Tổng quan luận án
Luận án tiến sĩ kinh tế với đề tài "Nghiên cứu các nhân tố thu hút lao động nước ngoài có kỹ năng vào Việt Nam" do nghiên cứu sinh Nguyễn Phương Trang thực hiện tại Trường Đại học Kinh tế Quốc dân (Hà Nội, năm 2022), dưới sự hướng dẫn khoa học của PGS.TS. Ngô Thị Tuyết Mai và PGS.TS. Lưu Bích Ngọc. Luận án thuộc chuyên ngành Kinh tế quốc tế, mã số 9310106.
| Thông tin tổng quan |
Chi tiết |
| Đề tài luận án |
Nghiên cứu các nhân tố thu hút lao động nước ngoài có kỹ năng vào Việt Nam |
| Tác giả |
Nguyễn Phương Trang |
| Cơ sở đào tạo |
Trường Đại học Kinh tế Quốc dân |
| Chuyên ngành / Mã số |
Kinh tế quốc tế / 9310106 |
| Người hướng dẫn |
1. PGS.TS. Ngô Thị Tuyết Mai; 2. PGS.TS. Lưu Bích Ngọc |
| Năm hoàn thành |
2022 |
| Phương pháp tiếp cận |
Kết hợp nghiên cứu định tính và phân tích thực nghiệm định lượng |
Tính cấp thiết và khoảng trống nghiên cứu
Toàn cầu hóa và hội nhập kinh tế quốc tế đã thúc đẩy dòng dịch chuyển lao động xuyên biên giới. Theo số liệu của Tổ chức Lao động Quốc tế (ILO), giai đoạn 2013-2017, số người di cư quốc tế tăng khoảng 11%, số người di cư trong độ tuổi lao động tăng khoảng 13%, và số lao động di cư tăng khoảng 9%. Đến năm 2019, toàn cầu có khoảng 169 triệu lao động nhập cư quốc tế, chiếm 69% dân số di cư trong độ tuổi lao động. Tác động của cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư (CMCN 4.0) làm tái cấu trúc thị trường lao động, gia tăng sự cạnh tranh giữa các quốc gia trong việc thu hút lao động có kỹ năng nhằm giải quyết sự thiếu hụt nhân lực nội địa.
Tại Việt Nam, dòng vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) gia tăng nhanh chóng đã thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu kinh tế sang các ngành sử dụng công nghệ cao, kéo theo nhu cầu lớn về lao động có kỹ năng. Tuy nhiên, chất lượng nguồn nhân lực trong nước vẫn còn khoảng cách lớn: Báo cáo của Diễn đàn Kinh tế Thế giới (WEF) năm 2018 xếp Việt Nam ở vị trí 81/100 về chất lượng nguồn lao động có kỹ năng; Báo cáo của Trung tâm Quốc gia về Dịch vụ việc làm (2021) dự báo tỷ lệ lao động chưa qua đào tạo tại Việt Nam đến năm 2030 vẫn ở mức trên 67%.
Khoảng trống nghiên cứu được tác giả xác định là: Các công trình nghiên cứu về lao động nước ngoài tại Việt Nam trước đây phần lớn chỉ tiếp cận theo hướng định tính, tập trung vào khía cạnh pháp lý và quản lý hành chính, chưa có nghiên cứu định lượng thực nghiệm ở cấp độ vĩ mô nhằm lượng hóa tác động của các nhân tố kinh tế, thể chế và xã hội đến việc thu hút lao động nước ngoài có kỹ năng.
Mục tiêu nghiên cứu
- Mục tiêu tổng quát: Trên cơ sở hệ thống hóa và vận dụng lý luận về lao động di cư quốc tế, luận án phân tích, đánh giá các nhân tố thu hút lao động nước ngoài có kỹ năng vào Việt Nam trong giai đoạn 2016-2020, từ đó đề xuất hệ thống giải pháp nhằm tăng cường thu hút nguồn lao động này.
- Mục tiêu cụ thể:
- Hệ thống hóa cơ sở lý luận, xây dựng khung lý thuyết và đề xuất mô hình nghiên cứu về các nhân tố thu hút lao động có kỹ năng di cư quốc tế vào một quốc gia đang phát triển.
- Đánh giá thực trạng các nhân tố thu hút lao động nước ngoài có kỹ năng vào Việt Nam giai đoạn 2016-2020.
- Phân tích thực nghiệm các nhân tố thu hút lao động nước ngoài có kỹ năng vào Việt Nam giai đoạn 2016-2020.
- Đề xuất quan điểm và giải pháp tăng cường thu hút lao động nước ngoài có kỹ năng vào Việt Nam.
