Nghiên cứu các nhân tố ảnh hưởng đến quyết định lựa chọn trường đại học của học sinh phổ thông trung học trường hợp hà nội

Tài liệu nghiên cứu Nghiên cứu các nhân tố ảnh hưởng đến quyết định lựa chọn trường đại học của học sinh phổ thông, tổng hợp lý thuyết và thực hành, cung cấp kiến thức chuyên sâu

Chuyên ngành

Quản lý Kinh tế

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

luận án

2018

176
1
0

Phí lưu trữ

45 Point

Tóm tắt

I. Tổng Quan Về Nghiên Cứu Các Nhân Tố Ảnh Hưởng Đến Quyết Định Lựa Chọn Trường Đại Học

Nghiên cứu về các nhân tố ảnh hưởng đến quyết định lựa chọn trường đại học của học sinh trung học phổ thông (THPT) là một chủ đề quan trọng trong bối cảnh giáo dục hiện nay. Các yếu tố như tâm lý học sinh, thông tin về trường đại học, và định hướng nghề nghiệp đều có thể tác động mạnh mẽ đến quyết định này. Việc hiểu rõ các nhân tố này không chỉ giúp học sinh có lựa chọn đúng đắn mà còn hỗ trợ các trường đại học trong việc thu hút sinh viên.

1.1. Tầm Quan Trọng Của Quyết Định Lựa Chọn Trường Đại Học

Quyết định lựa chọn trường đại học là một trong những quyết định quan trọng nhất trong cuộc đời học sinh. Nó không chỉ ảnh hưởng đến tương lai nghề nghiệp mà còn định hình trải nghiệm học tập và phát triển cá nhân.

1.2. Các Nhân Tố Chính Ảnh Hưởng Đến Quyết Định

Các nhân tố như cảm nhận về chi phí, danh tiếng trường, và thông tin từ bạn bè, gia đình đều có vai trò quan trọng trong việc hình thành quyết định của học sinh. Những yếu tố này cần được phân tích kỹ lưỡng để hiểu rõ hơn về hành vi lựa chọn của học sinh.

II. Vấn Đề Và Thách Thức Trong Quyết Định Lựa Chọn Trường Đại Học

Học sinh THPT hiện nay đối mặt với nhiều thách thức trong việc lựa chọn trường đại học. Sự phong phú của các lựa chọn, cùng với áp lực từ gia đình và xã hội, có thể dẫn đến những quyết định không chính xác. Việc thiếu thông tin đầy đủ và chính xác về các trường đại học cũng là một vấn đề lớn.

2.1. Áp Lực Từ Gia Đình Và Xã Hội

Nhiều học sinh cảm thấy áp lực từ gia đình và xã hội trong việc lựa chọn trường đại học. Điều này có thể dẫn đến những quyết định không phù hợp với nguyện vọng và khả năng của bản thân.

2.2. Thiếu Thông Tin Về Các Trường Đại Học

Việc thiếu thông tin chính xác và đầy đủ về các trường đại học có thể khiến học sinh không thể đưa ra quyết định đúng đắn. Các trường cần cải thiện khả năng cung cấp thông tin để hỗ trợ học sinh trong quá trình lựa chọn.

III. Phương Pháp Nghiên Cứu Các Nhân Tố Ảnh Hưởng Đến Quyết Định

Để nghiên cứu các nhân tố ảnh hưởng đến quyết định lựa chọn trường đại học, cần áp dụng các phương pháp nghiên cứu định tính và định lượng. Việc kết hợp các phương pháp này sẽ giúp thu thập dữ liệu phong phú và đa dạng hơn.

3.1. Nghiên Cứu Định Tính

Nghiên cứu định tính giúp khám phá sâu hơn về các nhân tố ảnh hưởng đến quyết định lựa chọn trường đại học. Phỏng vấn sâu và nhóm tập trung là những phương pháp hữu ích trong giai đoạn này.

3.2. Nghiên Cứu Định Lượng

Nghiên cứu định lượng cho phép thu thập dữ liệu từ một số lượng lớn học sinh, giúp xác định mối quan hệ giữa các nhân tố và quyết định lựa chọn trường đại học một cách chính xác hơn.

IV. Ứng Dụng Thực Tiễn Của Nghiên Cứu Về Quyết Định Lựa Chọn Trường Đại Học

Kết quả nghiên cứu có thể được ứng dụng trong việc xây dựng các chiến lược tuyển sinh hiệu quả cho các trường đại học. Việc hiểu rõ các nhân tố ảnh hưởng sẽ giúp các trường điều chỉnh chính sách và cải thiện hình ảnh của mình trong mắt học sinh.

