CHƯƠNG 1 Trong chương này trình bày khái quát về đề tài như là: Lý do chọn đề tài, tình hình nghiên cứu liên quan từ đó tác giả đưa ra các câu hỏi nghiên cứu, mục tiêu nghiên cứu để trả lời cho các câu hỏi nghiên cứu đó. Chương này cũng trình bày về đối tượng và phạm vi nghiên cứu, phương pháp nghiên cứu là kết hợp giữa định tính và định lượng. Tác giả cũng trình bày bố cục đề tài gồm 5 chương. LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 6 CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ CÁC NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN 2.
Khái niệm tính tuân thủ thuế và phân loại tính tuân thủ thuế Jackson và Milliron (1986) cùng Alm (1991) cho rằng “tuân thủ thuế là báo cáo tất cả thu nhập, thanh toán toàn bộ nghĩa vụ thuế bằng cách thực hiện các điều khoản quy định của luật, pháp lệnh, hoặc phán quyết của tòa án”. Trong khi Hamm (1995) thì cho rằng “tuân thủ thuế là người nộp thuế nộp tờ khai thuế vào thời điểm thích hợp và thực hiện đầy đủ nghĩa vụ thuế theo quy định của các luật thuế, các quyết định của tòa án”. OECD (2004), thì định nghĩa “tuân thủ thuế là phạm vi mà đối tượng nộp thuế phải hoàn thành các nghĩa vụ thuế của mình”. Lê Minh Tuấn, Phạm Minh Đức, Gregory Kisunko, và G.
Shukla (2011) cho rằng, “mức độ tuân thủ thuế được định nghĩa là tỉ lệ giữa số tiền thuế thực thu với số tiền thuế có thể thu được tiềm năng”. Ngược lại, tỉ lệ không tuân thủ hay mức độ thất thoát nguồn thu thuế được tính bằng 1 trừ đi tỉ lệ tuân thủ. Nguyễn Thị Lệ Thúy (2011) cho rằng “tuân thủ thuế là hành vi chấp hành nghĩa vụ thuế của người nộp thuế theo đúng mục đích của luật một cách đầy đủ, tự nguyện và đúng thời gian”. Tác giả đồng ý với Nguyễn Thị Lệ Thúy (2009), theo tác giả, “tuân thủ thuế là việc người nộp thuế thực hiện đúng, đầy đủ và kịp thời nghĩa vụ thuế đã được quy định trong luật thuế hiện hành”.
Nguyễn Thị Lệ Thúy (2009) cho rằng, “để xem xét và đánh giá mức độ tuân thủ của NNT, tùy theo mục đích nghiên cứu và vị trí nghiên cứu mà những người nghiên cứu sử dụng những tiêu chí khác nhau”. Tùy theo tiêu chí phân loại mà tuân thủ thuế được phân chia thành những nhóm khác nhau. *Căn cứ vào tính chất tuân thủ Theo OECD (2003), thì tính tuân thủ của NNT chia thành 2 nhóm chính “Tuân thủ hành chính là việc NNT tuân thủ các quy định hành chính về việc kê khai, nộp thuế đúng hạn”. “Tuân thủ kỹ thuật là việc NNT thực hiện tính toán và nộp thuế đúng theo quy định tại các điều của Luật thuế”.
So với tuân thủ quy định hành chính, việc xác định tuân thủ kỹ thuật lại khá phức tạp vì khi các luật thuế quy định không rõ ràng và dễ hiểu thì việc xác định chính xác số thuế phải nộp sẽ gặp nhiều khó khăn. Mặt khác, để đánh giá tính tuân thủ kỹ thuật, cần phải nắm bắt và có số liệu sát thực đối với hoạt động chịu thuế của NNT. LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 7 * Căn cứ vào nội dung tuân thủ Căn cứ theo nội dung các nghĩa vụ thuế mà NNT phải tuân thủ thì tuân thủ thuế được phân loại thành: (1) Tuân thủ trong việc đăng ký thuế; (2) tuân thủ trong việc nộp hồ sơ khai thuế; (3) tuân thủ trong việc báo cáo các thông tin đầy đủ và chính xác; (4) tuân thủ trong việc nộp thuế. Nếu NNT không thực hiện bất kỳ một trong các nghĩa vụ này thì có thể coi là không tuân thủ thuế theo một nghĩa vụ cụ thể.
