Chương 1: Giới thiệu nghiên cứu Chương này giới thiệu tổng quát về đề tài nghiên cứu bao gồm: lý do chọn đề tài, mục tiêu nghiên cứu, câu hỏi nghiên cứu, đối tượng và phạm vi nghiên cứu, phương pháp nghiên cứu và bố cục nghiên cứu. Chương 2: Cơ sở lý thuyết và mô hình nghiên cứu 4 Chương này trình bày các cơ sở lý thuyết về tài chính hành vi, từ đó xây dựng mô hình nghiên cứu cụ thể phù hợp với đối tượng và phạm vi nghiên cứu nhằm phản ánh đúng thực trạng đầu tư chứng khoán tại Việt Nam. Chương 3: Phương pháp nghiên cứu Chương này trình bày về phương pháp (định lượng kết hợp định tính), bám sát quy trình nghiên cứu, cách thức xây dựng thang đo, phương pháp chọn mẫu, quá trình thu thập thông tin, công cụ xử lý dữ liệu và các kỹ thuật phân tích dữ liệu được sử dụng trong quá trình nghiên cứu. Chương 4: Kết quả nghiên cứu Chương này trình bày và giải thích các kết quả nghiên cứu định đã thu thập được từ bảng câu hỏi thông qua phần mềm SPSS 25, bao gồm: Kết quả thống kê mô tả mẫu, phân tích độ tin cậy, phân tích nhân tố, phân tích tương quan hồi quy, kiểm định các giả thuyết, các giả thuyết nghiên cứu sẽ được kết luận chấp nhận hay bác bỏ,.
Chương 5: Kết luận và hàm ý quản trị Chương này tổng kết dựa trên các kết quả nghiên cứu đã thực hiện, trình bày những đóng góp và nghiên cứu quan trọng nhằm chỉ ra một số mặt hạn chế cũng như đề xuất các hàm ý quản trị cho nhóm các nhà đầu tư cá nhân tại thị trường chứng khoán Việt Nam. 5 CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ MÔ HÌNH NGHIÊN CỨU 2.1 Tổng quan về thị trường chứng khoán Thị trường chứng khoán là một thị trường mà tại đó cổ phiếu được thực hiện giao dịch mua và bán (Zuravicky, 2005). Trong một nền kinh tế, bên cạnh vai trò là nguồn đầu tư tài chính, thị trường chứng khoán có những chức năng chính như: huy động vốn cho nền kinh tế, cung cấp môi trường đầu tư cho công chúng, đánh giá hoạt động và tạo chất xúc tác cho hành vi quản trị của một doanh nghiệp (Samuel, 1996), tạo môi trường giúp chính phủ thực hiện các chính sách kinh tế vĩ mô,. Bên cạnh đó, thị trường chứng khoán được biết đến là kênh hiệu quả nhất để tăng vốn của công ty (Zuravicky, 2005).
Tính năng khác làm cho thị trường chứng khoán hấp dẫn hơn các loại hình đầu tư khác là tính thanh khoản của nó (Jaswani, 2008). Ngày nay, thị trường chứng khoán được phân thành ba loại: phát triển mạnh (như Mỹ, Anh, Nhật Bản, EU .), đã và đang phát triển (như Mexico, Trung Quốc, Ấn Độ .) và đang phát triển (như Việt Nam, Estonia, Kenya .) dựa trên tiêu chí đánh giá chất lượng của thị trường (FTSE, 2011). Hoa Kỳ là nơi có nền kinh tế hùng mạnh nhất trên quy mô thế giới, có tác động mạnh mẽ đến thị trường chứng khoán toàn cầu (Reza, Zamri & Tajul, 2009). Có thể nói, thị trường chứng khoán là thước đo cho sự phát triển kinh tế của mỗi quốc gia.
