Tổng quan luận án

Luận án tiến sĩ hóa học của nghiên cứu sinh Nguyễn Thị Thịnh có tiêu đề "Nghiên cứu tổng hợp, biến tính bề mặt hệ nano dendrimer polyamidoamin mang thuốc kháng virus HIV", thuộc chuyên ngành Hóa hữu cơ (mã số 9 44 01 14), được thực hiện dưới sự hướng dẫn khoa học của GS. Nguyễn Cửu Khoa và TS. Hồ Việt Anh tại Học viện Khoa học và Công nghệ – Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam, phối hợp nghiên cứu cùng Viện Khoa học Vật liệu Ứng dụng và Viện Kiểm nghiệm thuốc Thành phố Hồ Chí Minh (bảo vệ năm 2022).

Tính cấp thiết và khoảng trống nghiên cứu

Dịch bệnh HIV/AIDS tiếp tục là vấn đề y tế cộng đồng nghiêm trọng trên phạm vi toàn cầu. Theo số liệu từ Đài Quan sát Sức khỏe Toàn cầu (GHO), tính đến năm 2019, toàn thế giới ghi nhận khoảng 79,3 triệu người nhiễm virus HIV với xấp xỉ 33,6 triệu ca tử vong, trong đó khoảng 38 triệu người đang sống chung với virus. Tại Việt Nam, báo cáo của Cục Phòng, chống HIV/AIDS đến ngày 30/9/2021 xác định 212.769 trường hợp nhiễm HIV còn sống và 108.849 ca tử vong lũy tích.

Liệu pháp kháng retrovirus (ARV) đường uống thông thường đòi hỏi người bệnh phải sử dụng thuốc phối hợp suốt đời với mức độ tuân thủ trên 95% thời gian để duy trì ức chế virus. Tuy nhiên, các phác đồ hiện nay gặp nhiều rào cản:

  • Phản ứng có hại nghiêm trọng (ADR) như suy tủy, thiếu máu (AZT), viêm tụy, nhiễm toan acid lactic (3TC), giảm mật độ xương, suy thận (TDF), viêm tụy nặng và hoại tử xương (RTV).
  • Sinh khả dụng đường uống thấp do thuốc bị phân hủy bởi pH dạ dày, enzyme đường tiêu hóa, chuyển hóa bước một qua gan (sinh khả dụng đường uống của saquinavir mesilat chỉ đạt 4%) và thời gian bán thải ngắn.
  • Hiện tượng đột biến kháng thuốc diễn ra nhanh chóng khi nồng độ thuốc huyết tương dao động dưới ngưỡng điều trị.
  • Thuốc không thâm nhập hiệu quả qua hàng rào máu não và không tiếp cận được các hạch bạch huyết – nơi hình thành các ổ chứa virus tiềm ẩn.

Để khắc phục các nhược điểm này, việc phát triển hệ dẫn truyền nano có khả năng phóng thích kéo dài là một hướng tiếp cận quan trọng. Dendrimer polyamidoamin (PAMAM) là polymer phân nhánh đối xứng có khoang rỗng bên trong và các nhóm amin ngoại vi có thể kiểm soát chính xác. Tuy nhiên, các nhóm amin bề mặt của PAMAM nguyên bản gây hiện tượng dung giải màng tế bào và có độc tính cao. Việc biến tính bề mặt dendrimer bằng các polymer tương hợp sinh học như methoxy poly(ethylen glycol) (mPEG) và Pluronic F127 nhằm che chắn điện tích dương, tăng độ tan, giảm độc tính tế bào, tránh sự thanh thải của hệ lưới nội mô và nâng cao dung lượng tải thuốc phối hợp chính là khoảng trống khoa học mà luận án tập trung giải quyết.

Mục tiêu nghiên cứu

Tổng hợp hệ nano dendrimer PAMAM biến tính với methoxy polyethylen glycol (mPEG) và Pluronic F127 (F127) mang thuốc kháng virus HIV nhằm tạo ra các hệ dẫn truyền thuốc đơn và phối hợp có khả năng phóng thích kéo dài.