Câu hỏi nghiên cứu và giả thuyết nghiên cứu
Luận án xác định 5 câu hỏi nghiên cứu:
- Những nhân tố nào được xác định là nhân tố hút lao động nước ngoài có kỹ năng vào Việt Nam?
- Thực trạng lao động nước ngoài có kỹ năng vào Việt Nam trong giai đoạn 2016-2020 như thế nào?
- Đặc điểm các nhân tố hút lao động nước ngoài có kỹ năng vào Việt Nam trong giai đoạn 2016-2020 là như thế nào?
- Vai trò của các nhân tố hút lao động nước ngoài có kỹ năng vào Việt Nam?
- Giải pháp thu hút lao động nước ngoài có kỹ năng vào Việt Nam trong thời gian tới như thế nào?
Hệ thống giả thuyết nghiên cứu được kiểm định trong luận án gồm:
- H1a: Sự gia tăng số lượng vốn FDI vào Việt Nam và mức độ hội nhập quốc tế là yếu tố hút lao động nước ngoài có kỹ năng vào Việt Nam.
- H1b: Sự gia tăng tỷ lệ thiếu hụt lao động qua đào tạo và nhóm lao động có kỹ năng là yếu tố hút lao động nước ngoài có kỹ năng vào Việt Nam.
- H1c: Sự cải thiện chất lượng môi trường thể chế và các điều kiện thu hút lao động nước ngoài có kỹ năng là yếu tố hút lao động nước ngoài có kỹ năng vào Việt Nam.
- H1d: Số lượng vốn FDI vào Việt Nam và mức độ hội nhập quốc tế, chất lượng môi trường thể chế là những nhân tố có tác động mạnh trong dài hạn tới việc thu hút lao động nước ngoài có kỹ năng vào Việt Nam.
- H2: Các nhân tố phản ánh đặc trưng kinh tế, văn hóa và xã hội của địa phương là yếu tố hút lao động nước ngoài có kỹ năng vào Việt Nam.
- H2a: Sự gia tăng thu nhập trung bình tại các địa phương là yếu tố hút lao động nước ngoài có kỹ năng vào Việt Nam.
- H2b: Sự gia tăng tỷ lệ lao động trẻ tại các địa phương là yếu tố hút lao động nước ngoài có kỹ năng vào Việt Nam.
- H2c: Sự gia tăng số lượng lao động kỹ thuật, lao động làm lãnh đạo tại các địa phương là yếu tố hút lao động nước ngoài có kỹ năng vào Việt Nam.
Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu: Lý luận và thực tiễn về các nhân tố thu hút lao động nước ngoài có kỹ năng vào một quốc gia.
- Khách thể nghiên cứu: Lao động nước ngoài có kỹ năng làm việc hợp pháp tại Việt Nam; các nhà hoạch định chính sách và người sử dụng lao động.
- Phạm vi nội dung: Tập trung vào các nhân tố cấp độ vĩ mô (vốn FDI, hội nhập quốc tế, thực trạng và nhu cầu lao động kỹ năng, môi trường thể chế và đặc trưng địa phương). Luận án không đi sâu nghiên cứu cấp độ vi mô của doanh nghiệp (như hiệu quả làm việc hay lợi nhuận cụ thể của đơn vị sử dụng lao động).
- Phạm vi thời gian: Giai đoạn 2016-2020. Đây là thời kỳ Việt Nam tham gia nhiều Hiệp định Thương mại Tự do (FTA) thế hệ mới (VN-EAEU FTA, CPTPP, EVFTA), ban hành Nghị định 152/2020/NĐ-CP và chịu tác động của dịch Covid-19. Số liệu phân theo 4 nhóm vị trí việc làm được thu thập trong hai năm 2019-2020 do giới hạn tiếp cận thống kê.
- Phạm vi không gian: Mô hình thực nghiệm định lượng bao quát 63 tỉnh/thành phố trên cả nước; khảo sát sơ cấp được thực hiện tại 5 địa phương tập trung 69% tổng số lao động nước ngoài tại Việt Nam: Hà Nội, Bắc Ninh, TP. Hồ Chí Minh, Bình Dương và Đồng Nai.
Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án
Các hướng nghiên cứu được điểm luận trong văn bản
Tác giả hệ thống hóa các nghiên cứu trong nước và quốc tế theo các nhóm chủ đề chính:
- Sự thiếu hụt lao động kỹ năng và cạnh tranh thu hút quốc tế: Các công trình của Wogart & Schüller (2011), Papademetriou & Sumption (2013) làm rõ tình trạng cạnh tranh thu hút lao động kỹ năng toàn cầu. Nghiên cứu của ILO (2017) và Šárka Prát, James Pepper & Lisa Nguyen (2016) khảo sát chính sách thu hút nhân tài tại các nước phát triển (Mỹ, Canada, Đức, Singapore, Nhật Bản, Trung Quốc). Weinar & Koppenfels (2020), Hatton & Williamson (2002), Kugler & Rapoport (2007), Mayda (2005) nghiên cứu xu hướng nới lỏng kiểm soát đối với lao động kỹ thuật cao tại các nền kinh tế đang phát triển.
- Nghiên cứu về lao động nước ngoài tại Việt Nam: Tác giả điểm lại các nghiên cứu định tính của Nguyễn Bình Giang (2010), Viện Khoa học Lao động và Xã hội (2014), Nguyễn Thị Hoài Hương (2014), Nguyễn Bá Ngọc (2016), Nguyễn Thị Thu Hương & Nguyễn Thị Bích Thúy (2015), Nguyễn Hồng Anh (2017). Các nghiên cứu này tập trung vào khung pháp lý, quản lý nhà nước và di chuyển lao động theo các thỏa thuận công nhận lẫn nhau (MRAs) trong ASEAN.
- Đầu tư trực tiếp nước ngoài và hội nhập quốc tế: Nghiên cứu của Katja Zajc Kejžar (2019) dựa trên dữ liệu doanh nghiệp Slovenia (2002-2010) chứng minh lao động nước ngoài ở vị trí quản lý và chuyên gia thúc đẩy chuyển giao công nghệ trong các công ty đa quốc gia (MNEs). Findlay & cộng sự (2000), Lindsay & Findlay (2010), Findlay & Warren phân tích mối liên hệ giữa toàn cầu hóa và dòng luân chuyển chất xám. Rezart Hoxhaj, Léa Marchal & Adnan Seric (2015) sử dụng dữ liệu từ 16 quốc gia châu Phi cận Sahara (SSA) chỉ ra cường độ vốn của doanh nghiệp tác động thuận chiều đến việc sử dụng lao động di cư có kỹ năng.
- Nhu cầu thị trường lao động và nhóm ngành STEM: Kent (2011), Salzman & cộng sự (2013), Malekoff (2013) phân tích nhu cầu lao động khoa học, kỹ thuật, kỹ nghệ và toán học (STEM) tại Mỹ. Báo cáo của Nghị viện Châu Âu (Reymen & cộng sự, 2015) xác định các ngành nghề "nút cổ chai" dẫn đến sự ra đời của chương trình "Thẻ xanh" tại Đức (2005) và EU (2009).
- Thể chế và chính sách nhập cư chọn lọc: Aoki (2001), North (1990), Nelson (1994), Ahn & Ostrom (2009) cung cấp cơ sở lý thuyết về thể chế. De Haas & cộng sự (2015), OECD (2009), Czaika & De Haas (2013), Simon-Kumar (2015), Anderson (2012), Freeman (2005), Koslowski (2014) phân loại các mô hình chính sách nhập cư: hướng cung (dựa trên hệ thống thang điểm - áp dụng tại Canada, Úc, New Zealand), hướng cầu (dựa trên sự bảo lãnh của doanh nghiệp - như visa H-1B tại Mỹ), và mô hình lai (Papademetriou & Sumption, 2013, 2015; Czaika & Parsons, 2015; Green & Hogarth, 2017).
- Đặc trưng nhân khẩu học và mối quan hệ bổ sung trên thị trường lao động: Furlong & cộng sự (2002), Glick & cộng sự (2015), Farrugia (2021) phân tích vấn đề thiếu hụt kỹ năng kỹ thuật ở nhóm lao động trẻ (15-24 tuổi). Viseth (2020), Banerjee & Duflo (2011), Paula & Scheinkman (2011), Constant (2014) chỉ ra mối quan hệ bổ sung dài hạn giữa lao động nhập cư có kỹ năng và lực lượng lao động quản lý/kỹ thuật bản địa.
Khoảng trống nghiên cứu được luận án giải quyết
- Chưa có nghiên cứu thực nghiệm định lượng ở cấp độ vĩ mô phân tích các nhân tố hút lao động có kỹ năng di cư tới các nước đang phát triển như Việt Nam.
- Các khung lý thuyết sẵn có chủ yếu được thiết kế cho các nước phát triển tiếp nhận người nhập cư định cư lâu dài, chưa phản ánh đầy đủ đặc thù thể chế, kinh tế và dịch chuyển lao động hợp đồng tại quốc gia đang phát triển.