* Căn cứ vào mức độ tuân thủ Quản lý tuân thủ là quản lý dựa trên mức độ tuân thủ pháp luật của NNT. Về cơ bản, nguyên tắc quản lý tuân thủ được thể hiện trên hai phương diện: “(1) Nếu NNT sẵn sàng tuân thủ thì CQT tạo điều kiện thuận lợi tối đa để NNT tuân thủ thông qua các cơ chế hỗ trợ và ưu đãi khác nhau; (2) Nếu NNT không muốn tuân thủ thì CQT áp dụng các cơ chế và chế tài khác nhau để buộc NNT tuân thủ”. Mô hình của Grabosky và Braithwaite (1986), chỉ ra rằng “toàn bộ NNT được chia thành 4 nhóm tương ứng với mức độ tuân thủ pháp luật của họ và cơ quan quản lý thuế có các biện pháp tương ứng đối với từng nhóm NNT này để đảm bảo sự tuân thủ thuế tốt nhất”. Mô hình này thể hiện qua sơ đồ 2.
Đặc điểm của NNT Hành vi của NNT Phương pháp xử lý của CQT 10 Cố tình không tuân thủ Áp dụng toàn bộ quyền 9 lực theo luật pháp 8 Không muốn tuân thủ Ngăn chặn thông qua 7 nhưng sẽ tuân thủ nếu các biện pháp phát Chiến lược KD Ngành nghề CQT quan tâm hiện vi phạm 6 5 Cố gắng tuân thủ Hỗ trợ để tuân 4 NNT nhưng không phải lúc Chiến lược của thủ nào cũng thành công CQT là tạo áp lực 3 Yếu tố xã hội Yếu tố kinh tế để giảm số NNT 2 không tuân thủ Sẵn sàng tuân thủ Tạo điều kiện 1 Yếu tố tâm lý thuận lợi 0 Hình 2. Chiến lược xử lý TTT của CQT theo các mức độ TTT của NNT Nguồn: Grabosky và Braithwaite (1986) LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 8 Hình kim tự tháp thể hiện chiến lược xử lý tuân thủ của CQT. Theo đó, cạnh bên trái hình kim tự tháp biểu hiện hành vi TTT của NNT, còn cạnh bên phải hình kim tự tháp thể hiện nguyên tắc xử lý của CQT đối với hành vi tuân thủ. Mũi tên nằm trên đường trung tuyến cho thấy chiến lược xử lý của CQT với mục đích nâng cao tính tuân thủ tự nguyện của NNT.
Toàn bộ NNT được chia làm 4 nhóm, tương ứng với mức độ tuân thủ pháp luật của họ. Bốn nhóm này tương ứng với 4 mức độ thể hiện hành vi tuân thủ bên trái hình kim tự tháp. Tương ứng với 4 nhóm NNT này là 4 nguyên tắc xử lý khác nhau của CQT, cụ thể là - Nếu hành vi của NNT “sẵn sàng tuân thủ” thì CQT xử lý theo nguyên tắc “tạo điều kiện thuận lợi nhất” để NNT tuân thủ. - Nếu hành vi của NNT “cố gắng tuân thủ nhưng không phải lúc nào cũng thành công” thì nguyên tắc xử lý của CQT là “hỗ trợ” để NNT tuân thủ.
- Nếu hành vi của NNT “không muốn tuân thủ nhưng sẽ tuân thủ nếu CQT quan tâm” thì nguyên tắc xử lý của CQT là “Ngăn chặn thông qua các biện pháp phát hiện vi phạm” để NNT tuân thủ. - Nếu hành vi của NNT “quyết tâm không tuân thủ” thì nguyên tắc xử lý của CQT là “áp dụng toàn bộ quyền lực theo pháp luật” để buộc NNT tuân thủ 2. Nguyên nhân gây thất thoát nguồn thu hoặc không kê khai Hình 2. Các yếu tố ảnh hưởng đến việc không tuân thủ hay thất thoát nguồn thu.
