Tổng quan luận án
Luận án tiến sĩ luật học của nghiên cứu sinh Nguyễn Thị Lan với đề tài "Các tội xâm phạm chế độ hôn nhân và gia đình theo luật hình sự Việt Nam" (Chuyên ngành: Luật hình sự và tố tụng hình sự, Mã số: 62 38 01 04) được thực hiện tại Khoa Luật - Đại học Quốc gia Hà Nội dưới sự hướng dẫn khoa học của TS Nguyễn Tất Viễn và TS Trương Quang Vinh vào năm 2017.
Tính cấp thiết và khoảng trống nghiên cứu
Hôn nhân và gia đình là nền tảng duy trì và phát triển xã hội loài người. Dưới góc độ học thuyết Mác - Lênin, trật tự xã hội tại một thời đại lịch sử nhất định được quyết định bởi hai loại sản xuất: sản xuất tư liệu sinh hoạt và sản xuất ra bản thân con người. Chủ tịch Hồ Chí Minh đã chỉ rõ gia đình là hạt nhân của xã hội, gia đình tốt thì xã hội mới tốt. Tại Việt Nam, các bản Hiến pháp từ năm 1946 đến nay đều khẳng định nguyên tắc bảo hộ hôn nhân và gia đình của Nhà nước. Nhằm cụ thể hóa nguyên tắc hiến định, Bộ luật hình sự năm 1999 (được sửa đổi, bổ sung năm 2009) đã dành một chương riêng gồm 07 điều luật quy định về các tội xâm phạm chế độ hôn nhân và gia đình, thiết lập cơ sở pháp lý xử lý các hành vi vi phạm nghiêm trọng.
Tuy nhiên, sau hơn 16 năm thi hành Bộ luật hình sự năm 1999, thực tiễn áp dụng pháp luật đã làm bộc lộ nhiều điểm bất cập:
- Các quy định về nhóm tội phạm này còn thiếu rõ ràng, dẫn đến cách hiểu không thống nhất giữa các cơ quan tiến hành tố tụng.
- Đã xuất hiện một số hành vi nguy hiểm mới xâm hại nghiêm trọng đến quan hệ hôn nhân và gia đình nhưng chưa được tội phạm hóa kịp thời.
- Một số chế tài hình phạt chưa tương xứng với tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi, thiếu sự phân hóa trách nhiệm hình sự và còn tồn tại lỗi kỹ thuật lập pháp.
- Thực tiễn xét xử hình sự đối với nhóm tội này còn rất khiêm tốn so với thực trạng vi phạm gia tăng, làm suy giảm tính răn đe và hiệu quả phòng ngừa chung.
- Sự ra đời của Hiến pháp năm 2013, Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014, Bộ luật Dân sự năm 2015 và Bộ luật hình sự năm 2015 cùng các yêu cầu cải cách tư pháp theo tinh thần Nghị quyết số 08-NQ/TW ngày 02/01/2002 và Nghị quyết số 49-NQ/TW ngày 02/06/2005 của Bộ Chính trị đặt ra đòi hỏi cấp bách phải nghiên cứu hoàn thiện toàn diện chế định pháp lý này.
Mục tiêu nghiên cứu
Mục đích nghiên cứu của luận án gồm hai nội dung chính:
- Làm sáng tỏ các vấn đề lý luận về các tội xâm phạm chế độ hôn nhân và gia đình trong pháp luật hình sự.
- Phân tích các quy định của pháp luật hình sự hiện hành và thực tiễn áp dụng, từ đó đề xuất các giải pháp tiếp tục hoàn thiện pháp luật hình sự và nâng cao hiệu quả áp dụng đối với nhóm tội phạm này.
Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu: Các quy định của pháp luật hình sự Việt Nam về các tội xâm phạm chế độ hôn nhân và gia đình; các vấn đề lý luận liên quan; thực tiễn xét xử sơ thẩm trong 10 năm (2006–2015) tại Việt Nam; và kinh nghiệm lập pháp hình sự của một số quốc gia trên thế giới.
- Phạm vi nghiên cứu:
- Luận án tập trung nghiên cứu dưới góc độ luật hình sự đối với các vấn đề tội phạm, hình phạt và kỹ thuật xây dựng, thực thi pháp luật đối với các hành vi xâm hại trực tiếp chế độ hôn nhân và gia đình. Các khía cạnh thuộc xã hội học, tội phạm học và tố tụng hình sự chỉ được sử dụng với vai trò bổ trợ.