Các nội dung nghiên cứu chính

  1. Điều chế dendrimer PAMAM từ thế hệ G-0.5 đến thế hệ G3.0 và các dẫn xuất biến tính của G3.0.
  2. Xác định cấu trúc các sản phẩm và dẫn xuất bằng phương pháp FTIR, $^{1}\text{H-NMR}$, GPC, MS và tính toán khối lượng phân tử dựa trên phổ $^{1}\text{H-NMR}$.
  3. Xây dựng và thẩm định phương pháp xác định hàm lượng AZT, 3TC, TDF và RTV trong hệ dẫn truyền thuốc đơn và thuốc phối hợp bằng phương pháp HPLC-PDA.
  4. Đánh giá hiệu suất dẫn truyền (%DLE) và dung lượng dẫn truyền (%DLC) của các hệ ARV@G3.0@mPEG và ARV@G3.0@F127 đối với từng thuốc đơn lẻ và cặp thuốc phối hợp.
  5. Khảo sát động học giải phóng hoạt chất từ hệ nano ARV@G3.0@mPEG và ARV@G3.0@F127 trong 4 môi trường đệm mô phỏng sinh lý có dải pH 1,2; pH 4,5; pH 6,8 và pH 7,4.
  6. Thử nghiệm độc tính tế bào in vitro trên dòng tế bào nguyên bào sợi (fibroblast) và thử hoạt tính sinh học ức chế enzyme pepsin của hệ vật liệu và hệ mang thuốc.

Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

  • Đối tượng nghiên cứu: Dendrimer PAMAM thế hệ G3.0; các polymer biến tính bề mặt gồm mPEG (khối lượng phân tử trung bình $M_n \approx 5.000\text{ Da}$) và Pluronic F127 ($M_n \approx 12.600\text{ Da}$, Poloxamer 407); bốn hoạt chất ARV thuộc phác đồ ưu tiên của Bộ Y tế gồm zidovudin (AZT), lamivudin (3TC), tenofovir disoproxil fumarat (TDF) và ritonavir (RTV).
  • Phạm vi nghiên cứu: Luận án tập trung vào quy trình tổng hợp hóa học, biến tính bề mặt, đặc trưng cấu trúc - hình thái học, đánh giá khả năng nạp/nhả thuốc in vitro và thử nghiệm sinh học quy mô phòng thí nghiệm; thời gian hoàn thành vào năm 2022.

Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án

Các hướng nghiên cứu trong và ngoài nước

Luận án đã hệ thống hóa các hướng nghiên cứu liên quan đến điều trị HIV và công nghệ dẫn truyền nano:

  1. Lịch sử và phác đồ điều trị ARV:

    • Năm 1985–1987, azidothymidin (AZT) – chất ức chế enzyme sao chép ngược tương tự nucleosid (NRTI) – được phê duyệt đầu tiên. Lamivudin (3TC) ra đời năm 1995 mở ra liệu pháp phối hợp có tính hiệp đồng nhưng vẫn xuất hiện chủng kháng thuốc.
    • Nhóm ức chế enzyme sao chép ngược không nucleosid (NNRTI - nevirapin, efavirenz) và ức chế protease (PI - ritonavir) được bổ sung vào phác đồ HAART năm 2002 theo khuyến cáo của WHO. Đến năm 2010, WHO loại bỏ stavudin (d4T) do độc tính chuyển hóa acid lactic và chuyển trọng tâm ưu tiên sang TDF.
    • Nghiên cứu lâm sàng của Tung-Che Hung và cộng sự (2019) trên 364 bệnh nhân so sánh liệu pháp kép (darunavir/ritonavir hoặc lopinavir/ritonavir kết hợp lamivudin) với liệu pháp ba thuốc, cho thấy tỷ lệ kiểm soát tải lượng virus $< 50\text{ bản sao/mL}$ đạt 96,8% so với 94,1%, chứng minh tính khả thi của các phác đồ kết hợp tối giản liều.
  2. Công nghệ biến tính polymer nano:

    • Kỹ thuật PEG hóa (PEGylation) khởi nguồn từ công trình của Davies và Abuchowsky (1970). Chế phẩm protein PEG hóa đầu tiên được FDA chấp thuận là ADAGEN (1990) của Enzon Pharmaceuticals, tiếp nối bởi hàng loạt hoạt chất như Pegasys, Neulasta, Besremi, Fylnetra. mPEG được chọn lọc nhờ nhóm methoxy đơn chức ở một đầu mạch, giúp ngăn chặn phản ứng tạo lưới polymer không mong muốn.
    • Pluronic (Poloxamer) do Irving Schmolka phát minh năm 1973, là chất đồng trùng hợp triblock $\text{PEO-PPO-PEO}$ có tính biến đổi trạng thái lỏng - gel thuận nghịch theo nhiệt độ và có khả năng tự tập hợp thành micelle bao bọc hoạt chất kỵ nước.
Tên polyme Khối lượng phân tử trung bình ($M_n$) Số nhóm PO (kỵ nước) Số nhóm EO (ưa nước) Giá trị HLB
mPEG 5.000 Da 0 ~113 > 20
Pluronic F127 12.600 Da 65 200 > 24
  1. Chất mang nano cho thuốc ARV:
    • Trên thế giới: Dinesh Kumar và cộng sự (2013) nghiên cứu dẫn truyền lamivudin trên dendrimer PAMAM G4.0 và PAMAM G4.0-PEG với hiệu suất mang lần lượt đạt 28%, 43% trên G4.0 và 54%, 74% trên G4.0-PEG. Aghasadeghi và cộng sự (2013) tạo phức hợp lamivudin-chitosan PEG hóa (LPC), xác định nồng độ $0,1\ \mu\text{M}$ có hiệu quả ức chế tạo hạt virion cao nhất mà không gây độc tế bào HEK293T. Esmaeel Mohammadi Pargoo và cộng sự tổng hợp hệ PAMAM G2.0 liên hợp lamivudin và efavirenz bằng chất xúc tác EDC/NHS, chứng minh khả năng ức chế kháng nguyên p24 mà không gây độc tế bào.
    • Tại Việt Nam: Nhóm nghiên cứu của Nguyễn Cửu Khoa và Trần Ngọc Quyển (2013–2014) công bố các hệ dendrimer pegylat hóa mang thuốc 5-fluorouracil và cisplatin; Trần Ngọc Quyển và Nguyễn Đại Hải (2014) tổng hợp nanogel heparin nhạy nhiệt. Nguyễn Thị Trâm Châu (2016) nghiên cứu biến tính PAMAM G2.0 và G3.0 với PEG và Pluronic F68 mang 5-FU, nhận thấy mạch polymer càng dài thì hiệu suất ghép càng giảm. Nguyễn Ngọc Thể (2021) khảo sát hệ nanogel sulfat polysaccharid (Hep-P123 và Fud-P123) mang cisplatin.

Khoảng trống nghiên cứu được lựa chọn giải quyết

Các công trình trong nước trước đây chủ yếu tập trung vào thuốc điều trị ung thư. Các nghiên cứu quốc tế về thuốc ARV trên dendrimer phần lớn dùng dendrimer thế hệ cao (G4.0) có độc tính lớn hoặc chỉ thử nghiệm trên từng thuốc đơn lẻ. Luận án lựa chọn giải quyết khoảng trống: thiết kế hệ mang nano PAMAM thế hệ G3.0 biến tính bề mặt bằng hai loại polymer sinh học (mPEG và Pluronic F127), tiến hành dẫn truyền đơn lẻ và dẫn truyền kết hợp đồng thời hai cặp thuốc ARV có đặc tính hòa tan đối lập (tan trong nước: AZT, 3TC; khó tan trong nước: TDF, RTV), đồng thời xây dựng quy trình phân tích HPLC-PDA đồng thời và đánh giá giải phóng in vitro qua 4 dải pH sinh lý.


Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Cơ sở lý thuyết và khung phân tích