- Thiếu sự kết hợp đồng thời giữa các yếu tố đặc trưng địa phương (thu nhập, cơ cấu lao động, chỉ số năng lực cạnh tranh cấp tỉnh - PCI) với dòng lao động nước ngoài phân theo 4 nhóm vị trí việc làm (nhà quản lý, giám đốc điều hành, chuyên gia, lao động kỹ thuật).
- Chưa có công trình đánh giá trong bối cảnh các FTA thế hệ mới và giai đoạn biến động của thị trường lao động dưới tác động của đại dịch Covid-19.
Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu
Cơ sở lý thuyết và khung phân tích
Luận án tiếp cận khái niệm lao động có kỹ năng di cư quốc tế thông qua các tiêu chuẩn phân loại nghề nghiệp ISCO của ILO và các quy định pháp luật Việt Nam. Khung lý thuyết được phát triển mở rộng từ mô hình nhập cư quốc tế của Gross & Schmitt (2003), tích hợp các lý thuyết di cư ở ba cấp độ:
- Cấp độ vĩ mô: Lý thuyết kinh tế tân cổ điển, lý thuyết thị trường lao động phân tầng, lý thuyết hệ thống thế giới.
- Cấp độ trung gian (Meso): Lý thuyết mạng lưới xã hội, lý thuyết thể chế di cư.
- Cấp độ vi mô: Lý thuyết kinh tế học mới về di cư, lý thuyết vốn con người và mô hình lựa chọn duy lý.
Khung phân tích vĩ mô của luận án tập trung vào 3 nhóm nhân tố hút chính:
- Số lượng vốn FDI và mức độ hội nhập quốc tế.
- Thực trạng sử dụng và nhu cầu về lao động có kỹ năng.
- Chất lượng môi trường thể chế và các điều kiện thu hút tại địa phương.
Phương pháp nghiên cứu
Luận án kết hợp phương pháp nghiên cứu khám phá và giải thích thông qua phương pháp định tính và định lượng:
Quy trình nghiên cứu 5 bước:
Bước 1: Nghiên cứu tổng quan lý thuyết, kinh nghiệm quốc tế và thực trạng.
Bước 2: Xây dựng khung phân tích, mô hình nghiên cứu lý thuyết.
Bước 3: Thu thập dữ liệu thứ cấp (63 tỉnh/thành) và dữ liệu sơ cấp (khảo sát, phỏng vấn).
Bước 4: Xử lý dữ liệu, ước lượng mô hình kinh tế lượng và phân tích thống kê.
Bước 5: Đề xuất hệ thống quan điểm và giải pháp.
Phương pháp định tính
- Rà soát tài liệu thứ cấp: Dữ liệu hành chính và báo cáo thống kê từ Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội (Bộ LĐTBXH), Sở LĐTBXH các địa phương, Tổng cục Thống kê (GSO) giai đoạn 2016-2020, và dữ liệu Chỉ số Năng lực cạnh tranh cấp tỉnh (PCI).
- Phỏng vấn sâu: Thu thập thông tin từ 18 đại biểu thuộc hai cấp quản lý:
- Cấp Trung ương (03 đại biểu): Lãnh đạo Cục Việc làm, Tổng cục Giáo dục nghề nghiệp, Viện Khoa học Lao động và Xã hội thuộc Bộ LĐTBXH.
- Cấp địa phương (15 đại biểu): Phỏng vấn tại 5 địa phương (Hà Nội, Bắc Ninh, TP. Hồ Chí Minh, Bình Dương, Đồng Nai), mỗi địa phương gồm 03 đại diện: Lãnh đạo Thanh tra Sở LĐTBXH, cán bộ quản lý Phòng LĐTBXH cấp huyện, và lãnh đạo Ban Quản lý Khu công nghiệp (BQL KCN).
Phương pháp định lượng
- Phân tích kinh tế lượng với dữ liệu mảng (Panel Data):
- Dữ liệu thứ cấp của 63 tỉnh/thành phố giai đoạn 2016-2020.
- Tác giả sử dụng phần mềm STATA 16 để chạy các mô hình: Hồi quy hiệu ứng cố định (Fixed Effects - FE), hiệu ứng ngẫu nhiên (Random Effects - RE).
- Để khắc phục hiện tượng phương sai sai số thay đổi và tương quan chuỗi trong dữ liệu mảng, luận án sử dụng mô hình Sai số chuẩn hiệu chỉnh bảng (PCSE - Beck & Katz, 1995; Canh & cộng sự, 2021) và phương pháp Bình phương nhỏ nhất tổng quát khả thi (FGLS - Gala & cộng sự, 2018; Sweet & Eterovic, 2019).