- Việc nghiên cứu luật so sánh quốc tế được giới hạn nhằm mục đích tham khảo, củng cố cơ sở lý luận và lập luận khoa học cho việc hoàn thiện pháp luật Việt Nam.
- Phạm vi khảo sát thực tiễn xét xử được giới hạn trong mốc thời gian 10 năm, từ năm 2006 đến năm 2015.
Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án
Các hướng nghiên cứu trong nước
Tác giả đã điểm lại hệ thống các công trình nghiên cứu trong nước theo các nhóm hướng tiếp cận:
- Hướng tiếp cận tổng quát trong giáo trình và sách chuyên khảo: Giáo trình Luật hình sự Việt Nam (Phần các tội phạm) của Khoa Luật - Đại học Quốc gia Hà Nội do GS.TSKH Lê Văn Cảm chủ biên; Giáo trình Luật hình sự Việt Nam (Tập 2) của Trường Đại học Luật Hà Nội do GS.TS Nguyễn Ngọc Hòa chủ biên; Giáo trình Luật hình sự Việt Nam của Học viện Tư pháp; công trình nghiên cứu của tác giả Trịnh Tiến Việt. Các công trình này thống nhất nhận định hành vi vi phạm chế độ hôn nhân và gia đình chịu ảnh hưởng từ tàn dư tư tưởng phong kiến, đồng thời khẳng định chính sách xử lý là ưu tiên giáo dục, thuyết phục, coi chế tài hình sự là biện pháp cưỡng chế nghiêm khắc cuối cùng.
- Hướng tiếp cận bình luận khoa học và hướng dẫn áp dụng: Cuốn "Bình luận Bộ luật hình sự (Phần riêng)" của tác giả Đinh Văn Quế và cuốn "Bình luận khoa học Bộ luật hình sự" do GS.TS Trần Minh Hưởng chủ biên. Các công trình này đi sâu giải thích cấu thành tội phạm theo từng điều luật cụ thể, đối chiếu giữa Bộ luật hình sự năm 1999 và Bộ luật hình sự năm 1985 nhưng chưa đi sâu vào hệ thống lý luận chung.
- Hướng nghiên cứu chuyên sâu từng tội danh cụ thể: Các bài báo khoa học của tác giả Trịnh Tiến Việt về tội ngược đãi hoặc hành hạ ông bà, cha mẹ, vợ chồng, con, cháu, người có công nuôi dưỡng mình; tội từ chối hoặc trốn tránh nghĩa vụ cấp dưỡng; bài viết của tác giả Nguyễn Thị Lan về tội vi phạm chế độ một vợ, một chồng dưới khía cạnh xã hội - pháp lý.
- Hướng tiếp cận từ tội phạm học và phòng ngừa bạo lực gia đình: Công trình của tác giả Phạm Minh Chiêu nghiên cứu hoạt động của lực lượng Cảnh sát nhân dân trong phòng ngừa tội phạm bạo lực gia đình (khảo sát số liệu Điều 151 Bộ luật hình sự giai đoạn 2007–2012).
- Hướng tiếp cận dưới góc độ Luật Hôn nhân và gia đình: Công trình "Một số vấn đề lý luận và thực tiễn về Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000" của các tác giả Nguyễn Văn Cừ và Ngô Thị Hường.
Các hướng nghiên cứu ở nước ngoài
Tác giả đã khảo cứu nhiều công trình nghiên cứu quốc tế tiêu biểu:
- Luận án tiến sĩ của Kolmakova Oksana Sergeevna tại Liên bang Nga về tội phạm xâm hại quyền trẻ em trong lĩnh vực quan hệ gia đình, phân tích các điều kiện xã hội - pháp lý và quy định bảo vệ bí mật thông tin nhận con nuôi.
- Sách "Giải thích chính xác các tội danh trong luật hình sự" của Chu Đạo Loan và Trương Quân (Trung Quốc), bình luận các tội trùng hôn, phá hoại hôn nhân của quân nhân, ngược đãi, bỏ rơi, lừa gạt trẻ em thuộc Chương các tội xâm phạm quyền tự do thân thể, quyền dân chủ của công dân.
