CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ LẬP DỰ TOÁN VÀ CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN VIỆC LẬP DỰ TOÁN TRONG CÁC DOANH NGHIỆP 1. TỔNG QUAN VỀ LẬP DỰ TOÁN TRONG DOANH NGHIỆP 1. Khái niệm dự toán Trong các nghiên cứu trước đây, dự toán được các học giả định nghĩa theo nhiều khía cạnh khác nhau: Dự toán là một bản kế hoạch thể hiện dưới hình thức tiền tệ được chuẩn bị trước cho thời gian sắp tới, thường là một năm (Brookson, 2000). Hay dự toán ngân sách là công cụ lượng hóa các mục tiêu quản trị cho từng giai đoạn thực hiện chiến lược.
Theo đó, dự toán có 3 loại: dự toán vốn, dự toán linh hoạt và dự toán chủ đạo (Trần Đình Phụng, 2009). Trong khi đó, Huỳnh Lợi (2012) định nghĩa dự toán là những tính toán, dự kiến, phối hợp một cách chi tiết và toàn diện về nguồn lực, cách thức huy động và sử dụng nguồn lực để thực hiện một khối lượng công việc cụ thể trong một khoảng thời gian nhất định được biểu hiện bằng một hệ thống các chỉ tiêu về số lượng và giá trị. Như vậy, dự toán là một kế hoạch toàn diện, phối hợp các hoạt động và nguồn lực của doanh nghiệp trong tương lai. Dự toán cụ thể hóa các mục tiêu mà tổ chức cần phải đạt được, đồng thời chỉ rõ cách thức huy động và sử dụng các nguồn lực để thực hiện các mục tiêu đó thông qua hệ thống các chỉ tiêu về số lượng và giá trị cho một khoảng thời gian xác định trong tương lai.
Phân loại dự toán Tuỳ theo nhu cầu cung cấp thông tin của nhà quản lý cũng như mục đích phát triển của doanh nghiệp, khi xây dựng dự toán các nhà quản trị có thể Luan van 11 lựa chọn các loại dự toán khác nhau. Căn cứ vào tiêu thức phân loại cụ thể, dự toán có thể được phân loại như sau: a. Phân loại theo chức năng: Phân loại theo chức năng dự toán gồm hai loại: dự toán hoạt động và dự toán tài chính (Huỳnh Đức Lộng, 2013). Dự toán hoạt động: là dự toán phản ánh mức thu nhập và chi phí đòi hỏi để đạt mục tiêu lợi nhuận trong một kỳ thời gian cụ thể.
Dự toán hoạt động bao gồm các dự toán liên quan đến hoạt động cụ thể của doanh nghiệp như: dự toán bán hàng hoặc dự toán tiêu thụ, dự toán sản xuất, dự toán chi phí vật tư và cung ứng vật tư cho sản xuất, dự toán lao động trực tiếp, dự toán chi phí sản xuất chung, dự toán giá vốn hàng bán, dự toán chi phí bán hàng và chi phí quản lý doanh nghiệp. Dự toán tài chính: là dự toán phản ánh tình hình tài chính theo dự kiến và cách thức tài trợ cần thiết cho các hoạt động đã lập dự toán. Dự toán tài chính bao gồm các dự toán liên quan đến tiền tệ như: dự toán vốn (dự toán đầu tư), dự toán vốn bằng tiền, dự toán báo cáo kết quả kinh doanh, dự toán bảng cân đối kế toán và dự toán báo cáo lưu chuyển tiền tệ. Phân loại theo mối quan hệ với mức độ hoạt động Theo tiêu thức này dự toán được phân thành hai loại: dự toán tĩnh và dự toán linh hoạt (Huỳnh Đức Lộng, 2013).
