CHƯƠNG 1: GIỚI THIỆU 1.1 Tổng quan thị trường chứng khoán Thị trường chứng khoán Việt Nam chính thức đi vào hoạt động ngày 20/7/2000 với tên gọi Trung tâm Giao dịch Chứng khoán Thành phố Hồ Chí Minh, có phiên giao dịch đầu tiên ngày 28/7/2000 và sau đó là Trung tâm Giao dịch Chứng khoán Hà Nội ngày 14/7/2005. Qua quá trình hoạt động và tăng trưởng, Trung tâm Giao dịch Chứng khoán TP.HCM đã chuyển đổi thành Sở Giao dịch Chứng khoán TP.HCM, chính thức khai trương vào ngày 08/8/2007. Giai đoạn khởi đầu khi đưa Trung tâm Giao dịch Chứng khoán TP.HCM vào hoạt động, thị trường chứng khoán đã có mức tăng trưởng nhanh về giá do chỉ có 02 công ty niêm yết là REE (CTCP Cơ điện lạnh) và SAM (CTCP Cáp và Vật liệu viễn thông). Nguồn cung hàng hóa khan hiếm như vậy nên chỉ số VN Index liên tục tăng và đạt đỉnh điểm là 571,04 điểm vào ngày 25/6/2001, tuy nhiên 3 năm sau đó, thị trường đã liên tục sụt giảm cho đến cuối 2003 thì tăng mạnh trở lại.
Năm 2005, sau khi Trung tâm Giao dịch Chứng khoán Hà Nội đi vào hoạt động, tổng số các công ty niêm yết trên cả hai sàn là 44 công ty với tổng giá trị niêm yết là 4. Nhìn chung, thị trường chứng khoán Việt Nam giai đoạn 2000 – 2005 hoạt động khá trầm lắng, vốn hóa thị trường chỉ đạt trên dưới 1% GDP, toàn thị trường có chưa đến 10 công ty chứng khoán và chưa có 1 công ty quản lý quỹ nào vào năm 2004, tổng số tài khoản chứng khoán thời điểm này cũng khoảng 20. Giai đoạn 2006 – 2009 cũng chứng kiến những kỷ lục của thị trường chứng khoán Việt Nam, quy mô thị trường đã có bước nhảy vọt mạnh mẽ lên 22,7% GDP vào năm 2006 và tiếp tục tăng lên mức 43% vào năm 2007. Tháng 3 123doc 3/2007, các chỉ số chứng khoán đạt được mức cao nhất với VN Index đạt 1.170,67 điểm, HNX Index đạt 459,36 điểm.
Tuy nhiên, tại phiên giao dịch ngày 24/02/2009 VN Index đã rơi xuống mức đáy 235,5 điểm và HNX Index lùi về dưới mốc 100 khi xuống mức thấp nhất trong lịch sử là 78,06 điểm. Cũng trong năm 2009 này, phiên giao dịch ngày 23/10 được coi là “siêu thanh khoản” khi lập kỷ lục cao nhất về cả khối lượng và giá trị giao dịch với hơn 136 triệu đơn vị được chuyển nhượng, tương ứng giá trị 6.414 tỷ đồng ở sàn Hose, còn sàn HNX đạt kỷ lục với hơn 67,23 triệu cổ phiếu được chuyển nhượng tương ứng 3. Tính đến cuối năm 2009, thị trường có 541 doanh nghiệp niêm yết trên cả hai sàn và 04 chứng chỉ quỹ đại chúng niêm yết với tổng giá trị niêm yết đạt 127.489 tỷ đồng, tăng 66,5 lần so với cuối năm 2005. Tổng giá trị vốn hóa thị trường tính tại thời điểm 31/12/2009 ước đạt 620.551 tỷ đồng, tương đương với gần 38% GDP cả năm 2009, toàn thị trường có 105 công ty chứng khoán và 46 công ty quản lý quỹ, tổng số thành viên lưu ký của Trung tâm Lưu ký Chứng khoán là 122 thành viên (trong đó có 8 ngân hàng lưu ký và 12 tổ chức mở tài khoản trực tiếp) với tổng tài khoản giao dịch là hơn 90.
