mở đầu 6 Chương 2: Cơ sở lý thuyết và tổng quan nghiên cứu về nhân tố ảnh hưởng đến quyết định lựa chọn trường đại học của học sinh THPT Chương 3: Phương pháp nghiên cứu Chương 4: Bối cảnh nghiên cứu và kết quả nghiên cứu về các nhân tố ảnh hưởng đến quyết định lựa chọn trường đại học của học sinh THPT Chương 5: Bình luận và khuyến nghị chính sách nhằm thu hút sinh viên của các trường đại học 7 CHƯƠNG 2 CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU VỀ NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN QUYẾT ĐỊNH LỰA CHỌN TRƯỜNG ĐẠI HỌC CỦA HỌC SINH THPT 2.1 Tổng quan về hệ thống giáo dục quốc dân ở Việt Nam 2.1 Khung cơ cấu hệ thống giáo dục quốc dân Việt Nam Theo Quyết định số 1981/QĐ – TTg được Chính phủ phê duyệt. Khung cơ cấu hệ thống giáo dục quốc dân Việt Nam có 4 cấp gồm: - Giáo dục mầm non gồm giáo dục nhà trẻ và giáo dục mẫu giáo - Giáo dục phổ thông được bao gồm giáo dục tiểu học, giáo dục trung học cơ sở và giáo dục trung học phổ thông - Giáo dục nghề nghiệp gồm các trình độ sơ cấp, trung cấp và cao đẳng - Giáo dục đại học gồm các trình độ đại học, thạc sĩ và tiến sĩ. Cấu trúc Khung trình độ quốc gia bao gồm 8 bậc trình độ: Bậc 1- Sơ cấp I; Bậc 2- Sơ cấp II; Bậc 3 – Sơ cấp III; Bậc 4 – Trung cấp; Bậc 5 – Cao đẳng; Bậc 6 – Đại học; Bậc 7 – Thạc sĩ; Bậc 8 – Tiến sĩ. Tương ứng với mỗi bậc trình độ là: Chuẩn đầu ra (gồm kiến thức, kỹ năng, mức tự chủ và trách nhiệm người tốt nghiệp khoa đào tọa nếu có) và khối lượng học tập tối thiểu, tính bằng tín chỉ người học phải tích lũy cho mỗi trình độ; Văn bằng chứng chỉ công nhận.
Cụ thể trong Hình 2.1: Khung cơ cấu hệ thống giáo dục quốc dân theo Quyết định 1981/QĐ-TTg ngày 18/10/2016 của Thủ tướng Chính phủ Nguồn: Cổng thông tin điện tử Chính phủ nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam 8 Đối với bậc THPT được thực hiện trong 3 năm học, bắt đầu từ lớp 10 đến lớp 12. Học sinh tốt nghiệp THPT có thể học lên đại học hoặc theo các chương trình giáo dục nghề nghiệp. GDĐH được thực hiện từ 3 đến 5 năm tùy theo định hướng nghiên cứu hay ứng dụng. Theo Luật GDĐH qui định: Cơ sở GDĐH trong hệ thống giáo dục quốc dân gồm: trường cao đẳng; đại học, học viện; đại học vùng, đại học quốc gia; viện nghiên cứu khoa học được phép đào tạo trình độ tiến sĩ.