- Công trình của Tiến sĩ Rachel Slater (Tạp chí Luật quốc tế Melbourne, Úc) về xử lý hành vi cưỡng bức hôn nhân tại Tòa án đặc biệt Sierra Leone dưới góc độ luật hình sự quốc tế.
- Bài viết của Tiến sĩ JoAnne Sweeny (Đại học Luật Louisville, Hoa Kỳ) về lịch sử pháp luật hình sự điều chỉnh hành vi thông dâm và ngoại tình.
- Công trình nghiên cứu về tội loạn luân của tác giả Graham Hugies (1964, Hoa Kỳ) phân tích cấu thành tội phạm và sự cần thiết của chế tài hình sự nghiêm khắc.
- Công trình "Luận về bạo lực gia đình" của Trương Á Lâm và bài viết về tội phạm trong lĩnh vực hôn nhân gia đình của Khuất Học Vũ (1996, Trung Quốc) đề xuất bổ sung cấu thành tội đe dọa, tách riêng tội loạn luân và tội giết con mới sinh.
Khoảng trống nghiên cứu luận án lựa chọn giải quyết
Tổng quan tài liệu cho thấy chưa có công trình nào nghiên cứu một cách toàn diện và có hệ thống ở cấp độ luận án tiến sĩ về toàn bộ các tội xâm phạm chế độ hôn nhân và gia đình trong luật hình sự Việt Nam. Các công trình trước đây còn bộc lộ các khoảng trống:
- Chưa làm rõ một cách đầy đủ và có hệ thống các cơ sở lý luận của việc quy định nhóm tội này trong luật hình sự.
- Lịch sử lập pháp hình sự Việt Nam về nhóm tội này chưa được xâu chuỗi liên tục theo tiến trình thời gian từ thời kỳ phong kiến đến hiện đại nhằm đúc kết bài học kế thừa.
- Nghiên cứu so sánh luật hình sự quốc tế còn thiếu tiêu chí chọn lọc tương đồng hoặc bổ trợ cho Việt Nam.
- Các kiến nghị hoàn thiện pháp luật chưa kết hợp chặt chẽ giữa phân tích chính sách hình sự với số liệu thực tiễn xét xử 10 năm trên quy mô toàn quốc.
Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu
Cơ sở lý thuyết và khung phân tích
- Cơ sở lý luận: Chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, các quan điểm, chủ trương của Đảng Cộng sản Việt Nam và chính sách pháp luật của Nhà nước về bảo vệ gia đình.
- Phương pháp luận: Chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử, xem xét hiện tượng tội phạm trong mối liên hệ nhân quả với các điều kiện kinh tế, chính trị, văn hóa và xã hội.
- Khái niệm do luận án xác lập: Luận án định nghĩa các tội xâm phạm chế độ hôn nhân và gia đình là những hành vi nguy hiểm cho xã hội được quy định trong luật hình sự, do người có năng lực trách nhiệm hình sự và đủ tuổi chịu trách nhiệm hình sự cố ý thực hiện, xâm phạm đến những quan hệ hôn nhân và gia đình được Nhà nước bảo vệ.
- Khung cơ sở quy định tội phạm: Luận án phân tích 5 nhóm cơ sở nền tảng:
- Cơ sở chính trị: Phản ánh bản chất nhà nước, kiểm soát trật tự dân số và tổ chức đời sống xã hội theo định hướng xã hội chủ nghĩa.
- Cơ sở pháp lý: Phù hợp với các nguyên tắc hiến định, bảo đảm tính thống nhất trong hệ thống pháp luật quốc gia, xác định đúng khách thể trực tiếp và nội luật hóa các chuẩn mực, điều ước quốc tế.
- Cơ sở kinh tế - xã hội: Sự biến đổi của quan hệ gia đình dưới tác động của hạ tầng cơ sở và sự phát triển kinh tế.
- Cơ sở văn hóa - truyền thống: Kế thừa các giá trị đạo đức dân tộc, xóa bỏ các hủ tục lạc hậu.
- Cơ sở tâm lý - đạo đức: Đáp ứng đòi hỏi về luân thường đạo lý và cảm xúc tâm lý xã hội.