4.1. Chiến Lược Tuyển Sinh Hiệu Quả

Các trường đại học cần phát triển các chiến lược tuyển sinh dựa trên hiểu biết về các nhân tố ảnh hưởng đến quyết định của học sinh. Điều này sẽ giúp thu hút sinh viên tiềm năng hơn.

4.2. Cải Thiện Hình Ảnh Trường Đại Học

Việc cải thiện hình ảnh và danh tiếng của trường đại học là rất quan trọng. Các trường cần chú trọng đến việc truyền thông và cung cấp thông tin chính xác để thu hút học sinh.

V. Kết Luận Về Nghiên Cứu Các Nhân Tố Ảnh Hưởng Đến Quyết Định Lựa Chọn Trường Đại Học

Nghiên cứu các nhân tố ảnh hưởng đến quyết định lựa chọn trường đại học của học sinh THPT là một lĩnh vực quan trọng và cần thiết. Kết quả nghiên cứu không chỉ giúp học sinh có quyết định đúng đắn mà còn hỗ trợ các trường đại học trong việc thu hút sinh viên.

5.1. Tương Lai Của Nghiên Cứu

Nghiên cứu trong lĩnh vực này cần tiếp tục được mở rộng để hiểu rõ hơn về các yếu tố ảnh hưởng đến quyết định lựa chọn trường đại học. Các nghiên cứu tiếp theo có thể tập trung vào các nhóm đối tượng khác nhau.

5.2. Đề Xuất Chính Sách Cho Các Trường Đại Học

Các trường đại học cần xem xét các chính sách tuyển sinh và truyền thông của mình để phù hợp hơn với nhu cầu và mong muốn của học sinh. Điều này sẽ giúp nâng cao hiệu quả tuyển sinh trong tương lai.

09/07/2025

Trích đoạn nội dung tài liệu

mở đầu 6 Chương 2: Cơ sở lý thuyết và tổng quan nghiên cứu về nhân tố ảnh hưởng đến quyết định lựa chọn trường đại học của học sinh THPT Chương 3: Phương pháp nghiên cứu Chương 4: Bối cảnh nghiên cứu và kết quả nghiên cứu về các nhân tố ảnh hưởng đến quyết định lựa chọn trường đại học của học sinh THPT Chương 5: Bình luận và khuyến nghị chính sách nhằm thu hút sinh viên của các trường đại học 7 CHƯƠNG 2 CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU VỀ NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN QUYẾT ĐỊNH LỰA CHỌN TRƯỜNG ĐẠI HỌC CỦA HỌC SINH THPT 2.1 Tổng quan về hệ thống giáo dục quốc dân ở Việt Nam 2.1 Khung cơ cấu hệ thống giáo dục quốc dân Việt Nam Theo Quyết định số 1981/QĐ – TTg được Chính phủ phê duyệt. Khung cơ cấu hệ thống giáo dục quốc dân Việt Nam có 4 cấp gồm: - Giáo dục mầm non gồm giáo dục nhà trẻ và giáo dục mẫu giáo - Giáo dục phổ thông được bao gồm giáo dục tiểu học, giáo dục trung học cơ sở và giáo dục trung học phổ thông - Giáo dục nghề nghiệp gồm các trình độ sơ cấp, trung cấp và cao đẳng - Giáo dục đại học gồm các trình độ đại học, thạc sĩ và tiến sĩ. Cấu trúc Khung trình độ quốc gia bao gồm 8 bậc trình độ: Bậc 1- Sơ cấp I; Bậc 2- Sơ cấp II; Bậc 3 – Sơ cấp III; Bậc 4 – Trung cấp; Bậc 5 – Cao đẳng; Bậc 6 – Đại học; Bậc 7 – Thạc sĩ; Bậc 8 – Tiến sĩ. Tương ứng với mỗi bậc trình độ là: Chuẩn đầu ra (gồm kiến thức, kỹ năng, mức tự chủ và trách nhiệm người tốt nghiệp khoa đào tọa nếu có) và khối lượng học tập tối thiểu, tính bằng tín chỉ người học phải tích lũy cho mỗi trình độ; Văn bằng chứng chỉ công nhận.

Cụ thể trong Hình 2.1: Khung cơ cấu hệ thống giáo dục quốc dân theo Quyết định 1981/QĐ-TTg ngày 18/10/2016 của Thủ tướng Chính phủ Nguồn: Cổng thông tin điện tử Chính phủ nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam 8 Đối với bậc THPT được thực hiện trong 3 năm học, bắt đầu từ lớp 10 đến lớp 12. Học sinh tốt nghiệp THPT có thể học lên đại học hoặc theo các chương trình giáo dục nghề nghiệp. GDĐH được thực hiện từ 3 đến 5 năm tùy theo định hướng nghiên cứu hay ứng dụng. Theo Luật GDĐH qui định: Cơ sở GDĐH trong hệ thống giáo dục quốc dân gồm: trường cao đẳng; đại học, học viện; đại học vùng, đại học quốc gia; viện nghiên cứu khoa học được phép đào tạo trình độ tiến sĩ.