Nguồn: Lê Minh Tuấn và cộng sự (2011) LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 9 Lê Minh Tuấn và cộng sự (2011) cho rằng “việc trốn thuế và tránh thuế là hai trong số các nguyên nhân quan trọng nhất của việc không tuân thủ và làm thất thoát nguồn thu”. Những hành vi này của NNT lại chịu ảnh hưởng bởi nhiều yếu tố có liên quan lẫn nhau, nó bao gồm cả nguyên nhân chủ quan (năng lực của cơ quan thuế, chính sách thuế, chi phí tuân thủ, sự liêm chính và tính hiệu quả), lẫn nguyên nhân khách quan (trách nhiệm giải trình trong chi tiêu công, hệ thống khiếu nại, quy mô của nền kinh tế phi chính thức và tham nhũng).2 cho thấy khung lý thuyết phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến việc không tuân thủ/ thất thoát nguồn thu. Về lý thuyết, việc tránh thuế và trốn thuế là khác nhau, tuy nhiên cả hai hành vi đều làm thất thoát nguồn thu thuế, khiến hệ thống thuế bị kém công bằng, và làm mất đi sự cạnh tranh một cách lành mạnh của thị trường. Những NNT được xem là trốn thuế khi NNT sử dụng các cách thức trái pháp luật để tránh nộp đầy đủ số thuế của mình.
NNT sẽ khai thiếu thu nhập, doanh thu, hay tài sản của mình, hoặc không khai báo thuế, trong khi lại cố gắng khai khống lên những khoản chi được khấu trừ và thậm chí còn tham gia buôn lậu hay âm mưu rửa tiền. Còn trong trường hợp tránh thuế, NNT lạm dụng các khe hở trong chế độ thuế hiện hành để giảm bớt các nghĩa vụ thuế của mình. Các tiêu chí đánh giá tính tuân thủ thuế của người nộp thuế 2. Các tiêu chí định tính Tính TTT của NNT được biểu hiện ra ngoài.
Tuy nhiên, có những biểu hiện có thể được định lượng và những biểu hiện không thể định lượng được. Các chỉ tiêu không thể định lượng được thì đó là tiêu chí định tính. (i) Mức độ am hiểu và quan tâm của NNT đối với các quy định của luật thuế, đặc biệt là các quy định liên quan đến quyền và nghĩa vụ của NNT. Mức độ quan tâm và am hiểu thể hiện NNT có các ý thức xử sự đối với các quy định pháp luật về thuế.
Họ phải tìm hiểu, áp dụng nhằm tuân thủ đúng những quy định của pháp luật về thuế. Khi NNT không quan tâm đến những quy định pháp luật về thuế hoặc không am hiểu tường tận các quy định này thì khả năng xảy ra những hành vi không TTT là rất lớn. LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 10 Tiêu chí này bị ảnh hưởng bởi trình độ dân trí, mức độ đơn giản hay phức tạp của những chính sách pháp luật về thuế, nội dung và hình thức tuyên truyền, hỗ trợ NNT của CQT cũng như mức xử phạt những hành vi sai sót, gian lận của NNT. Mặc dù không lượng hóa được mức độ quan tâm của NNT đối với các quy định pháp luật thuế, nhưng có thể đánh giá NNT có quan tâm hay không và quan tâm ít hay nhiều thông qua việc khảo sát bảng hỏi NNT.
(ii) Sự tự nguyện hay miễn cưỡng trong TTT. Tiêu chí này cho thấy NNT tuân thủ một cách tự nguyện hay miễn cưỡng pháp luật về thuế. Nếu NNT tự nguyện tuân thủ trên cơ sở tự hào về nghĩa vụ thuế sẽ là tín hiệu tốt hơn là trường hợp NNT tuân thủ khi họ thấy rằng nếu không tuân thủ sẽ bị phát hiện và sẽ bị xử phạt. Trong trường hợp NNT miễn cưỡng tuân thủ đúng quy định pháp luật về thuế thì nguy cơ vi phạm khi hành vi vi phạm không bị phát hiện tăng lên.