Phương pháp nghiên cứu thực tế
Luận án kết hợp các phương pháp nghiên cứu định tính và định lượng:
- Phương pháp phân tích và tổng hợp: Phân chia đối tượng nghiên cứu thành các cụm vấn đề lý luận, quy phạm và thực tiễn, sau đó khái quát hóa thành các kết luận khoa học và định nghĩa pháp lý.
- Phương pháp thống kê xã hội học: Xử lý và phân tích số liệu thống kê các vụ án hình sự sơ thẩm về các tội xâm phạm chế độ hôn nhân và gia đình được xét xử trên phạm vi cả nước giai đoạn 2006–2015.
- Phương pháp hệ thống và lịch sử cụ thể: Xâu chuỗi, đánh giá các quy định pháp luật qua ba thời kỳ (phong kiến, Pháp thuộc, từ sau Cách mạng tháng Tám năm 1945 đến nay) đặt trong bối cảnh lịch sử tương ứng.
- Phương pháp luật học so sánh: Đối chiếu các quy định pháp luật hình sự của Việt Nam với luật hình sự của Liên bang Nga, Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa, Cộng hòa Liên bang Đức và Hoa Kỳ.
- Các phương pháp logic, diễn dịch, quy nạp: Phục vụ lập luận khoa học và xây dựng các kiến nghị lập pháp.
Nguồn tư liệu và dữ liệu
- Hệ thống văn bản quy phạm pháp luật hình sự, hôn nhân gia đình, dân sự qua các thời kỳ của Việt Nam;
- Số liệu thống kê tư pháp về xét xử sơ thẩm của hệ thống Tòa án nhân dân trong 10 năm (2006–2015);
- Văn bản luật hình sự của các quốc gia: Liên bang Nga, Trung Quốc, Đức; các điều ước và tài liệu pháp luật quốc tế;
- Hệ thống giáo trình, sách chuyên khảo, bài báo khoa học trong và ngoài nước.
Nội dung chính theo từng chương
Chương 1: Tổng quan về vấn đề nghiên cứu
Chương 1 hệ thống hóa toàn diện các công trình nghiên cứu trong nước và quốc tế liên quan đến các tội xâm phạm chế độ hôn nhân và gia đình. Tác giả phân tích các khuynh hướng nghiên cứu chính (tiếp cận dưới góc độ luật hình sự, tiếp cận dưới góc độ tội phạm học/bạo lực gia đình, và tiếp cận dưới góc độ luật quốc tế/bảo vệ quyền con người). Trên cơ sở chỉ ra những khoảng trống khoa học của các công trình đi trước, chương này xác định 5 nhóm nhiệm vụ trọng tâm luận án cần giải quyết, đồng thời luận chứng về phương pháp luận và hệ phương pháp nghiên cứu được vận dụng xuyên suốt công trình.
Chương 2: Những vấn đề lý luận về các tội xâm phạm chế độ hôn nhân và gia đình
Chương này tập trung giải quyết các nội dung lý luận nền tảng:
- Xây dựng khái niệm: Phân tích khái niệm chế độ hôn nhân và gia đình dưới góc độ xã hội học và pháp lý; phân biệt phạm vi chế độ hôn nhân và gia đình được điều chỉnh bởi Luật Hôn nhân và gia đình với phạm vi thu hẹp được bảo vệ bằng luật hình sự.
- Xác lập 5 đặc trưng pháp lý cơ bản của nhóm tội:
- Là hành vi nguy hiểm cho xã hội, vi phạm các nguyên tắc cơ bản của chế độ hôn nhân và gia đình;
- Là hành vi đã được tội phạm hóa trong Bộ luật hình sự;
- Do người có năng lực trách nhiệm hình sự thực hiện;
- Do người đạt độ tuổi luật định thực hiện;
- Được thực hiện dưới hình thức lỗi cố ý.
- Phân tích 5 cơ sở quy định tội phạm trong luật hình sự: Cơ sở chính trị, cơ sở pháp lý, cơ sở kinh tế - xã hội, cơ sở văn hóa - truyền thống, cơ sở tâm lý - đạo đức.
- Nghiên cứu luật hình sự so sánh: Khảo sát các quy định điều chỉnh quan hệ hôn nhân và gia đình trong luật hình sự của Liên bang Nga (bảo vệ quyền trẻ em, thông tin nhận con nuôi), Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa (tội trùng hôn, phá hoại hôn nhân quân nhân, ngược đãi, bỏ rơi) và Cộng hòa Liên bang Đức, rút ra các bài học kinh nghiệm về kỹ thuật lập pháp và mô hình phân hóa trách nhiệm hình sự.