Cơ sở GDĐH Việt Nam được tổ chức theo các loại hình như: cơ sở GDĐH công lập thuộc sở hữu nhà nước, do Nhà nước đầu tư, xây dựng cơ sở vật chất; cơ sở GDĐH tư thục thuộc sở hữu của tổ chức xã hội, tổ chức xã hội - nghề nghiệp, tổ chức kinh tế tư nhân hoặc cá nhân, do tổ chức xã hội, tổ chức xã hội - nghề nghiệp, tổ chức kinh tế tư nhân hoặc cá nhân đầu tư, xây dựng cơ sở vật chất; cơ sở GDĐH có vốn đầu tư nước ngoài (có 100% vốn của nhà đầu tư nước ngoài); cơ sở GDĐH liên doanh giữa nhà đầu tư nước ngoài và nhà đầu tư trong nước. Các mục tiêu chung của cơ sở GDĐH được qui định như sau: a) Đào tạo nhân lực, nâng cao dân trí, bồi dưỡng nhân tài; nghiên cứu khoa học, công nghệ tạo ra tri thức, sản phẩm mới, phục vụ yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội, bảo đảm quốc phòng, an ninh và hội nhập quốc tế; b) Đào tạo người học có phẩm chất chính trị, đạo đức; có kiến thức, kỹ năng thực hành nghề nghiệp, năng lực nghiên cứu và phát triển ứng dụng khoa học và công nghệ tương xứng với trình độ đào tạo; có sức khỏe; có khả năng sáng tạo và trách nhiệm nghề nghiệp, thích nghi với môi trường làm việc; có ý thức phục vụ nhân dân. Trong đó mục tiêu của đào tạo trình độ đại học là để người học có kiến thức chuyên môn toàn diện, nắm vững nguyên lý, quy luật tự nhiên - xã hội, có kỹ năng thực hành cơ bản, có khả năng làm việc độc lập, sáng tạo và giải quyết những vấn đề thuộc ngành được đào tạo. Theo Nghị định số 73/2015/NĐ – CP qui định các cơ sở GDĐH được phân theo hai hướng gồm đại học định hướng nghiên cứu và đại học định hướng ứng dụng.
Các chương trình đào tạo định hướng nghiên cứu có mục tiêu và nội dung theo hướng chuyên sâu về nguyên lý, lý thuyết cơ bản trong các lĩnh vực khoa học phát triển các công nghệ nguồn làm nền tảng để phát triển các lĩnh vực khoa học ứng dụng và công nghệ. Các chương trình đào tạo định hướng ứng dụng có mục tiêu và nội dung theo hướng phát triển kết quả cơ bản, ứng dụng các công nghệ nguồn thành các giải pháp công nghệ, qui trình quản lý, thiết kế các công cụ hoàn chỉnh phục vụ nhu cầu đa dạng 9 của con người. Tùy theo chất lượng, các cơ sở GDĐH được phân chia thành 3 hạng theo thứ tự từ cao xuống thấp: hạng 1, hạng 2, hạng 3. Nhìn chung, khung cơ cấu hệ thống quốc dân mới được thiết kế theo hướng mở, linh hoạt, liên thông giữa các cấp học, trình độ và giữa các phương thức giáo dục, đào tạo; đẩy mạnh phân luồng sau trung học cơ sở; định hướng nghề nghiệp ở THPT.
Trong bối cảnh GDĐH ở Việt Nam hiện nay, các cơ sở GDĐH được giao quyền tự chủ về tổ chức quản lý, tài chính, học thuật. Trong đó tự chủ về học thuật là sự chủ động trong công tác đào tạo và nghiên cứu khoa học. Các cơ sở GDĐH được tự quyết định ngành học cũng như chương trình đào tạo; tự quyết định các tiêu chuẩn học thuật và đảm bảo chất lượng; tự quyết định phương thức, số lượng tuyển sinh. Tự quyết định hình thức thực hiện cũng như phương thức liên kết trong việc thực hiện các mục tiêu khoa học công nghệ, hợp tác quốc tế.