- Để lượng hóa tác động ngắn hạn và dài hạn, mô hình Tự hồi quy phân phối trễ (ARDL) với dạng ước lượng Hiệu ứng cố định động (Dynamic Fixed Effects - DFE; Pesaran & Smith, 1995; Pesaran & cộng sự, 1999) được đưa vào kiểm định.
- Điều tra khảo sát sơ cấp bằng bảng hỏi:
- Cỡ mẫu xác định theo công thức Cochran cho tổng thể chưa biết rõ quy mô với $Z = 1{,}96$, $p = 0{,}5$, $d = 0{,}1$, cho cỡ mẫu tối thiểu là $N = 96$.
- Tác giả phát ra 350 bảng hỏi cấu trúc (gồm 30 câu hỏi tiếng Anh, thang đo định danh và thang Likert 5 điểm) tới lao động nước ngoài tại 5 địa phương trọng điểm; thu về 308 phiếu hợp lệ (gấp hơn 3 lần cỡ mẫu tối thiểu).
- Dữ liệu khảo sát được mã hóa và phân tích thống kê mô tả trên phần mềm SPSS.
| Đối tượng thu thập dữ liệu |
Công cụ thực hiện |
Quy mô mẫu |
Địa bàn |
| Nhà hoạch định chính sách cấp TW (Cục Việc làm, Tổng cục GDNN, Viện KHLĐXH) |
Phỏng vấn sâu chuyên gia |
03 đại biểu |
Hà Nội |
| Cán bộ quản lý cấp địa phương (Thanh tra Sở, Phòng LĐTBXH, BQL KCN) |
Phỏng vấn sâu chuyên gia |
15 đại biểu (3 người/tỉnh) |
Bắc Ninh, Bình Dương, Đồng Nai, Hà Nội, TP.HCM |
| Lao động nước ngoài có kỹ năng đang làm việc tại Việt Nam |
Bảng hỏi cấu trúc (30 câu) |
308 phiếu hợp lệ (phát 350) |
Bắc Ninh, Bình Dương, Đồng Nai, Hà Nội, TP.HCM |
| Dữ liệu mảng kinh tế - xã hội 63 tỉnh/thành |
Dữ liệu thống kê thứ cấp |
63 tỉnh/thành (2016-2020) |
Toàn quốc (nguồn: GSO, Bộ LĐTBXH, PCI) |
Hệ thống biến số sử dụng trong mô hình thực nghiệm
| Phân loại biến |
Tên biến |
Chỉ báo / Thang đo |
Nguồn dữ liệu |
| Biến phụ thuộc |
Lao động nước ngoài có kỹ năng tổng thể |
Số lượng lao động nước ngoài được cấp GPLĐ tại từng tỉnh/thành giai đoạn 2016-2020 |
Bộ LĐTBXH |
|
Vị trí Nhà quản lý |
Số lượng lao động nước ngoài giữ vị trí quản lý |
Bộ LĐTBXH |
|
Vị trí Giám đốc điều hành |
Số lượng lao động nước ngoài giữ vị trí giám đốc điều hành |
Bộ LĐTBXH |
|
Vị trí Chuyên gia |
Số lượng lao động nước ngoài làm việc với vị trí chuyên gia |
Bộ LĐTBXH |
|
Vị trí Lao động kỹ thuật |
Số lượng lao động nước ngoài làm việc tại vị trí kỹ thuật |
Bộ LĐTBXH |
| Biến độc lập |
Vốn FDI |
Lượng vốn FDI đăng ký lũy kế còn hiệu lực phân theo tỉnh/thành |
GSO |
|
Chất lượng thể chế |
Chỉ số Năng lực cạnh tranh cấp tỉnh (PCI) thang điểm 100 |
Báo cáo PCI |
|
Tỷ lệ thất nghiệp |
Tỷ lệ thất nghiệp trong độ tuổi lao động tại địa phương |
GSO |
| Biến kiểm soát |
Thu nhập bình quân |
Thu nhập bình quân đầu người một tháng theo giá hiện hành |
GSO |
|
Lao động trẻ |
Số lượng lực lượng lao động trong độ tuổi 15-24 |
GSO |
|
Trình độ quản lý/kỹ thuật nội địa |
Tổng số lao động bản địa làm quản lý và làm kỹ thuật |
GSO |
|
Quy mô dân số / Đô thị hóa |
Tổng dân số và tỷ lệ dân số thành thị tại địa phương |
GSO |
Nội dung chính theo từng chương
Chương 1: Tổng quan nghiên cứu các nhân tố thu hút lao động có kỹ năng di cư quốc tế vào một quốc gia
Chương 1 tổng hợp các nghiên cứu lý luận và thực nghiệm trong và ngoài nước về di cư quốc tế của lao động có kỹ năng. Tác giả phân tích các nghiên cứu về nhân tố hút vĩ mô như quy mô dòng vốn FDI, sự phát triển của thương mại dịch vụ quốc tế theo phương thức Di chuyển thể nhân (Mode 4 của GATS thuộc WTO), và nhu cầu đối với các ngành nghề kỹ thuật chuyên sâu (STEM). Chương này cũng điểm luận kinh nghiệm vận dụng chính sách nhập cư chọn lọc (hướng cung, hướng cầu, chính sách lai) và chỉ ra 4 khoảng trống nghiên cứu chính tại Việt Nam làm căn cứ thiết kế khung phân tích cho luận án.