Chương 3: Pháp luật hình sự Việt Nam về các tội xâm phạm chế độ hôn nhân và gia đình
Chương 3 tái hiện bức tranh lập pháp hình sự Việt Nam và phân tích các dấu hiệu pháp lý:
- Tiến trình lịch sử lập pháp qua ba giai đoạn:
- Thời kỳ phong kiến (Bộ luật Hồng Đức, Bộ luật Gia Long với các quy định bảo vệ trật tự gia đình gia trưởng);
- Thời kỳ Pháp thuộc (sự đan xen giữa luật thuộc địa và luật tục bản xứ);
- Thời kỳ từ sau Cách mạng tháng Tám năm 1945 đến nay (từ Sắc lệnh, Luật Hôn nhân và gia đình năm 1959, Bộ luật hình sự năm 1985 đến Bộ luật hình sự năm 1999).
- Đặc điểm pháp lý của nhóm tội theo Bộ luật hình sự năm 1999: Phân tích chi tiết 4 yếu tố cấu thành tội phạm (khách thể, mặt khách quan, chủ thể, mặt chủ quan) của 07 tội danh thuộc Chương XV Bộ luật hình sự năm 1999.
- Phân định ranh giới pháp lý: Phân biệt các tội xâm phạm chế độ hôn nhân và gia đình với các tội phạm xâm phạm tính mạng, sức khỏe, nhân phẩm, danh dự và các tội phạm khác có liên quan.
Chương 4: Thực tiễn xét xử và việc hoàn thiện pháp luật hình sự Việt Nam về các tội xâm phạm chế độ hôn nhân và gia đình
Chương 4 kết hợp phân tích thực tiễn thực thi pháp luật và xây dựng hệ thống giải pháp hoàn thiện:
- Đánh giá thực tiễn xét xử sơ thẩm giai đoạn 2006–2015: Tác giả sử dụng hệ thống số liệu thực chứng để đánh giá thực trạng xét xử nhóm tội này trên toàn quốc thông qua các bảng biểu:
| Số hiệu |
Tên bảng / đồ thị số liệu trong luận án |
Vị trí trang |
| Bảng 4.1 |
Số liệu xét xử hình sự sơ thẩm về các tội xâm phạm chế độ HNGĐ giai đoạn 2006–2015 |
Trang 106 |
| Đồ thị 4.1 |
Đồ thị tăng giảm số lượng vụ án HNGĐ được xét xử sơ thẩm từ năm 2006–2015 |
Trang 106 |
| Bảng 4.2 |
Tỷ lệ giữa tổng số vụ án HNGĐ đã xét xử sơ thẩm trên tổng số vụ án về tất cả các tội phạm đã được xét xử sơ thẩm |
Trang 107 |
| Bảng 4.3 |
Tổng số vụ án và số bị cáo được xét xử sơ thẩm theo từng năm trong giai đoạn 2006–2015 |
Trang 109 |
| Bảng 4.4 |
Tỷ lệ về các đặc điểm nhân thân của bị cáo bị xét xử về tội xâm phạm chế độ HNGĐ giai đoạn 2006–2015 |
Trang 111 |
| Bảng 4.5 |
Tỷ lệ áp dụng các hình thức TNHS đối với các tội xâm phạm chế độ HNGĐ giai đoạn 2006–2015 |
Trang 115 |
- Chỉ ra các bất cập và nguyên nhân: Phân tích nguyên nhân dẫn đến số lượng vụ án được đưa ra xét xử còn thấp, tình trạng bất cập trong hướng dẫn áp dụng pháp luật và những vướng mắc xuất phát từ nhận thức xã hội, năng lực cán bộ tiến hành tố tụng.
- Đánh giá các điểm mới trong Bộ luật hình sự năm 2015: Đánh giá những điểm đã được sửa đổi, bổ sung và chỉ rõ những vấn đề tồn đọng cần tiếp tục xử lý.