Theo Levine & Zervos (1996), thị trường chứng khoán ảnh hưởng đến nền kinh tế thông qua tính thanh khoản của nó. Tính thanh khoản cho phép các nhà đầu tư giao dịch cổ phiếu dễ dàng và nhanh chóng trong khi các công ty vẫn sử dụng vốn dài hạn để phát triển ổn định. Hơn nữa, thông qua đa dạng hóa rủi ro, thị trường chứng khoán có thể ảnh hưởng đến tăng trưởng kinh tế bằng cách chuyển các khoản đầu tư vào các dự án mang lại lợi nhuận cao hơn (Levine & Zervos, 1996 ; Saint-Paul, 1992 ; Devereux & Smith, 1994). Ngoài ra, thị trường chứng khoán có thể thúc đẩy sự phát triển của nền kinh tế thông qua việc phân bổ hiệu quả và sử dụng các nguồn lực (Supat, 1998).
Thông qua thị trường chứng khoán, dòng tiền từ các nhà đầu tư được chuyển đến việc sản xuất hàng hóa và dịch 6 vụ. Như vậy, không thể phủ nhận tầm quan trọng và tầm ảnh hưởng của thị trường chứng khoán đối với sự phát triển của nền kinh tế. Tại thị trường chứng khoán Việt Nam, khối lượng và giá trị giao dịch có sự phát triển vượt bậc trong 11 năm gần đây (Biểu đồ 1), nhưng biến động giá dường như vẫn rất khó lường qua các thời kỳ (Biểu đồ 2). Dựa trên phân tích các số liệu về biến động giá và thanh khoản của Vn-Index từ năm 2010 đến năm 2021, có thể thấy tăng trưởng của thanh khoản không thực sự đồng đều với diễn biến giá đóng cửa sau mỗi phiên giao dịch.
Tại một số mốc thời gian, khối lượng cổ phiếu được giao dịch tăng vượt trội, tuy nhiên điểm kết phiên lại giảm sâu, tỉ lệ nghịch với thanh khoản cuối phiên. Vì vậy, khối lượng giao dịch có thể ảnh hưởng thuận hoặc nghịch chiều với biến động giá cổ phiếu dựa trên xu hướng giao dịch, nhận định thị trường và quyết định của các nhà đầu tư. Việc áp dụng các lý thuyết tài chính chuẩn mực (standard finance) không thể giải thích được sự biến động thất thường của thị trường trong thời gian qua. Vì thế, Tài chính hành vi là một trong những lý thuyết rất hữu ích và đáng tin cậy trong trường hợp này, vì lý thuyết này dựa trên tâm lý học để giải thích hành vi đầu tư cổ phiếu (Waweru và cộng sự, 2008).1: Tổng khối lượng giao dịch tại sàn HOSE từ năm 2010 đến 2021 1,400,000,000 1,200,000,000 1,000,000,000 800,000,000 600,000,000 400,000,000 200,000,000 khối lượng giao dịch Đơn vị: Cổ phiếu TotalVolume Nguồn: Tác giả tổng hợp dựa trên số liệu từ FiinPro 7 Biểu đồ 2.2: Biến động về giá đóng cửa của Vn-Index từ năm 2010 đến 2021 1,600.00 đóng cửa Đơn vị: Điểm CloseIndex Nguồn: Tác giả tổng hợp dựa trên số liệu từ FiinPro Sau 23 năm hoạt động của thị trường chứng khoán, các quyết định của nhà đầu tư cá nhân vẫn gây tranh cãi và không được đánh giá cao bởi các chuyên gia phân tích tài chính.
Báo cáo chiến lược, khuyến nghị đầu tư được đưa ra bởi các công ty chứng khoán hoặc thậm chí các tổ chức tài chính toàn cầu được đánh giá rằng không thật sự tương thích với những quyết định đầu tư của nhà đầu tư cá nhân. Vào đầu năm 2008, khi VN-Index đang đứng ở mức quanh 830 điểm, Giám đốc phân tích của Công ty Chứng khoán Mê Kông đã khẳng định rằng VN-Index sẽ lên 1140 điểm vào năm 2008 (Tu, 2008). Đồng thuận với quan điểm đó, HSBC và nhiều công ty chứng khoán khác cũng đưa ra nhận định rằng VN-Index có khả năng đạt 1.100 điểm vào cuối năm 2008 (HSBC, 2007). Tuy nhiên, niềm tin vào sự tăng trưởng của thị trường chứng khoán đã không thể khiến VN-Index hồi phục khỏi đà lao dốc đáng kể.
