam, tàn nhang.Môi 6 dòng dược mỹ phẩm ra đời luôn luôn được cam kết và chứng nhận bởi các tổ chức có uy tín trên thế giới, đồng thời hãng được mỹ phẩm trước khi lưu hành phải được chắc chăn đã loại bỏ hoàn toàn những chất có thê gây hại và sẽ gây hại cho da nếu dùng quá nồng độ cho phép. Điều đó đồng nghĩa với việc được mỹ phâm luôn luôn có ưu điểm về sự an toàn: an toàn với sức khỏe bản thân người sử dụng và an toàn đối với đa. Hóa mỹ phẩm là dòng mỹ phâm được chế tao nhăm chăm sóc da, làm sạch da và tạo mùi hương cho cơ thể.
Hóa mỹ phẩm sử dụng trực tiếp lên da nhưng chỉ hoạt động ở trên bề mặt chứ không có khả năng điều tri các van dé từ bên trong của làn da. Nói cách khác hóa mỹ phẩm chỉ có tác dụng phía bên ngoài da chứ không thê nuôi dưỡng da từ sâu bên trong. Cũng theo Thông tư số 06/2011/TT-BYT, mỹ phẩm được phân thành 21 nhóm như sau: (1) Kem, nhũ tương, sữa, gel hoặc dầu dùng trên da (tay, mặt, chân,.) (2) Mặt nạ (chỉ trừ sản pham là bong da nguồn gốc hóa học) (3) Chat phủ mau (long, nhão, bột) (4) Phấn trang điểm, phan dung sau khi tam, bột vệ sinh. (5) Xà phòng tắm, xà phòng khử mùi, (6) Nước hoa, nước thơm dùng vệ sinh.
(7) Sản phẩm dùng dé tắm hoặc gội (muối, xà phòng, dau, gel, .) (8) Sản phẩm tay lông (9) San phẩm khử mùi và chống mùi. (10) Các sản phẩm tạo kiểu tóc (sữa, keo xịt tóc, sáp) (11) Sản phẩm dùng cạo râu hoặc sau khi cao râu (kem, xà phòng.) (12) Sản phẩm trang điểm và tây trang dùng cho mặt và mắt (13) Sản phẩm dùng cho môi (14) Sản phẩm dé chăm sóc răng và miệng quan (15) Sản phẩm dùng dé chăm sóc và tô điểm cho móng tay, chân (16) Sản phẩm dùng dé vệ dinh cơ quan dinh dục ngoài (17) Sản phẩm chống nang (18) Sản phầm làm sạm da mà không cần tắm năng (19) Sản phẩm làm trang da (20) Sản phẩm chống nhăn da (21) Cac dạng khác Theo Công văn số 1609/QLD-MP, ngày 10/02/2012 của Cục Quan lý được thì các sản phẩm sau không được phân loại là mỹ phẩm: Sản phẩm chống muỗi, nước hoa xịt phòng, nước xả vải, nước tay bồn cầu, dung dich 6 xi gia, cén sát trùng 700, cồn 900, sản pham làm sạch răng giả không tiếp xúc với khoang miệng, lông mi giả, dung dịch vệ sinh mắt/mũi/tai, sản phâm chống nghẹt mũi, sản phẩm chống ngáy, gel bôi trơn âm đạo, gel siêu âm, sản phẩm tiếp xúc với bộ phận sinh dục trong, dung dịch thụt trực tràng, gây tê, giảm/kiểm soát sự sưng tay/phu nề, chữa viêm da, giảm di ứng, diệt nam, diệt virus, sản phẩm kích thích mọc tóc/mọc lông mi, sản phẩm loại bỏ/giảm mỡ/giảm béo/giảm kích thước của cơ thé, sản phâm giảm cân, ngăn ngừa/dừng sự phát triển của lông, sản phẩm dừng quá trình ra mồ hôi, mực xăm vĩnh viễn, sản pham XÓa seo, giam seo lồi, sản phẩm làm sạch vết thương,. Quy trình quyết định sản pham là mỹ pham và công bố tinh năng sản phẩm mỹ phẩm được phép theo hướng dẫn của ASEAN được quy định tại phụ lục 03- MP Thông tư số 06/2011/TT-BYT ngày 25/01/2011 của Bộ Y tế quy định việc về Quản lý Mỹ phẩm như sau: QUY TRÌNH XÁC ĐỊNH SAN PHAM CÓ PHAI MY PHAM? 1. Sản phẩm có chứa các thành phan được phép bởi Hiệp định mỹ Cấu tạo sản pham ASEAN và không co thành phẩm phân nào bj cẩm.