- Hệ thống kiến nghị, giải pháp: Đề xuất các yêu cầu và nội dung cụ thể cần tiếp tục sửa đổi, bổ sung trong Bộ luật hình sự, kết hợp các giải pháp hướng dẫn áp dụng pháp luật và các biện pháp kinh tế, xã hội, tuyên truyền nhằm nâng cao hiệu quả phòng ngừa tội phạm.
Kết quả và những đóng góp mới
Đóng góp về mặt lý luận
- Xây dựng và chuẩn hóa định nghĩa khoa học về các tội xâm phạm chế độ hôn nhân và gia đình, phân định rõ phạm vi bảo vệ bằng chế tài hình sự so với phạm vi điều chỉnh của Luật Hôn nhân và gia đình.
- Luận giải toàn diện 5 cơ sở quy định nhóm tội này trong pháp luật hình sự (chính trị, pháp lý, kinh tế - xã hội, văn hóa - truyền thống, tâm lý - đạo đức).
- Là công trình nghiên cứu có hệ thống về lịch sử lập pháp hình sự điều chỉnh các quan hệ hôn nhân và gia đình tại Việt Nam qua các thời kỳ lịch sử, đúc kết các giá trị kế thừa phục vụ lập pháp đương đại.
- Cung cấp cơ sở lý luận so sánh từ luật hình sự của các quốc gia tiêu biểu (Nga, Trung Quốc, Đức, Hoa Kỳ).
Đóng góp về mặt thực tiễn và giải pháp đề xuất
- Đánh giá thực chứng bức tranh xét xử sơ thẩm 10 năm (2006–2015) trên phạm vi toàn quốc đối với nhóm tội phạm hôn nhân gia đình thông qua hệ thống số liệu thống kê tư pháp cụ thể.
- Nhận diện các vướng mắc, khiếm khuyết trong kỹ thuật lập pháp của Bộ luật hình sự năm 1999 và đánh giá mức độ khắc phục của Bộ luật hình sự năm 2015.
- Đề xuất các giải pháp lập pháp cụ thể:
- Tội phạm hóa các hành vi nguy hiểm mới xuất hiện trong đời sống gia đình nhằm bảo vệ tốt hơn phụ nữ và trẻ em;
- Hoàn thiện cấu thành và khung hình phạt, bảo đảm nguyên tắc phân hóa trách nhiệm hình sự;
- Ban hành văn bản giải thích, hướng dẫn áp dụng thống nhất các dấu hiệu định tội và định khung hình phạt;
- Tăng cường phối hợp liên ngành giữa các cơ quan tiến hành tố tụng và kết hợp các biện pháp tuyên truyền, giáo dục pháp luật, hỗ trợ hòa giải tại cơ sở.
Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp
- Hạn chế: Luận án tiếp cận vấn đề thuần túy dưới góc độ khoa học luật hình sự; do đó, các khía cạnh về tội phạm học chuyên sâu, tâm lý học tư pháp và quy trình tố tụng chi tiết không thuộc phạm vi giải quyết trực tiếp. Mặt khác, phạm vi khảo sát thực tiễn xét xử được giới hạn đến năm 2015 nên chưa phản ánh toàn diện thực tiễn sau thời điểm Bộ luật hình sự năm 2015 có hiệu lực thi hành.
- Hướng nghiên cứu tiếp:
- Đánh giá thực tiễn áp dụng các quy định về nhóm tội xâm phạm chế độ hôn nhân và gia đình theo Bộ luật hình sự năm 2015 trong giai đoạn thi hành mới;
- Nghiên cứu các hành vi xâm phạm quan hệ gia đình phát sinh trong bối cảnh công nghệ số và quan hệ xuyên quốc gia có yếu tố nước ngoài;
- Nghiên cứu liên ngành giữa luật hình sự và tội phạm học nhằm xây dựng mô hình phòng ngừa đa tầng đối với bạo lực gia đình.
Giá trị tham khảo
Luận án là tài liệu tham khảo có giá trị chuyên môn đối với nhiều đối tượng:
- Cơ quan lập pháp: Cung cấp luận cứ khoa học và thực tiễn phục vụ hoạt động lập pháp, sửa đổi, bổ sung Bộ luật hình sự và các luật chuyên ngành liên quan.