Chương 2: Cơ sở lý luận và thực tiễn về các nhân tố thu hút lao động có kỹ năng di cư quốc tế vào một quốc gia
Chương 2 làm rõ các khái niệm cơ bản về lao động di cư quốc tế, lao động có kỹ năng và phân loại các lý thuyết di cư theo các cấp độ vĩ mô, trung gian (meso) và vi mô. Tác giả xây dựng khung phân tích mở rộng từ mô hình của Gross & Schmitt (2003) phù hợp với bối cảnh các nước đang phát triển. Chương này cũng phân tích thực tiễn kinh nghiệm thu hút lao động có kỹ năng tại Singapore (hệ thống thẻ việc làm Employment Pass dựa trên ngưỡng thu nhập), Nhật Bản (chính sách thị thực chuyên gia kỹ năng cao HSFP) và Trung Quốc, từ đó rút ra bài học cho Việt Nam về tính minh bạch thủ tục, chính sách tiền lương và bảo hiểm xã hội.
Chương 3: Thực trạng lao động nước ngoài có kỹ năng vào Việt Nam và đặc điểm các nhân tố thu hút ở cấp độ vĩ mô
Chương 3 phân tích dữ liệu thực trạng lao động nước ngoài tại Việt Nam giai đoạn 2016-2020. Dữ liệu cho thấy số lượng lao động nước ngoài tập trung phần lớn tại các tỉnh, thành phố có dòng vốn FDI lớn như TP. Hồ Chí Minh, Hà Nội, Bình Dương, Bắc Ninh, Đồng Nai. Phân tích thực trạng cho thấy cơ cấu lao động nước ngoài được cấp phép phân theo 4 vị trí: nhà quản lý, giám đốc điều hành, chuyên gia và lao động kỹ thuật. Tác giả đồng thời phân tích thực trạng các nhân tố hút vĩ mô tại Việt Nam, bao gồm: tình hình hội nhập kinh tế thông qua các FTA thế hệ mới, sự thiếu hụt cung lao động kỹ thuật trong nước, môi trường thể chế pháp lý (Nghị định số 152/2020/NĐ-CP, Bộ luật Lao động 2019) và quy trình cấp giấy phép lao động.
Chương 4: Phân tích thực nghiệm các nhân tố thu hút lao động nước ngoài có kỹ năng vào Việt Nam
Chương 4 trình bày kết quả ước lượng mô hình kinh tế lượng dữ liệu mảng và kết quả khảo sát sơ cấp:
- Kết quả ước lượng kinh tế lượng: Các mô hình FE, RE, PCSE, FGLS và ARDL/DFE chứng minh:
- Dòng vốn FDI có tác động dương có ý nghĩa thống kê tới số lượng lao động nước ngoài có kỹ năng tại các tỉnh/thành phố, khẳng định vai trò là nhân tố hút trọng yếu trong cả ngắn hạn và dài hạn.
- Chỉ số Năng lực cạnh tranh cấp tỉnh (PCI) phản ánh chất lượng môi trường thể chế có tác động tích cực đến dòng lao động kỹ năng vào địa phương.
- Tỷ lệ lao động trẻ và số lượng lao động kỹ thuật trong nước thể hiện mối quan hệ bổ sung rõ nét đối với việc tiếp nhận lao động nước ngoài.
- Tác động của các nhân tố hút có sự phân hóa giữa 4 nhóm vị trí việc làm (nhà quản lý và chuyên gia chịu ảnh hưởng mạnh hơn bởi quy mô FDI và chất lượng thể chế so với nhóm lao động kỹ thuật).
- Kết quả khảo sát sơ cấp (308 lao động): Khảo sát chỉ ra các lý do chính khiến người lao động nước ngoài quyết định đến làm việc tại Việt Nam gồm: Chênh lệch thu nhập so với công việc trước đây, cơ hội thăng tiến, mức sống và chi phí sinh hoạt tương đối thấp, môi trường làm việc tại các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài, và sự an tâm về các điều kiện an sinh xã hội.