Dự toán tĩnh: là dự toán được lập theo một mức độ hoạt động nhất định. Dự toán tĩnh sẽ không bị điều chỉnh hay thay đổi kể từ khi được lập ra bất kể có sự thay đổi về doanh thu tiêu thụ hoặc các điều kiện kinh doanh xảy ra trong kỳ dự toán. Dự toán tĩnh được lập tương đối giản đơn, tính toán ít. Tuy nhiên, nó không cung cấp đủ thông tin để ứng phó với các tình huống khác nhau, nhất là khi doanh nghiệp có sự điều chỉnh về quy mô, mức độ hoạt Luan van 12 động để thích ứng với tình hình thực tế của thị trường.
Dự toán này phù hợp với doanh nghiệp có hoạt động kinh tế ổn định. Do đó, nếu dùng dự toán này để đánh giá thành quả kinh doanh của doanh nghiệp mà các nghiệp vụ luôn biến động thì khó đánh giá được tình hình thực hiện dự toán của doanh nghiệp. Dự toán linh hoạt: là dự toán cung cấp cho đơn vị khả năng tính toán ở các mức doanh thu, chi phí khác nhau. Dự toán linh hoạt giúp các nhà quản lý giải quyết các vấn đề không chắc chắn bằng cách xem trước kết quả ở các mức doanh thu, chi phí cụ thể.
Thông thường, dự toán linh hoạt lập ở 3 mức độ khác nhau: mức độ hoạt động khả quan nhất, mức độ hoạt động trung bình và mức độ hoạt động bất lợi. Ưu điểm của dự toán linh hoạt là thích ứng với sự thay đổi của hoạt động kinh doanh, mở rộng phạm vi dự toán, dự toán linh hoạt giúp nhà quản trị có nhiều thông tin hơn để ứng phó với các tình huống sản xuất kinh doanh khác nhau. Nhà quản lý thường thích sử dụng dự toán linh hoạt hơn dự toán tĩnh vì khi sử dụng dự toán linh hoạt nhà quản lý có thể đánh giá kết quả thực hiện công việc của nhân viên sau khi kiểm soát tác động ảnh hưởng từ doanh số. Tuy nhiên, dự toán linh hoạt do phải lập ở nhiều mức độ hoạt động khác nhau nên đòi hỏi tính toán tương đối phức tạp và tốn nhiều chi phí.
Phân loại theo thời gian Phân loại theo thời gian dự toán gồm hai loại: dự toán dài hạn và dự toán ngắn hạn (Huỳnh Đức Lộng, 2013). Dự toán dài hạn: còn được gọi là dự toán vốn hoặc dự toán đầu tư, dự toán này liên quan đến tài sản cố định. Dự toán dài hạn thường bao gồm việc dự toán cho các tài sản lớn phục vụ cho hoạt động sản xuất và hệ thống phân phối như nhà xưởng, máy móc thiết bị để đáp ứng yêu cầu chiến lược kinh doanh. Đặc điểm cơ bản của dự toán ngân sách vốn là lợi nhuận dự kiến lớn, Luan van 13 mức độ rủi ro cao, thời gian thu hồi vốn dài.
Dự toán ngân sách dài hạn thường được lập cho 5 năm, 10 năm hoặc dài hơn. Dự toán ngắn hạn: là dự toán được lập cho kỳ kế hoạch 1 năm và được chia ra thành từng kỳ ngắn hơn như từng quý, từng tháng. Dự toán ngắn hạn thường liên quan đến các hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp như hoạt động mua hàng, bán hàng, sản xuất, thu, chi,…Vì vậy, nó cũng chính là nguồn tài chính hoạt động hằng năm. Đặc điểm cơ bản của dự toán này là được lập hằng năm trước khi niên độ kế toán kết thúc để định hướng nguồn tài chính cho hoạt động của doanh nghiệp trong năm kế hoạch tiếp theo.