Ngoài ra, nhằm từng bước thu hẹp thị trường tự do để mở rộng thị trường có tổ chức tức là có sự quản lý của Nhà nước, hệ thống giao dịch cho các chứng khoán của công ty đại chúng chưa niêm yết (hệ thống giao dịch UpCOM trên Sở Giao dịch Chứng khoán Hà Nội) cũng đã được đưa vào vận hành ngày 24/6/2009. Thị trường chứng khoán năm 2010 nổi bật với tình trạng đi ngang trong suốt 6 tháng đầu năm, dao động trong biên độ hẹp 480 – 550 điểm. Trong thời gian từ tháng 7 đến tháng 8, thị trường chứng khoán bước vào giai đoạn lao dốc khi chỉ số chứng khoán ở cả sàn đều chạm mốc thấp nhất trong vòng một năm, VN Index mất hơn 16%. Từ cuối tháng 8 đến đầu tháng 11, thị trường tiếp tục những chuỗi ngày giảm điểm rồi đi ngang, giao dịch quanh ngưỡng 4 123doc 450 điểm.
VN Index giai đoạn giữa tháng 11 tiếp tục giảm, dao động quanh mốc 425 điểm rồi bất ngờ quay đầu phục hồi vào cuối tháng 11, đầu tháng 12 với 493,5 điểm cho phiên ngày 15/12. Ngoài ra, năm 2010 cũng được xem là năm của các “đội lái” khi mà các đội này không còn hoạt động riêng lẻ nữa mà phối hợp với nhau để cùng đẩy giá một mã cổ phiếu, để rồi sau khi họ không còn “tung hứng” thì giá cổ phiếu thậm chí còn thấp hơn ban đầu. Một điểm nổi bật khác trong năm 2010 chính là sự mạnh tay mua vào của khối ngoại với khoảng 840 triệu cổ phiếu và chứng chỉ quỹ, tương ứng khoảng 16.000 tỷ đồng, gấp 5 lần so với năm 2009 và chỉ đứng sau mức kỷ lục 24.000 tỷ đồng của năm 2007. Thực tế, tổng giá trị mua vào của khối ngoại trong năm 2010 chỉ đạt 66% so với 2007 nhưng khối lượng cổ phiếu mua vào đạt trên 200%.
Số thành viên của VSD trong năm này là 125 thành viên, trong đó có 103 công ty chứng khoán, 13 thành viên mở tài khoản trực tiếp, 6 ngân hàng lưu ký nước ngoài và 3 ngân hàng lưu ký trong nước với tổng số tài khoản đến cuối năm 2010 là 1. Vốn hóa thị trường đạt khoảng 726.000 tỷ đồng, tương đương 39% GDP năm 2010. Năm 2011 là giai đoạn đầy khó khăn và thách thức đối với thị trường chứng khoán Việt Nam. VN Index lao từ mức đỉnh 522,59 điểm (ngày 9/2)về vùng đáy 347,8 điểm (ngày 27/12), HNX Index còn giảm sâu hơn, từ 113,4 điểm (ngày 04/01) đến thiết lập vùng đáy sâu nhất trong lịch sử là 56,7 điểm (ngày 27/12) do không có lực đỡ từ nhóm các cổ phiếu vốn hóa lớn như sàn HoSE.
Về quy mô giao dịch của cả năm, tổng khối lượng giao dịch trên HoSE đạt 8.303 triệu cổ phần, tương ứng 160.395 tỷ đồng, tại HNX là 7.944 triệu cổ phần, tương ứng 95. Giá trị vốn hóa thị trường cuối năm 2011 chỉ đạt 27,15% GDP, thấp hơn nhiều so với mức 38,5% GDP của đầu năm (tháng1). Về thành viên của Trung tâm Lưu ký Chứng khoán, có thêm 2 thành viên mới với một là thành viên mở tài khoản trực tiếp và thành viên thứ 2 là 5 123doc ngân hàng lưu ký trong nước, nâng tổng số thành viên của VSD lên 127 thành viên. Giai đoạn 9 tháng đầu năm 2012, thị trường chứng khoán Việt Nam có những dấu hiệu khởi sắc nhưng chưa vững chắc.