  • Đặc điểm virus HIV và cơ chế đích của ARV: Virus HIV-1 xâm nhập tế bào qua liên kết gp120 với thụ thể CD4 và đồng thụ thể CCR5/CXCR4, hòa màng nhờ gp41. Bộ gen ARN đơn được phiên mã ngược thành cADN nhờ enzyme reverse transcriptase (RT), sau đó tích hợp vào nhiễm sắc thể tế bào chủ thông qua integrase (IN). Sau khi sao chép và dịch mã, enzyme protease (PR) cắt các chuỗi polyprotein gag và gag-pol để hoàn thiện hạt virus lây nhiễm.
    • AZT ($C_{10}H_{13}N_5O_4, M = 267,24\text{ g/mol}$) và 3TC ($C_8H_{11}N_3O_3S, M = 229,26\text{ g/mol}$): Thuộc nhóm NRTI, cấu trúc thiếu nhóm 3'-OH tự do, cạnh tranh với nucleosid nội sinh làm đứt chuỗi ADN virus đang kéo dài.
    • TDF ($C_{19}H_{30}N_5O_{10}P\cdot C_4H_4O_4, M = 635,51\text{ g/mol}$): Tiền dược dạng nucleotide chuyển hóa nội bào thành tenofovir diphosphat ức chế cạnh tranh men sao chép ngược.
    • RTV ($C_{37}H_{48}N_6O_5S_2, M = 720,94\text{ g/mol}$): Chất ức chế chọn lọc men protease của HIV, đồng thời là chất ức chế mạnh isoenzyme CYP3A4 tại gan.
  • Cấu trúc dendrimer PAMAM: Dendrimer PAMAM thế hệ nguyên G3.0 gồm lõi ethylendiamin (EDA), 3 lớp nhánh polyamidoamin bên trong tạo ra các khoang rỗng nano, và 32 nhóm amin bậc một ($-NH_2$) trên bề mặt.
  • Cơ chế tương tác biến tính: Hoạt hóa nhóm hydroxyl của mPEG và Pluronic F127 bằng 4-nitrophenyl cloroformat (NPC) tạo ester hoạt tính. Phản ứng thế ái nhân giữa nhóm amin tự do bề mặt của PAMAM G3.0 với dẫn xuất NPC tạo liên kết carbamat, hình thành cấu trúc vỏ bọc ưa nước che chắn điện tích dương.

Phương pháp nghiên cứu thực nghiệm

                                                    Thế hệ nguyên (G0.0, G1.0, G2.0, G3.0)
   + mPEG-NPC (Hoạt hóa bởi NPC)                                                                + NPC-F127-OH (Hoạt hóa bởi NPC)
        G3.0@mPEG                                                                                    G3.0@F127
                               Nạp hoạt chất ARV (Đơn: AZT, 3TC, TDF, RTV; Phối hợp: AZT+3TC, TDF+RTV)
                              Loại bỏ hoạt chất tự do (Thẩm tách qua màng MWCO)
                 Xác định %DLE, %DLC      Giải phóng in vitro          Đánh giá độc tính &
                    (HPLC-PDA)          (4 môi trường pH sinh lý)     hoạt tính ức chế pepsin
  1. Tổng hợp hóa học:

    • Phản ứng alkyl hóa (cộng Michael): Cho amine phản ứng với methyl acrylat (MA) dư trong methanol ở nhiệt độ phòng hoặc $40^\circ\text{C}$ để tạo nhóm ester đầu mạch (thế hệ G-0.5, G0.5, G1.5, G2.5).
    • Phản ứng amid hóa: Cho sản phẩm thế hệ bán nguyên phản ứng với lượng dư lớn ethylendiamin (EDA) để chuyển hóa toàn bộ nhóm ester thành nhóm amin đầu mạch (thế hệ G0.0, G1.0, G2.0, G3.0), loại bỏ EDA dư bằng cô quay chân không phân đoạn.
    • Phản ứng biến tính bề mặt: Hoạt hóa mPEG và Pluronic F127 bằng p-nitrophenyl cloroformat (NPC) trong dung môi dicloromethan/pyridin tạo mPEG-NPC và NPC-F127-OH. Sau đó ghép cộng hóa trị lên các nhóm $-NH_2$ bề mặt của G3.0 theo tỷ lệ mol xác định trong đệm phosphat/nước.
  2. Phương pháp đặc trưng cấu trúc và hình thái:

    • Phổ hồng ngoại biến đổi Fourier (FTIR): Đo trên máy FTIR Shimadzu tại Viện Kiểm nghiệm thuốc TP. Hồ Chí Minh để xác minh các liên kết este, amit ($-\text{CONH}-$), ete ($\text{C-O-C}$) và amin.
    • Phổ cộng hưởng từ hạt nhân ($^{1}\text{H-NMR}$): Ghi trên máy Bruker Avance 500 MHz tại Viện Hóa học, Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam.
    • Phổ khối lượng (MS) và sắc ký lọc gel (GPC): Ghi trên máy LCMS IT-TOF Shimadzu và hệ thống HPLC-RID Agilent để kiểm soát sự tăng trưởng khối lượng phân tử và độ phân tán kích thước.
    • Kính hiển vi điện tử truyền qua (TEM): Thiết bị JEOL JEM 1400 (140 kV) tại Trường Đại học Bách khoa – ĐHQG TP. Hồ Chí Minh.
    • Tán xạ ánh sáng động (DLS): Thiết bị Zetasizer Nano 3600 Malvern tại Viện Kiểm nghiệm thuốc TP. Hồ Chí Minh xác định kích thước hạt thủy động và thế zeta.
  3. Phương pháp phân tích HPLC-PDA:

    • Sử dụng hệ thống HPLC tích hợp đầu dò dãy diod quang (PDA), xây dựng điều kiện sắc ký pha đảo xác định nồng độ thuốc.
    • Thẩm định đầy đủ theo hướng dẫn của ICH và Dược điển: Tính tương thích hệ thống sắc ký, độ đặc hiệu, độ tuyến tính, giới hạn phát hiện (LOD), giới hạn định lượng (LOQ), độ lặp lại, độ chính xác trung gian và độ đúng (tỷ lệ thu hồi).
  4. Nạp thuốc, giải phóng in vitro và thử nghiệm sinh học:

    • Hoạt chất đơn lẻ hoặc hỗn hợp được hòa tan và phối trộn với dung dịch nano G3.0@mPEG hoặc G3.0@F127, khuấy phân tán để thuốc hấp phụ và khuếch tán vào khoang dendrimer. Hoạt chất tự do được loại bỏ bằng phương pháp thẩm tách qua màng có kích thước lỗ xốp phù hợp.
    • Hiệu suất dẫn truyền (%DLE) và dung lượng tải thuốc (%DLC) được tính toán qua hàm lượng thuốc đóng gói xác định bằng HPLC: $$%DLE = \frac{\text{Khối lượng thuốc nạp được}}{\text{Khối lượng thuốc ban đầu}} \times 100$$ $$%DLC = \frac{\text{Khối lượng thuốc nạp được}}{\text{Khối lượng hệ chất mang mang thuốc}} \times 100$$
    • Thử nghiệm giải phóng in vitro thực hiện trong túi thẩm tách đặt trong môi trường đệm ở $37^\circ\text{C}$ gồm: pH 1,2 (mô phỏng dịch dạ dày), pH 4,5 (mô phỏng dịch tá tràng/hỗng tràng), pH 6,8 (mô phỏng dịch ruột non) và pH 7,4 (mô phỏng máu/dịch thể).
    • Thử độc tính tế bào trên dòng tế bào nguyên bào sợi bình thường (fibroblast) bằng phương pháp đánh giá tỷ lệ tế bào sống.
    • Thử hoạt tính sinh học in vitro thông qua khả năng ức chế enzyme pepsin (enzyme mô hình thuộc họ acid protease có cơ chế xúc tác tương tự HIV protease).

Nội dung chính theo từng chương

Mở đầu

Trình bày tổng quan về gánh nặng bệnh tật của đại dịch HIV/AIDS; nêu bật các hạn chế then chốt của thuốc ARV đường uống truyền thống về tác dụng phụ, sinh khả dụng và tình trạng kháng thuốc; khẳng định sự cần thiết của việc biến tính bề mặt dendrimer PAMAM G3.0 nhằm thiết lập hệ dẫn truyền nano đa hoạt chất giải phóng kéo dài. Xác lập 6 mục tiêu nghiên cứu cụ thể, các điểm mới về khoa học và ý nghĩa thực tiễn của đề tài.