Theo Luật GDĐH, thuật ngữ Đại học là cơ sở GDĐH bao gồm tổ hợp các trường cao đẳng, trường đại học, viện nghiên cứu khoa học thành viên thuộc các lĩnh vực chuyên môn khác nhau, tổ chức theo hai cấp, để đào tạo các trình độ của GDĐH. Trong nghiên cứu này, tác giả chủ yếu hướng đến các trường đại học và các viện đào tạo hệ đại học chính quy, không bao gồm các trường cao đẳng, hệ đào tạo cao đẳng.2 Khái niệm, đặc điểm của GDĐH và lợi ích của việc học đại học 2.1 Khái niệm về GDĐH Theo từ điển Giáo dục học (2001) thuật ngữ giáo dục là “Hoạt động hướng tới con người thông qua một hệ thống các biện pháp tác động nhằm truyền thụ những tri thức và kinh nghiệm, rèn luyện kỹ năng và lối sống, bồi dưỡng tư tưởng và đạo đức cần thiết cho đối tượng, giúp hình thành và phát triển năng lực, phẩm chất, nhân cách phù hợp với mục đích, mục tiêu chuẩn bị cho đối tượng tham gia lao động sản xuất và đời sống xã hội. Giáo dục là bộ phận của quá trình tái sản xuất mở rộng sức lao động xã hội, mà con người được giáo dục là nhân tố quan trọng nhất, vừa là động cơ, vừa là mục đích phát triển xã hội”. Theo Ronald Barnett (1992) có 4 khái niệm thông dụng nhất về GDĐH: - GDĐH là một dây chuyền sản xuất mà đầu ra là nhân lực đạt chuẩn: với quan điểm này, GDĐH là một quá trình trong đó người học được quan niệm như những sản phẩm được cung ứng ra thị trường lao động.
Như vậy, GDĐH trở thành “đầu vào” tạo nên sự phát triển và tăng trường của thương mại và công nghiệp. - GDĐH là đào tạo để trở thành nhà nghiên cứu.Với quan điểm này GDĐH là thời gian chuẩn bị để hình thành nên những nhà khoa học và nghiên cứu thực sự. 10 - GDĐH là quản lý việc tổ chức giảng dạy một cách hiệu quả. Hoạt động giảng dạy là cốt lõi của một trường đại học do vậy các trường phải quản lý việc giảng dạy để nâng cao chất lượng.
- GDĐH là mở rộng cơ hội trong cuộc sống cho người học. Như vậy, GDĐH xem như là một cơ hội tốt để học viên nâng cao, phát triển, hình thành thêm nhận thức bản thân. Như vậy, các khái niệm này đã thể hiện tính liên hoàn và làm rõ GDĐH là cơ hội cho người học được tham gia vào quá trình phát triển bản thân bằng cách học tập thường xuyên và linh hoạt. Trong Nghị Quyết 14/2005/NQ- CP ngày 2/11/2005 của Chính phủ Việt Nam về đổi mới căn bản và toàn diện GDĐH giai đoạn 2006 – 2020 cũng đã đặt ra yêu cầu: “Hiện đại hóa hệ thống GDĐH trên cơ sở kế thừa những thành quả giáo dục và đào tạo của đất nước, phát huy bản sắc dân tộc, tiếp thu tinh hoa nhân loại, nhanh chóng tiếp cận xu thế phát triển GDĐH tiên tiến trên thế giới” Ở Việt Nam, GDĐH đã có nhiều thay đổi tích cực từ hình thức đến nội dụng đào tạo và nghiên cứu.
Tuy nhiên, việc mở rộng đào tạo của các trường đại học, tăng số lớp học, số lượng sinh viên, qui mô đào tạo ngày càng tăng nhanh đến mức khó kiểm soát và dẫn đến tình trạng kém chất lượng. Chất lượng GDĐH dường như chưa tương xứng với sự phát triển về số lượng của các trường đại học cả nước. Đội ngũ giảng viên đại học hiện nay có chuyên môn trình độ tương đối cao nhưng tỷ lệ tiến sỹ và phó giáo sư so với các nước trong khu vực không nhiều. Phần đa giảng viên có trình độ cao lại tập trung ở các thành phố lớn trong khi các trường đại học thì phân bổ ở nhiều khu vực khác nhau.
Cơ sở vật chất hạn chế đặc biệt là các trường đại học được nâng cấp từ các trường cao đẳng hoặc một số trường ngoài công lập mới thành lập. Nhiều trường chưa có điều kiện để xây mới trường do vậy phải đi thuê địa điểm, học tạm, học mượn vì thế môi trường học tập kém hiệu quả, không gian cho các hoạt động đoàn thể rất kém. Các chương trình đào tạo hiện nay còn nặng về lý thuyết do vậy sinh viên bị áp lực trong học tập mà kết quả không cao. Số sinh viên tốt nghiệp đại học ra trường mà thất nghiệp hoặc không làm đúng chuyên môn vẫn ở mức cao.