Cơ sở GDĐH Việt Nam được tổ chức theo các loại hình như: cơ sở GDĐH công lập thuộc sở hữu nhà nước, do Nhà nước đầu tư, xây dựng cơ sở vật chất; cơ sở GDĐH tư thục thuộc sở hữu của tổ chức xã hội, tổ chức xã hội - nghề nghiệp, tổ chức kinh tế tư nhân hoặc cá nhân, do tổ chức xã hội, tổ chức xã hội - nghề nghiệp, tổ chức kinh tế tư nhân hoặc cá nhân đầu tư, xây dựng cơ sở vật chất; cơ sở GDĐH có vốn đầu tư nước ngoài (có 100% vốn của nhà đầu tư nước ngoài); cơ sở GDĐH liên doanh giữa nhà đầu tư nước ngoài và nhà đầu tư trong nước. Các mục tiêu chung của cơ sở GDĐH được qui định như sau: a) Đào tạo nhân lực, nâng cao dân trí, bồi dưỡng nhân tài; nghiên cứu khoa học, công nghệ tạo ra tri thức, sản phẩm mới, phục vụ yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội, bảo đảm quốc phòng, an ninh và hội nhập quốc tế; b) Đào tạo người học có phẩm chất chính trị, đạo đức; có kiến thức, kỹ năng thực hành nghề nghiệp, năng lực nghiên cứu và phát triển ứng dụng khoa học và công nghệ tương xứng với trình độ đào tạo; có sức khỏe; có khả năng sáng tạo và trách nhiệm nghề nghiệp, thích nghi với môi trường làm việc; có ý thức phục vụ nhân dân. Trong đó mục tiêu của đào tạo trình độ đại học là để người học có kiến thức chuyên môn toàn diện, nắm vững nguyên lý, quy luật tự nhiên - xã hội, có kỹ năng thực hành cơ bản, có khả năng làm việc độc lập, sáng tạo và giải quyết những vấn đề thuộc ngành được đào tạo. Theo Nghị định số 73/2015/NĐ – CP qui định các cơ sở GDĐH được phân theo hai hướng gồm đại học định hướng nghiên cứu và đại học định hướng ứng dụng.

Các chương trình đào tạo định hướng nghiên cứu có mục tiêu và nội dung theo hướng chuyên sâu về nguyên lý, lý thuyết cơ bản trong các lĩnh vực khoa học phát triển các công nghệ nguồn làm nền tảng để phát triển các lĩnh vực khoa học ứng dụng và công nghệ. Các chương trình đào tạo định hướng ứng dụng có mục tiêu và nội dung theo hướng phát triển kết quả cơ bản, ứng dụng các công nghệ nguồn thành các giải pháp công nghệ, qui trình quản lý, thiết kế các công cụ hoàn chỉnh phục vụ nhu cầu đa dạng 9 của con người. Tùy theo chất lượng, các cơ sở GDĐH được phân chia thành 3 hạng theo thứ tự từ cao xuống thấp: hạng 1, hạng 2, hạng 3. Nhìn chung, khung cơ cấu hệ thống quốc dân mới được thiết kế theo hướng mở, linh hoạt, liên thông giữa các cấp học, trình độ và giữa các phương thức giáo dục, đào tạo; đẩy mạnh phân luồng sau trung học cơ sở; định hướng nghề nghiệp ở THPT.

Trong bối cảnh GDĐH ở Việt Nam hiện nay, các cơ sở GDĐH được giao quyền tự chủ về tổ chức quản lý, tài chính, học thuật. Trong đó tự chủ về học thuật là sự chủ động trong công tác đào tạo và nghiên cứu khoa học. Các cơ sở GDĐH được tự quyết định ngành học cũng như chương trình đào tạo; tự quyết định các tiêu chuẩn học thuật và đảm bảo chất lượng; tự quyết định phương thức, số lượng tuyển sinh. Tự quyết định hình thức thực hiện cũng như phương thức liên kết trong việc thực hiện các mục tiêu khoa học công nghệ, hợp tác quốc tế.