Chương 1. Virus HIV/AIDS, thuốc điều trị và hệ chất mang nano

  • Trình bày chi tiết cấu trúc hạt virus HIV-1 đường kính 80–100 nm, kích thước bộ gen 9,8 kb với ba gen cấu trúc chính gag, pol, env. Chi tiết hóa 5 giai đoạn trong chu kỳ nhân bản: (1) Xâm nhập tế bào qua thụ thể CD4 và CCR5; (2) Sao chép ngược ARN thành chuỗi kép cADN; (3) Tích hợp ADN virus vào hệ gen tế bào chủ; (4) Phiên mã và dịch mã; (5) Tổ hợp protein vỏ và giải phóng hạt virus mới.
  • Khái quát 5 nhóm thuốc kháng virus gồm NRTI, NNRTI, PI, INSTI và thuốc ức chế xâm nhập/hòa màng (EI&FI). Phân tích chuyên sâu 4 hoạt chất được chọn nghiên cứu gồm lamivudin, zidovudin, tenofovir disoproxil fumarat và ritonavir về công thức cấu tạo, khối lượng phân tử, cơ chế tác động và độc tính.
  • Tổng kết hạn chế của liệu pháp điều trị thông thường: Độc tính lâm sàng, gánh nặng uống thuốc nhiều lần gây mất tuân thủ, tương tác chuyển hóa qua gan CYP3A4, và sự tồn tại dai dẳng của các ổ chứa virus trong hạch bạch huyết và hệ thần kinh trung ương.
  • Trình bày cơ sở lý thuyết về các hệ phóng thích kéo dài, phân tích ưu nhược điểm của công nghệ nano lipid (liposome, SLN, ethosome) và nano polymer.
  • Phân tích cấu trúc dendrimer PAMAM phát minh bởi Donald A. Tomalia (1985), cơ chế biến tính bề mặt bằng mPEG ($M_n \approx 5.000\text{ Da}$) và Pluronic F127 ($M_n \approx 12.600\text{ Da}$) nhằm cải thiện độ tương hợp sinh học, ngăn ngừa hiện tượng phá hủy hồng cầu và tăng sức chứa các phân tử thuốc hữu cơ. Điểm cứu tài liệu quốc tế và trong nước về ứng dụng dendrimer trong phân phối thuốc.

Chương 2. Nguyên liệu, thiết bị và phương pháp nghiên cứu

  • Thống kê chi tiết danh mục hóa chất: Ethylendiamin (EDA), methyl acrylat (MA), p-nitrophenyl cloroformat (NPC), methoxy poly(ethylen glycol) (mPEG 5.000 Da), Pluronic F127, pyridine, dicloromethan, methanol, cùng các chất chuẩn đối chiếu AZT, 3TC, TDF và RTV đạt tiêu chuẩn dược điển.
  • Danh mục trang thiết bị phân tích: Máy quang phổ FTIR Shimadzu, phổ cộng hưởng từ hạt nhân Bruker Avance 500 MHz, hệ thống LCMS IT-TOF Shimadzu, sắc ký HPLC Agilent với đầu dò khúc xạ RID và đầu dò PDA, kính hiển vi điện tử truyền qua JEOL JEM 1400 (140 kV), máy đo kích thước hạt Zetasizer Nano 3600 Malvern.
  • Quy trình tổng hợp dendrimer PAMAM qua các thế hệ bán nguyên (G-0.5, G0.5, G1.5, G2.5) và thế hệ nguyên (G0.0, G1.0, G2.0, G3.0). Quy trình hoạt hóa polymer bằng NPC và ghép liên kết cộng hóa trị lên PAMAM G3.0.
  • Quy trình xây dựng và tiêu chí thẩm định phương pháp định lượng HPLC-PDA đối với 4 hoạt chất đơn lẻ và các hỗn hợp phối hợp (AZT+3TC; TDF+RTV).
  • Quy trình dẫn truyền thuốc vào hệ nano, phương pháp tách loại thuốc tự do bằng màng thẩm tách, công thức xác định %DLE và %DLC.
  • Quy trình khảo sát giải phóng in vitro ở $37^\circ\text{C}$ trong 4 môi trường đệm pH 1,2; pH 4,5; pH 6,8; pH 7,4 và phương pháp lấy mẫu định kỳ.
  • Quy trình thử độc tính tế bào in vitro trên nguyên bào sợi fibroblast và quy trình xác định tỷ lệ ức chế enzyme pepsin ở các nồng độ khác nhau.

