mở đầu của TTCK, hay còn được coi là giai đoạn chập chững tập đi. Trong suốt giai đoạn này, vốn hóa thị trường chỉ đạt mức trên dưới 1% GDP, gần như không có thay đổi gì nhiêu. Tuy nhiên bắt đầu từ năm 2006, khi Luật Chứng khoán được Quốc hội ban hành và chính thức có hiệu lực từ đầu năm 2007, đã dan cải thiện những bat cập, xung đột với các văn bản pháp lý khác, giúp TTCK Việt Nam có khả năng hội nhập hơn với các thị trường vốn quốc tế và khu vực. Khi đó, TTCK Việt Nam trở nên an toàn minh bạch hơn, tăng khả năng quản lý giám sát cho các cơ quan quản lý nhà nước.
Năm 2006, quy mô thị trường có bước nhảy vọt mạnh mẽ, đạt 22,7% GDP và chạm đến con số trên 43% vào năm 2007. Tuy nhiên, vào năm 2008 mọi việc bắt đầu xấu đi, do ảnh hưởng của thị trường tài chính và nền kinh tế trong nước và thế giới, mức vốn hóa thị trường giảm mạnh, xuống còn 18% GDP. Đến năm 2009, thị trường bắt đầu hồi phục nhẹ với vốn hóa thị trường đạt 37,71% GDP. Đi kèm với sự phục hồi này là sự gia tăng đáng ké của các công ty niêm yết trên thị trường.
Trong những năm trở lại đây, mức vốn hóa thị trường đã tăng lên mạnh mẽ tới hơn 82% GDP. Từ cuối năm 2019, đại dịch Covid-19 bùng phát khiến cho TTCK Việt Nam một lần nữa phải lao đao vì những thách thức khó khăn. Đến nay, những dấu hiệu phục hồi đã dần rõ ràng, tâm lí hoảng loạn của các nhà đầu tư cá nhân đã dần giảm đi, sắc xanh đang trở lại trên thị trường. Mặc dù, TTCK Việt Nam trải qua nhiều biến động nhưng vẫn khang định được vai trò thúc đây nền kinh tế của mình.
Trong giai đoạn hiện nay, Chính Phủ Việt Nam chủ trương phát triển nền kinh tế ôn định và vững chắc, đây là điều kiện tốt cho TTCK của nước ta phát triển phù hợp với vị thế của thị trường và sánh vai với thị trường quôc tê. GIỚI THIEU CHUNG VE CO PHIẾU 1. Khai niệm về cô phiêu Cổ phiếu là một loại chứng khoán von được phát hành dưới dạng chứng chỉ hoặc bút toán ghi số, xác nhận quyền sở hữu và lợi ích hợp pháp đối với tài sản hoặc vôn của công ty cô phân. Cô phiêu là công cụ tài chính có thời hạn Vũ Thị Yến — 11195924 Page | 14 Chuyên dé tốt nghiệp — Khoa Toán kinh tế thanh toán là vô hạn.
Người năm giữ cổ phiếu gọi là cỗ đông và đồng thời là chủ sở hữu của công ty phát hành. Trong đó, chứng khoán là một tài sản tai chính trong đó xác định số vốn đầu tư của nhà đầu tư về quyền sở hữu cổ phan trong một công ty phát hành cô phiếu, hoặc quyền nhận các khoản thanh toán đối với việc năm giữ trái phiếu của chính phủ hay công ty phát hành trái phiếu, hoặc các quyền hợp pháp về thu nhập và tài sản trong một thời hạn nào đó. Đặc diém của cô phiêu Không có kỳ hạn và không hoàn vốn: Cô phiếu là chứng nhận góp vốn của các cô đông vào công ty cô phan, không thé hiện thời hạn hoàn vốn, không có kỳ hạn (khi công ty phá sản hoặc giải thé thì sẽ không tồn tại cỗ phiếu). Cổ tức không ổn định va phụ thuộc vào kết quả sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp: Cổ tức cô phiếu thường tuỳ thuộc vào kết quả kinh doanh của doanh nghiệp, và vì kết quả kinh doanh không ôn định nên cé tức cũng không ổn định.