Khởi động năm mới với các chỉ số thấp ở cả 2 sàn, cụ thể là 336,37 điểm tại HoSE (ngày 6/1) và 55,27 điểm (ngày 6/1) tại HNX nhưng thị trường đã có sự đột phá, tăng trưởng đáng kể về cả khối lượng và giá trị giao dịch, VN Index đạt 488,07 điểm (phiên ngày 8/5) và HNX đạt 83,79 điểm trong cùng phiên. Giá trị vốn hóa thị trường tại thời điểm tháng 5 này đạt 799.088 tỷ đồng, chiếm 31,3% GDP. Tuy nhiên, thị trường ở những tháng tiếp theo lại có xu hướng giảm, đặc biệt là vào tháng 9, VN Index dao động quanh ngưỡng 390 điểm, HNX Index dao động quanh ngưỡng 60 điểm. Giá trị vốn hóa thị trường tại thời điểm tháng 9 đạt 727.319 tỷ đồng, chiếm 28,49% GDP với hơn 700 mã cổ phiếu và chứng chỉ quỹ niêm yết trên cả 2 sàn chứng khoán Việt Nam 1.2 Vấn đề cần nghiên cứu Thị trường chứng khoán Việt Nam trải qua 12 năm biến động thăng trầm đã tạo cho các nhà đầu tư đầy đủ các cung bậc cảm xúc, từ thăng hoa đến thất vọng hay có khi là tâm trạng chao đảo, chán chường đến bàng quan đứng ngoài.
Hơn nữa, họ phải đối đầu với bao áp lực về việc chọn lọc thông tin từ nhiều phía để đưa ra quyết định đầu tư, có nhà đầu tư lựa chọn theo tâm lý đám đông, có người lựa chọn theo sự phân tích của bản thân, có người lại quan sát hành động của các nhà đầu tư nước ngoài,… hay họ phải kết hợp nhiều thông tin. Vậy những yếu tố nào sẽ tác động đến quyết định lựa chọn của họ, những nhà đầu tư cá nhân trong nước và những yếu tố này có tuân theo một mô hình, lý thuyết nào không ? Bài nghiên cứu này sẽ đi tìm lời giải đáp cho câu hỏi trên.3 Mục tiêu nghiên cứu Mục tiêu của bài nghiên cứu là khám phá hành vi của các nhà đầu tư chứng khoán cá nhân ở TP.HCM, tìm ra các yếu tố ảnh hưởng nhiều nhất và các yếu tố ảnh hưởng ít nhất đến hành vi của họ.4 Phạm vi nghiên cứu Giới hạn nghiên cứu của bài này chỉ khảo sát đối với các nhà đầu tư cá nhân tại Sở Giao dịch Chứng khoán Thành phố Hồ Chí Minh, sàn giao dịch có nhiều công ty niêm yết cũng như khối lượng và giá trị giao dịch là lớn nhất của Việt Nam.5 Phương pháp nghiên cứu Bài nghiên cứu này sử dụng 2 phương pháp: - Kỹ thuật thảo luận nhóm: để xây dựng bảng câu hỏi - Phân tích nhân tố khám phá bằng phần mềm SPSS (phiên bản 15.6 Ý nghĩa thực tiễn Bài nghiên cứu nhằm khám phá hành vi của các nhà đầu tư chứng khoán cá nhân, tìm ra các yếu tố ảnh hưởng nhất đến quyết định đầu tư của họ. Những yếu tố này sẽ ảnh hưởng trực tiếp đến lợi nhuận cũng như kế hoạch tài chính tương lai của các nhà đầu tư này. Đối với các công ty niêm yết, biết được những yếu tố này sẽ giúp họ đưa ra những chính sách cũng như những chiến lược phù hợp hơn cho công ty trong tương lai.
Cuối cùng, đối với Chính phủ nói chung và Sở Giao dịch Chứng khoán Hồ Chí Minh nói riêng, những yếu tố này sẽ giúp họ thấy được rõ ràng hơn nhu cầu của các nhà đầu tư để từ đó xây dựng, hoàn thiện các quy định pháp lý nhằm đáp ứng tốt hơn cho nhu cầu đầu tư và nâng cao tính hiệu quả của thị trường.7 Các nội dung chính của bài nghiên cứu • Giới thiệu 1. • Tổng quan các kết quả nghiên cứu trước đây 2. • Phương pháp nghiên cứu 3. • Nội dung và kết quả nghiên cứu 4.1: Các nội dung chính của bài nghiên cứu 8 123doc CHƯƠNG 2: TỔNG QUAN CÁC KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU TRƯỚC ĐÂY 2.1 Tài chính hành vi: nỗ lực giải thích như thế nào và tại sao xúc cảm và những lỗi về nhận thức ảnh hưởng đến các nhà đầu tư và tạo ra thị trường chứng khoán bất thường như bong bóng và sự sụp đổ.