Sản phẩm tiếp xúc với những bộ phận bên ngoài của cơ thê (biểu bi, hệ thông tốc, móng, môi, bệ phận sinh dục ngoài) hoặc với răng và cac màng nhây của khoang miệng. Sản phẩm được sử dụng với mục dich duy nhất hoặc chính là lam sạch, lam thơm hoặc điều chữnh mùi cơ thể hoặc bảo vệ, giữ gìn chúng trong những điều kiện tết 4. Hình thức sản phẩm được thể hiện như dé phòng bệnh va chữa bệnh cho người. Sản phẩm vĩnh viễn diéu chinh, phục hồi hoặc làm thay đổi chức năng cơ thé bằng cơ chế miễn dich, trao đổi chất hoặc cơ chế được ly.
Sản phẩm mỹ phẩm Hình 1. Quy trình xác định sản phẩm có phải là mỹ phẩm Nguồn: Bộ y tế 1. Khái niệm thương mại điện tử e Khái niệm sàn thương mại điện tử: Hiện nay, khái niệm thương mại điện tử chưa được thong nhất, vẫn còn tôn tai nhiều cách định nghĩa khác nhau. Nhưng nhìn chung, ta có hai quan điểm khái niệm thương mại điện tử như sau: »_ Khái niệm thương mại điện tử theo nghĩa hep: Theo nghĩa hẹp, thương mại điện tử chỉ đơn thuần là việc mua bán hàng hóa và dịch vụ thông qua các phương tiện điện tử, nhất là qua Internet và các mạng viễn thông khác.
Theo Tổ chức Thương mại thế giới (WTO), "Thương mại điện tử bao gồm việc sản xuất, quảng cáo, bán hàng và phân phối sản phẩm được mua bán và thanh toán trên mạng Internet, nhưng được giao nhận một cách hữu hình, cả các sản phẩm giao nhận cũng như những thông tin số hoá thông qua mạng Internet". ° Khái niệm thương mại điện tử theo nghĩa rộng: Thương mại điện tử hiểu theo nghĩa rộng là các giao dịch tài chính và thương mại bang phương tiện điện tử như: trao đổi dữ liệu điện tử, chuyền tiền điện tử và các hoạt động như gửi/rút tiền bằng thẻ tín dụng. Theo quan điểm này, có hai định nghĩa khái quát được đầy đủ nhất phạm hoạt động của Thương mại điện tử: Luật mẫu về Thương mại điện tử của Uỷ ban Liên hợp quốc về Luật Thương mại quốc tế (UNCITRAL) định nghĩa: "Thuật ngữ thương mại [commerce] cần được diễn giải theo nghĩa rộng dé bao quát các van dé phát sinh từ mọi quan hệ mang tính chất thương mại dù có hay không có hợp đồng. Các quan hệ mang tính thương mai [commercial] bao gồm, nhưng không chỉ bao gồm, các giao dịch sau đây: bất cứ giao dịch nào về cung cấp hoặc trao đổi hàng hoá hoặc dịch vụ; thoả thuận phân phối; đại diện hoặc dai lý thương mại, uy thắc 10 hoa hồng (factoring), cho thuê dài hạn (leasing); xây dựng các công trình; tư vấn, kỹ thuật công trình (engineering); đầu tư; cấp vốn, ngân hàng: bảo hiểm; thoả thuận khai thác hoặc tô nhượng, liên doanh và các hình thức về hợp tác công nghiệp hoặc kinh doanh; chuyên chở hàng hoá hay hành khách bằng đường biển, đường không, đường sắt hoặc đường bộ".
Theo định nghĩa này, có thể thấy phạm vi hoạt động của thương mại điện tử rất rộng, bao quát hầu hết các lĩnh vực hoạt động kinh tế, trong đó hoạt động mua bán hàng hoá và dịch vụ chỉ là một phạm vi rất nhỏ trong thương mại điện tử.