Tầm quan trọng của lập dự toán a. Mục đích lập dự toán Lập dự toán có 5 mục đích như sau: - Lập kế hoạch sản xuất kinh doanh: Lập dự toán cung cấp cho doanh nghiệp toàn bộ thông tin về kế hoạch hoạt động trong một khoảng thời gian nhất định và yêu cầu các hoạt động cần diễn ra đúng kế hoạch, đem lại kết quả kinh doanh tốt nhất. - Phối hợp các hoạt động chức năng trong doanh nghiệp và thuận tiện hóa quá trình truyền đạt: Để đạt được mục tiêu chung của doanh nghiệp, tất cả các bộ phận trong doanh nghiệp phải có sự phối hợp nhịp nhàng với nhau, mỗi bộ phận và cá nhân phải hiểu rõ được nhiệm vụ cụ thể của mình. Dự toán là công cụ mà các nhà quản trị dùng để quán triệt kế hoạch kinh doanh cho cấp dưới và lượng hóa các mục tiêu ở tất cả các cấp trong doanh nghiệp, đặt ra mục tiêu cụ thể cho từng bộ phận, giúp cho quá trình truyền đạt thông tin giữa các cấp thuận tiện hơn.
- Khai thác các nguồn lực: Dự toán là căn cứ để khai thác, vận dụng các khả năng tiềm tàng về nguồn lực của doanh nghiệp nhằm nâng cao khả năng cạnh tranh. Luan van 14 - Kiểm soát các hoạt động: Dự toán là căn cứ để đánh giá tình hình thực hiện mục tiêu, kế hoạch và nhiệm vụ đã đặt ra. Trên cơ sở đó đề ra các giải pháp để thực hiện mục tiêu, nhiệm vụ theo đúng tiến độ. - Đánh giá tình hình hoạt động: Dự toán giúp nhà quản trị kiểm soát quá trình hoạt động và đánh giá trách nhiệm quản lý của từng bộ phận, từng cá nhân trong doanh nghiệp.
Dự toán còn là công cụ để nhà quản trị cấp cao kiểm soát, đánh giá tình hình thục hiện các chỉ tiêu dự toán đối với đơn vị trực thuộc. Họ sẽ so sánh kết quả đạt được với dự toán ban đầu từ đó có thể đánh giá được kết quả, hiệu quả và trách nhiệm quản lý của cấp dưới, phân tích và xác định nguyên nhân, điều chỉnh các hoạt động hướng về mục tiêu chung. Vai trò của lập dự toán Dự toán là cơ sở định hướng, chỉ đạo, kiểm tra và kiểm soát mọi hoạt động kinh doanh cũng như phối hợp các chương trình hành động ở các bộ phận trong doanh nghiệp. Qua các báo cáo dự toán, nhà quản trị dự tính được những gì sẽ xảy ra trong tương lai, kể cả những điều bất lợi, thuận lợi cho doanh nghiệp trong quá trình thực hiện dự toán.
Các báo cáo dự toán đóng vai trò quan trọng trong việc thực hiện các chức năng hoạch định, kiểm tra, kiểm soát của quản trị. Thực hiện mục tiêu này, kế toán quản trị phải đảm bảo truyền đạt các thông tin dự toán và thông tin khác cho bộ phận liên quan trong nội bộ doanh nghiệp. Các báo cáo dự toán phải được lập một cách toàn diện, đầy đủ bao gồm cả dự toán tổng thể và dự toán đầu tư (Trương Bá Thanh, 2008). Sự hữu ích của lập dự toán Dự toán là một công việc tốn kém và chiếm khá nhiều thời gian.
Tuy nhiên, nếu dự toán được lập một cách cẩn thận và phù hợp thì các lợi ích đạt được thông qua việc lập dự toán sẽ lớn hơn rất nhiều so với thời gian và công Luan van 15 sức bỏ ra. Khi lập dự toán, doanh nghiệp có thể đạt được những lợi ích sau đây: - Dự toán cung cấp cho các nhà quản trị phương tiện thông tin một cách có hệ thống toàn bộ kế hoạch của doanh nghiệp. - Dự toán giúp truyền đạt kế hoạch, mục tiêu, chiến lược của nhà quản trị đến tất cả các bộ phận. - Dự toán làm cho các mục tiêu và cách thức để đạt được các mục tiêu được biểu hiện một cách rõ ràng.
Vì vậy, dự toán giúp cho việc quản lý trở nên thuận lợi hơn trong việc định hướng hoạt động kinh doanh theo các mục tiêu đã định.