- Cơ quan tư pháp (Tòa án, Viện kiểm sát, Cơ quan điều tra): Cung cấp các phân tích pháp lý, tiêu chí phân định ranh giới tội phạm nhằm hỗ trợ giải thích, định tội danh và áp dụng pháp luật thống nhất trong thực tiễn xét xử.
- Cơ sở đào tạo và nghiên cứu: Phục vụ công tác giảng dạy, học tập và nghiên cứu của giảng viên, nghiên cứu sinh, học viên cao học và sinh viên chuyên ngành Luật hình sự, Tố tụng hình sự, Luật Hôn nhân và gia đình.
- Các tổ chức bảo vệ quyền con người, phụ nữ và trẻ em: Cung cấp tư liệu tham khảo phục vụ hoạt động bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của các chủ thể yếu thế trong quan hệ gia đình.
Câu hỏi thường gặp
1. Khái niệm "Các tội xâm phạm chế độ hôn nhân và gia đình" được luận án định nghĩa như thế nào?
Luận án định nghĩa: "Các tội xâm phạm chế độ hôn nhân và gia đình là những hành vi nguy hiểm cho xã hội được quy định trong luật hình sự, do người có năng lực trách nhiệm hình sự và đủ tuổi chịu trách nhiệm hình sự cố ý thực hiện, xâm phạm đến những quan hệ hôn nhân và gia đình được Nhà nước bảo vệ."
2. Luận án xác định việc quy định các tội xâm phạm chế độ hôn nhân và gia đình dựa trên những cơ sở nào?
Tác giả luận giải việc quy định nhóm tội này trong luật hình sự dựa trên 5 cơ sở:
- Cơ sở chính trị;
- Cơ sở pháp lý (gồm pháp luật quốc gia và điều ước/chuẩn mực quốc tế);
- Cơ sở kinh tế - xã hội;
- Cơ sở văn hóa - truyền thống;
- Cơ sở tâm lý - đạo đức.
3. Tiêu chí để phân định một hành vi vi phạm chế độ hôn nhân gia đình có bị xử lý hình sự hay không là gì?
Luận án chỉ ra hai căn cứ để xác định ranh giới xử lý hình sự:
- Tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phải ở mức đáng kể, vượt qua ngưỡng điều chỉnh của các chế tài phi hình sự (thể hiện qua việc đã bị xử lý kỷ luật/hành chính mà còn vi phạm, hoặc gây hậu quả nghiêm trọng);
- Khách thể trực tiếp bị xâm hại phải là quan hệ xã hội về hôn nhân và gia đình, phản ánh đầy đủ bản chất nguy hiểm cho xã hội của hành vi vi phạm.
4. Luận án khảo sát thực tiễn xét xử sơ thẩm nhóm tội này tại Việt Nam trong giai đoạn nào?
Luận án khảo sát và phân tích số liệu thống kê xét xử hình sự sơ thẩm của hệ thống Tòa án nhân dân trên phạm vi cả nước trong giai đoạn 10 năm, từ năm 2006 đến năm 2015 (thể hiện qua các Bảng 4.1, 4.2, 4.3, 4.4, 4.5 và Đồ thị 4.1).
5. Kinh nghiệm lập pháp của các quốc gia nào được luận án phân tích để so sánh với Việt Nam?
Luận án khảo sát và phân tích các quy định pháp luật hình sự liên quan đến bảo vệ hôn nhân, gia đình và người chưa thành niên của Liên bang Nga, Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa, Cộng hòa Liên bang Đức và dẫn chiếu các thực tiễn tại Hoa Kỳ và án lệ quốc tế tại Sierra Leone.
Kết luận
Luận án tiến sĩ của tác giả Nguyễn Thị Lan là công trình nghiên cứu chuyên sâu và toàn diện về các tội xâm phạm chế độ hôn nhân và gia đình theo pháp luật hình sự Việt Nam. Tác giả đã làm sáng tỏ hệ thống lý luận, chuẩn hóa khái niệm, xâu chuỗi tiến trình lịch sử lập pháp và phân tích thực chứng số liệu xét xử sơ thẩm giai đoạn 2006–2015. Các kết quả nghiên cứu và hệ thống kiến nghị trong luận án cung cấp cơ sở khoa học quan trọng cho việc hoàn thiện lập pháp hình sự và nâng cao hiệu quả thực thi pháp luật nhằm bảo vệ quan hệ hôn nhân và gia đình tại Việt Nam.