Chương 5: Quan điểm và giải pháp thu hút lao động nước ngoài có kỹ năng vào Việt Nam
Chương 5 hệ thống hóa quan điểm chỉ đạo của Đảng và Nhà nước về chủ động hội nhập quốc tế, phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao gắn với thu hút vốn đầu tư nước ngoài. Tác giả đề xuất các nhóm giải pháp:
- Hoàn thiện môi trường thể chế, đơn giản hóa thủ tục hành chính trong quy trình cấp và gia hạn giấy phép lao động (GPLĐ).
- Xây dựng chính sách ưu đãi tài chính, thuế thu nhập cá nhân và chính sách bảo hiểm xã hội linh hoạt cho chuyên gia nước ngoài.
- Gắn kết chính sách thu hút FDI công nghệ cao với việc bắt buộc hoặc khuyến khích doanh nghiệp thực hiện chuyển giao tri thức, đào tạo kỹ năng cho lao động bản địa.
- Nâng cao hiệu quả phối hợp liên ngành giữa Bộ LĐTBXH, các Sở LĐTBXH, Ban Quản lý các Khu công nghiệp và Công an xuất nhập cảnh trong quản lý và hỗ trợ người lao động nước ngoài.
Kết quả và những đóng góp mới
Đóng góp về mặt lý luận
- Luận án mở rộng mô hình nhập cư quốc tế của Gross & Schmitt (2003) để áp dụng cho các quốc gia đang phát triển, bổ sung các biến số đặc thù về thể chế địa phương (chỉ số PCI) và sự phân hóa giữa các nhóm kỹ năng việc làm.
- Thiết lập khung phân tích toàn diện liên kết ba cấp độ (vĩ mô, trung gian, vi mô) trong việc giải thích quyết định di cư của lao động có kỹ năng sang các nền kinh tế mới nổi.
Đóng góp về mặt thực nghiệm và thực tiễn
- Luận án là công trình nghiên cứu định lượng thực nghiệm đầu tiên tại Việt Nam sử dụng dữ liệu mảng cấp tỉnh (63 tỉnh/thành phố giai đoạn 2016-2020) kết hợp với kỹ thuật kiểm định đa dạng (PCSE, FGLS, ARDL/DFE) để xác định vai trò của các nhân tố hút vĩ mô.
- Chứng minh vai trò quan trọng của dòng vốn FDI, chất lượng điều hành kinh tế cấp tỉnh (PCI) và đặc trưng thị trường lao động địa phương đối với việc thu hút lao động nước ngoài.
- Bóc tách sự khác biệt về lực hút giữa 4 nhóm vị trí việc làm (nhà quản lý, giám đốc điều hành, chuyên gia, lao động kỹ thuật) theo quy định của Bộ luật Lao động 2019.
- Cung cấp dữ liệu thực nghiệm sơ cấp từ 308 lao động nước ngoài tại 5 địa bàn công nghiệp trọng điểm (Hà Nội, Bắc Ninh, TP.HCM, Bình Dương, Đồng Nai), phản ánh động lực di cư và mức độ hài lòng về tài chính, đời sống.
Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp
- Hạn chế về dữ liệu: Chuỗi dữ liệu mảng thứ cấp dừng lại ở giai đoạn 2016-2020 do độ trễ công bố thống kê; dữ liệu phân loại chi tiết theo 4 vị trí việc làm chỉ có số liệu trong hai năm 2019 và 2020.
- Hạn chế về mẫu khảo sát: Do các rào cản về bảo mật thông tin cá nhân của người lao động nước ngoài và quy định tại các doanh nghiệp/KCN, việc khảo sát sơ cấp phải áp dụng phương pháp chọn mẫu thuận tiện tại 5 địa phương trọng điểm với quy mô 308 mẫu.
- Hạn chế về phạm vi vi mô: Mô hình kinh tế lượng tập trung vào cấp độ vĩ mô địa phương, chưa tích hợp được các chỉ số tài chính, lợi nhuận và hiệu quả vận hành cụ thể ở cấp độ từng doanh nghiệp.
- Hướng nghiên cứu tiếp theo: Mở rộng chuỗi số liệu thứ cấp sang các năm phục hồi kinh tế hậu Covid-19 (2021-2022 trở đi); triển khai các nghiên cứu định lượng cấp độ doanh nghiệp (micro-level) để đánh giá tương tác giữa lao động nước ngoài và năng suất của doanh nghiệp nội địa.