Theo Luật GDĐH, thuật ngữ Đại học là cơ sở GDĐH bao gồm tổ hợp các trường cao đẳng, trường đại học, viện nghiên cứu khoa học thành viên thuộc các lĩnh vực chuyên môn khác nhau, tổ chức theo hai cấp, để đào tạo các trình độ của GDĐH. Trong nghiên cứu này, tác giả chủ yếu hướng đến các trường đại học và các viện đào tạo hệ đại học chính quy, không bao gồm các trường cao đẳng, hệ đào tạo cao đẳng.2 Khái niệm, đặc điểm của GDĐH và lợi ích của việc học đại học 2.1 Khái niệm về GDĐH Theo từ điển Giáo dục học (2001) thuật ngữ giáo dục là “Hoạt động hướng tới con người thông qua một hệ thống các biện pháp tác động nhằm truyền thụ những tri thức và kinh nghiệm, rèn luyện kỹ năng và lối sống, bồi dưỡng tư tưởng và đạo đức cần thiết cho đối tượng, giúp hình thành và phát triển năng lực, phẩm chất, nhân cách phù hợp với mục đích, mục tiêu chuẩn bị cho đối tượng tham gia lao động sản xuất và đời sống xã hội. Giáo dục là bộ phận của quá trình tái sản xuất mở rộng sức lao động xã hội, mà con người được giáo dục là nhân tố quan trọng nhất, vừa là động cơ, vừa là mục đích phát triển xã hội”. Theo Ronald Barnett (1992) có 4 khái niệm thông dụng nhất về GDĐH: - GDĐH là một dây chuyền sản xuất mà đầu ra là nhân lực đạt chuẩn: với quan điểm này, GDĐH là một quá trình trong đó người học được quan niệm như những sản phẩm được cung ứng ra thị trường lao động.

Như vậy, GDĐH trở thành “đầu vào” tạo nên sự phát triển và tăng trường của thương mại và công nghiệp. - GDĐH là đào tạo để trở thành nhà nghiên cứu.Với quan điểm này GDĐH là thời gian chuẩn bị để hình thành nên những nhà khoa học và nghiên cứu thực sự. 10 - GDĐH là quản lý việc tổ chức giảng dạy một cách hiệu quả. Hoạt động giảng dạy là cốt lõi của một trường đại học do vậy các trường phải quản lý việc giảng dạy để nâng cao chất lượng.

- GDĐH là mở rộng cơ hội trong cuộc sống cho người học. Như vậy, GDĐH xem như là một cơ hội tốt để học viên nâng cao, phát triển, hình thành thêm nhận thức bản thân. Như vậy, các khái niệm này đã thể hiện tính liên hoàn và làm rõ GDĐH là cơ hội cho người học được tham gia vào quá trình phát triển bản thân bằng cách học tập thường xuyên và linh hoạt. Trong Nghị Quyết 14/2005/NQ- CP ngày 2/11/2005 của Chính phủ Việt Nam về đổi mới căn bản và toàn diện GDĐH giai đoạn 2006 – 2020 cũng đã đặt ra yêu cầu: “Hiện đại hóa hệ thống GDĐH trên cơ sở kế thừa những thành quả giáo dục và đào tạo của đất nước, phát huy bản sắc dân tộc, tiếp thu tinh hoa nhân loại, nhanh chóng tiếp cận xu thế phát triển GDĐH tiên tiến trên thế giới” Ở Việt Nam, GDĐH đã có nhiều thay đổi tích cực từ hình thức đến nội dụng đào tạo và nghiên cứu.

Tuy nhiên, việc mở rộng đào tạo của các trường đại học, tăng số lớp học, số lượng sinh viên, qui mô đào tạo ngày càng tăng nhanh đến mức khó kiểm soát và dẫn đến tình trạng kém chất lượng. Chất lượng GDĐH dường như chưa tương xứng với sự phát triển về số lượng của các trường đại học cả nước. Đội ngũ giảng viên đại học hiện nay có chuyên môn trình độ tương đối cao nhưng tỷ lệ tiến sỹ và phó giáo sư so với các nước trong khu vực không nhiều. Phần đa giảng viên có trình độ cao lại tập trung ở các thành phố lớn trong khi các trường đại học thì phân bổ ở nhiều khu vực khác nhau.

Cơ sở vật chất hạn chế đặc biệt là các trường đại học được nâng cấp từ các trường cao đẳng hoặc một số trường ngoài công lập mới thành lập. Nhiều trường chưa có điều kiện để xây mới trường do vậy phải đi thuê địa điểm, học tạm, học mượn vì thế môi trường học tập kém hiệu quả, không gian cho các hoạt động đoàn thể rất kém. Các chương trình đào tạo hiện nay còn nặng về lý thuyết do vậy sinh viên bị áp lực trong học tập mà kết quả không cao. Số sinh viên tốt nghiệp đại học ra trường mà thất nghiệp hoặc không làm đúng chuyên môn vẫn ở mức cao.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