Trong một dự báo vào đầu năm 2009, HSBC dự đoán rằng năm 2009 sẽ là một năm khó khăn nữa và thị trường chứng khoán Thành phố Hồ Chí Minh sẽ có nhiều biến động với một số biến động lên xuống lớn, nhưng cuối cùng vẫn ở mức như năm 2008, khoảng 316 8 điểm ( HSBC, 2009). Dự báo này không chính xác vì tại thời điểm cuối năm 2009, VN-Index gấp rưỡi năm 2008. Do đó, có thể nói rằng các phương pháp dự báo dựa trên lý thuyết tài chính thông thường là không phù hợp với thị trường chứng khoán Việt Nam.2 Hành vi của nhà đầu tư cá nhân trên thị trường chứng khoán Việt Nam tiếp cận theo Tài chính hành vi Hành vi của nhà đầu tư cá nhân là một phần của tài chính hành vi, nhằm tìm hiểu và dự đoán tác động của thị trường tài chính đến tâm lý và quá trình quyết định đầu tư, đây cũng được xem là cơ sở cho mọi quyết đinh giao dịch. Tài chính hành vi kết hợp chặt chẽ giữa hành vi cá nhân và các hiện tượng tài chính của thị trường, đồng thời áp dụng kiến thức trong tâm lý học và lý thuyết tài chính.
Vì vậy, nghiên cứu về tài chính hành vi sẽ giải mã các hoạt động giao dịch cũng như những lỗ hổng trong thị trường chứng khoán dựa trên phân tích hành vi của nhà đầu tư cá nhân hoặc tổ chức ((Fromlet, 2001). Nhà đầu tư cá nhân thường là các nhà đầu tư nhỏ, họ thường mua một số lượng nhỏ cổ phần hoặc trái phiếu, họ thực hiện giao dịch đầu tư thông qua các công ty môi giới truyền thống hoặc trực tuyến. Cá nhà đầu tư cá nhân mua chứng khoán cho tài khoản cá nhân của họ và thường giao dịch với số lượng nhỏ hơn đáng kể so với các nhà đầu tư tổ chức. Nhà đầu tư cá nhân là những người có vốn đầu tư nhàn rỗi, thực hiện đầu tư trên tài khoản chứng khoán cá nhân nhằm đạt mục tiêu tài chính.
Họ là những người tham gia đầu tư ngắn hạn, không có triết lý hay định hướng đầu tư cụ thể, các quyết định mua hoặc bán cổ phiếu của nhà đầu tư cá nhân thường diễn ra nhanh chóng và bị tác động bởi 2 nhóm nhân tố bao gồm: Nhóm nhân tố tác động từ bên trong (khả năng nhận thức, độ tuổi, giới tính, cảm xúc cá nhân,…) và Nhóm nhân tố tác động từ bên ngoài (văn hoá, tin đồn, xu hướng thị trường,…) Một số ý kiến cho rằng rằng nhà đầu tư tối đa hóa tài sản của họ một cách hợp lý bằng cách tuân theo các quy tắc tài chính cơ bản và đưa ra quyết định đầu tư dựa trên việc xem xét rủi ro hoàn vốn. Tuy nhiên, mức độ chấp nhận rủi ro của nhà đầu tư phụ thuộc vào đặc điểm cá nhân và thái độ của họ đối với rủi ro (Maditinos, Sevic 9 & Theriou, 2007). Do đó, việc khám phá các yếu tố hành vi tác động đến quá trình ra quyết định của các nhà đầu tư cá nhân trên thị trường chứng khoán Việt Nam nói chung và tại Thành phố Hồ Chí Minh nói riêng dựa trên Tài chính hành vi là vô cùng cần thiết để giúp các nhà đầu tư cũng như các công ty chứng khoán đưa ra những dự đoán và quyết định tốt hơn cho hoạt động đầu tư của họ. Bên cạnh đó, việc nghiên cứu về hành vi của nhà đầu tư cá nhân trên cơ sở lý thuyết của Tài chính hành vi cũng sẽ giúp các cơ quan quản lý và điều tiết thị trường chứng khoán có các chính sách hợp lý và thực thi đúng thời điểm để đảm bảo sự phát triển bền vững của thị trường.