Giá trị tham khảo
- Đối với nhà hoạch định chính sách: Nghiên cứu cung cấp căn cứ thực nghiệm phục vụ việc sửa đổi, bổ sung các quy định về quản lý lao động nước ngoài (như Nghị định số 152/2020/NĐ-CP), hoàn thiện danh mục nghề nghiệp cần thu hút và cải cách thủ tục hành chính tại các Sở LĐTBXH và Ban Quản lý Khu công nghiệp.
- Đối với cơ quan quản lý và hiệp hội doanh nghiệp: Cung cấp thông tin tham khảo về các yếu tố thúc đẩy và rào cản đối với chuyên gia nước ngoài, hỗ trợ thiết kế các gói phúc lợi, chính sách lưu trú, bảo hiểm và môi trường làm việc phù hợp.
- Đối với giới học thuật và nghiên cứu sinh: Khung phân tích mở rộng từ Gross & Schmitt (2003), quy trình kết hợp mô hình kinh tế lượng dữ liệu mảng (PCSE, FGLS, ARDL) với khảo sát bảng hỏi và phỏng vấn sâu là tài liệu tham khảo cho các nghiên cứu thuộc chuyên ngành Kinh tế quốc tế và Kinh tế lao động.
Câu hỏi thường gặp
1. Luận án phân loại lao động nước ngoài có kỹ năng theo những nhóm vị trí việc làm nào?
Theo quy định tại Khoản 1 Điều 152 Bộ luật Lao động 2019, luận án phân loại lao động nước ngoài thành 4 nhóm vị trí việc làm chính thức: (1) Nhà quản lý, (2) Giám đốc điều hành, (3) Chuyên gia, và (4) Lao động kỹ thuật.
2. Dữ liệu thực nghiệm của luận án được thu thập từ những nguồn nào và trong giai đoạn nào?
Luận án sử dụng hai nguồn dữ liệu chính:
- Dữ liệu thứ cấp: Thu thập từ Bộ LĐTBXH, Tổng cục Thống kê (GSO) và dữ liệu PCI của 63 tỉnh/thành phố giai đoạn 2016-2020.
- Dữ liệu sơ cấp: Thu thập từ tháng 4/2022 đến tháng 6/2022 thông qua 18 cuộc phỏng vấn sâu chuyên gia/cán bộ quản lý và 308 phiếu khảo sát hợp lệ đối với lao động nước ngoài tại 5 địa phương (Hà Nội, Bắc Ninh, TP.HCM, Bình Dương, Đồng Nai).
3. Những nhân tố vĩ mô nào có tác động lớn nhất đến việc thu hút lao động nước ngoài có kỹ năng vào Việt Nam?
Kết quả phân tích thực nghiệm xác định ba nhóm nhân tố hút vĩ mô cốt lõi gồm:
- Quy mô dòng vốn FDI đăng ký lũy kế và mức độ hội nhập quốc tế của địa phương.
- Nhu cầu bù đắp sự thiếu hụt lao động kỹ thuật trên thị trường lao động nội địa.
- Chất lượng môi trường thể chế cấp tỉnh (đo lường bằng chỉ số PCI) và các điều kiện kinh tế - xã hội địa phương (thu nhập, tỷ lệ lao động trẻ).
4. Luận án đã sử dụng các kỹ thuật kinh tế lượng nào để xử lý dữ liệu mảng 63 tỉnh/thành phố?
Tác giả sử dụng phần mềm STATA 16 để chạy các mô hình hồi quy Hiệu ứng cố định (FE), Hiệu ứng ngẫu nhiên (RE), mô hình Sai số chuẩn hiệu chỉnh bảng (PCSE) theo Beck & Katz (1995), phương pháp Bình phương nhỏ nhất tổng quát khả thi (FGLS) để khắc phục hiện tượng phương sai thay đổi, và mô hình ARDL/DFE (Pesaran & cộng sự, 1999) để đánh giá tác động ngắn hạn và dài hạn.
Kết luận
Luận án của nghiên cứu sinh Nguyễn Phương Trang đã hệ thống hóa cơ sở lý luận và cung cấp phân tích thực nghiệm về các nhân tố thu hút lao động nước ngoài có kỹ năng vào Việt Nam trong giai đoạn 2016-2020. Kết quả nghiên cứu khẳng định dòng vốn FDI, nhu cầu thị trường lao động và chất lượng thể chế cấp tỉnh là các lực hút then chốt chi phối dòng di chuyển của nguồn nhân lực kỹ thuật cao quốc tế. Các phát hiện thực nghiệm và hệ thống giải pháp đề xuất trong luận án đóng góp cơ sở khoa học cho việc hoàn thiện chính sách quản lý lao động nước ngoài và chiến lược phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao của Việt Nam trong tiến trình hội nhập quốc tế.