Khi doanh nghiệp kinh doanh có lãi thì cô đông được hưởng lợi nhuận nhiều hơn so với các loại chứng khoán khác có lãi suất 6n định. Ngược lại, khi doanh nghiệp kinh doanh khó khăn hoặc thua lỗ, cổ tức có thé rất thấp hoặc không có cô tức. Giá cô phiêu biên động rất mạnh: Giá biên động nhiêu nhat là trên thị trường thứ cap, do giá chiu sự tác động của nhiêu nhân tô, và nhân tô quan trọng là kết quả kinh doanh của công ty. Tính thanh khoản cao: Cô phiếu có khả năng chuyên hoá thành tiền mặt dễ đàng.
Tinh lưu thông: Tính lưu thông khiến cô phiếu có giá trị như một loại tài sản thực sự, nếu như tính thanh khoản giúp cho chủ sở hữu cô phiếu chuyên cổ phiếu thành tiền mặt khi cần thiết, thì tính lưu thông giúp chủ sở hữu cổ phiếu thực hiện được nhiều hoạt động như thừa kế hay cho tặng để thực hiện nghĩa vụ tài sản của mình. Tính rủi ro cao: Tính rủi ro phụ thuộc vào thông tin và tình hình phát triển kinh tê, xã hội và chính trị. Giá trị cô phiêu luôn biên động theo các yêu tô này. Vũ Thị Yến — 11195924 Page | 15 Chuyên dé tốt nghiệp — Khoa Toán kinh tế 1.
Phân loại cỗ phiếu Phân loại cổ phiếu theo tính chất lưu hành của cổ phiếu e C6 phiếu được phép phát hành: Khi công ty cổ phần được thành lập thi được phép phát hành cổ phiếu để huy động vốn. Nhưng luật pháp các nước quy định công ty phải đăng ký tổng số cô phiếu của công ty và phải ghi trong điều lệ công ty được gọi là cô phiếu được phép phát hành hay cô phiếu đăng ký e_ Cổ phiếu đã phát hành: là cổ phiếu mà công ty được bán ra cho các nhà đầu tư trên thị trường và công ty đã thu về được toàn bộ tiền bán số cô phiếu đó, nó nhỏ hơn hoặc tối da là bang với số cổ phiếu được phép phát hành. e_ Cổ phiếu quỹ: là cô phiếu đã được giao dịch trên thị trường và được chính tổ chức phát hành mua lại bang nguồn vốn của mình. Cổ phiếu quỹ không phải là cổ phiếu đang lưu hành, không được quy đổi thành cổ phần của công ty; do đó, không được tham gia vào việc chia lợi nhuận và không có quyền tham gia cô bỏ phiếu.
e_ Cổ phiếu đang lưu hành: là cổ phiếu đã phát hành, hiện đang lưu hành trên thị trường và do các cô đông đang nắm giữ. Phân loại cổ phiếu theo đặc điểm của cổ phiếu © Cô phiếu ghi danh: là cô phiếu có ghi tên người sở hữu trên tờ cổ phiếu. Cổ phiếu nay có nhược điểm là việc chuyền nhượng phức tạp, phải đăng ký tại cơ quan phát hành và phải được Hội đồng quản trị của công ty cho phép. © Cổ phiếu vô danh: là cổ phiếu không ghi tên người sở hữu.
Cổ phiếu này được tự do chuyên nhượng mà không cần thủ tục pháp lý về chuyển nhượng tên người sở hữu. Phân loại cô phiếu theo quyền lợi của người nắm giữ e_ Cổ phiếu thường: Cổ phiếu thường đại diện cho quyền sở hữu cô phan cơ bản trong một công ty. Cổ đông sở hữu cổ phiếu thường được tham gia bầu Hội đồng quản trị, tham gia bỏ phiếu quyết định các vấn đề lớn của công ty. Khi công ty giải thể hoặc phá sản, cỗ đông sở hữu cổ phiếu thường sẽ được chia số tiền còn lại sau khi công ty đã thanh toán các khoản nợ và thanh toán các quyền lợi cho cổ phiếu ưu đãi.
e_ Cổ phiếu ưu đãi: là một loại chứng khoán có các đặc tính của cả trái phiếu và cô phiếu phố thông. Tuy nhiên, vì không phải là nợ, nên loại cổ phiếu này vần còn nhiêu rủi ro hơn so với trái phiêu. Cô tức trên cô phiêu ưu đãi Vũ Thị Yến — 11195924 Page | 16 Chuyên dé tốt nghiệp — Khoa Toán kinh tế thường là một ty lệ phan trăm cé định trên giá danh nghĩa của cô phiếu. Cổ phiếu ưu đãi thường được trả cổ tức trước các cô phiếu thường.
Khi công ty giải thé hay phá sản, cổ phiếu ưu đãi được ưu tiên thanh toán trước các cô phiếu thường. Vũ Thị Yến — 11195924 Page | 17 Chuyên dé tốt nghiệp — Khoa Toán kinh tế CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ THUYÉT TRONG PHÂN TÍCH CỎ PHIẾU 2. PHƯƠNG PHÁP PHAN TÍCH CƠ BAN 2. Khái niệm Phương pháp phân tích cơ bản là một kỹ thuật dùng dé xác định giá trị thực của chứng khoán bằng cách tập trung vào phân tích các yếu tô cơ bản có ảnh hưởng đến hoạt động kinh doanh và triển vọng phát triển của doanh nghiệp.
Phân tích cơ bản thường đo lường các giá trị thực của một công ty. Sự chênh lệch giữa giá trị thực với giá thị trường chính là cơ hội để đầu tư hoặc là dấu hiệu để ra quyết định mua hoặc bán cổ phiếu. Đối với các nhà đầu tư theo trường phái phân tích cơ bản, giá trị thực của cô phiếu mới là điều quan trọng trước khi quyết định đầu tư. Trong phân tích cơ bản cũng có nhiều các trường phái khác nhau để định giá và phân tích.
Đặc biệt trong đó có phương pháp Top — Down rất hữu ích giúp nhà đầu tư có cái nhìn bao quát về nên kinh tế và đặc điểm ngành của doanh nghiệp. Phương pháp Top — Down trong phân tích Phương pháp Top — Down khắc họa ra bức tranh tổng thể, nhân mạnh vào tầm quan trọng của bức tranh đó là toàn bộ nền kinh tế. Trong đó kinh tế vĩ mô sẽ cung cấp cho nhà đầu tư một cái nhìn đầy đủ thấu đáo về thị trường, giúp họ xem xét những mảnh ghép nhỏ hơn, từ đó tìm hiểu về doanh nghiệp một cách tổng quát hơn. Sau khi nhà đầu tư nhận xét tình hình vĩ mô thấy khả quan, nhà đầu tư sẽ tìm ra những ngành nào đang có lợi thế trong thời gian tới, tiếp đến là chọn ra các doanh nghiệp đang có tiềm năng tăng trưởng tốt trong những ngành có lợi thế dé đầu tư.
Đầu tiên, tình hình vĩ mô của nền kinh tế là ưu tiên hàng đầu. Mục đích là phải đánh giá được tổng thể môi trường kinh tế , vì vậy các nhà đầu tư cần phải quan tâm đến các biến số cơ bản như: tăng trưởng GDP, thu nhập bình quân, CPI, lạm phát, thuế, tỉ giá hối đoái, cán cân thương mại,. Ngoài ra, các nhà đầu tư còn chú ý đến các nhân tố phi kinh tế như chính trị, xã hội,. vì các tác động này có thé tạo một hiệu ứng mạnh mẽ đến nền kinh tế.
Nhà đầu tư nắm vững tình hình kinh tế hiện tai mới có thé tìm được những ngành có tiềm năng lớn. Vũ Thị Yến — 11195924 Page | 18 Chuyên dé tốt nghiệp — Khoa Toán kinh tế Bước thứ hai, nhà đầu tư cần quan tâm tới các ngành sẽ được hưởng lợi sau khi phân tích các tác động vĩ mô nền kinh tế.