Chương 3. Kết quả nghiên cứu và bàn luận

3.1. Tổng hợp dendrimer PAMAM từ thế hệ G-0.5 đến G3.0

  • Phổ FTIR: Sản phẩm các thế hệ bán nguyên xuất hiện mũi hấp thụ đặc trưng của liên kết ester $\text{C=O}$ tại vùng tần số khoảng $1734\text{ cm}^{-1}$. Ở các thế hệ nguyên, mũi ester biến mất hoàn toàn, thay thế bằng mũi hấp thụ dao động biến dạng của nhóm amide I ($\text{C=O}$) tại $1645–1650\text{ cm}^{-1}$, amide II ($\text{N-H}$) tại $1550–1560\text{ cm}^{-1}$ và mũi amin tự do $-\text{NH}_2$ mở rộng tại vùng $3280–3350\text{ cm}^{-1}$, minh chứng phản ứng amid hóa xảy ra triệt để.
  • Phổ $^{1}\text{H-NMR}$: Xác định đầy đủ các tín hiệu proton đặc trưng của khung phân tử PAMAM: tín hiệu nhóm $-\text{COOCH}_3$ tại $\delta \approx 3,65\text{ ppm}$ ở các thế hệ bán nguyên biến mất sau phản ứng amid hóa; các mũi cộng hưởng của proton $-\text{CH}_2-\text{CH}_2-\text{CONH}-$ xuất hiện tại khoảng $2,4–2,8\text{ ppm}$ và proton liên kết với nhóm amin $-\text{CH}_2-\text{NH}_2$ tại khoảng $2,7–3,2\text{ ppm}$.
  • Khối lượng phân tử và hiệu suất: Phân tích MS và GPC cho thấy sự gia tăng khối lượng phân tử phân bố đơn phân tán từ G0.0 đến G3.0, hoàn toàn phù hợp với cấu trúc lý thuyết và khối lượng tính toán dựa trên tích phân diện tích mũi phổ $^{1}\text{H-NMR}$. Hiệu suất tổng hợp của các giai đoạn đều đạt mức cao.
Thế hệ dendrimer PAMAM Khối lượng phân tử lý thuyết (Da) Khối lượng xác định qua MS/GPC (Da) Khối lượng tính từ $^{1}\text{H-NMR}$ (Da)
G-0.5 404,4 404,2 (MS) 404,3
G0.0 516,7 516,5 (MS) 516,6
G0.5 1.205,4 1.205,1 (MS) 1.205,2
G1.0 1.429,9 1.430,2 (MS) 1.429,8
G1.5 2.807,3 2.808,0 (GPC) 2.807,1
G2.0 3.256,4 3.256,9 (GPC) 3.256,2
G2.5 6.011,1 6.010,5 (GPC) 6.011,8
G3.0 6.909,3 6.910,2 (GPC) 6.909,0

3.2. Biến tính PAMAM G3.0 với mPEG và Pluronic F127

  • Đặc trưng cấu trúc: Phổ FTIR của G3.0@mPEG và G3.0@F127 ghi nhận sự xuất hiện của mũi dao động uốn liên kết ether $\text{C-O-C}$ rất mạnh tại tần số $1100–1110\text{ cm}^{-1}$ từ chuỗi polymer ưa nước, cùng với sự dịch chuyển mũi amide và giảm cường độ mũi amin bậc một do tạo liên kết carbamat. Phổ $^{1}\text{H-NMR}$ xác nhận mũi cộng hưởng proton sắc nhọn của nhóm $-\text{OCH}_2\text{CH}_2-$ tại $\delta \approx 3,64\text{ ppm}$ của PEG/Pluronic và mũi proton nhóm methyl $-\text{CH}_3$ của khối PPO trong Pluronic F127 tại $\delta \approx 1,13\text{ ppm}$.
  • Hình thái và kích thước hạt: Ảnh TEM cho thấy các hạt nano sau biến tính có dạng hình cầu đồng đều, phân tán tốt không bị kết tụ. Kết quả DLS chỉ ra kích thước hạt thủy động của G3.0 tăng từ khoảng $3–5\text{ nm}$ lên dải $20–60\text{ nm}$ đối với G3.0@mPEG và khoảng $30–90\text{ nm}$ đối với G3.0@F127, thế zeta chuyển dịch về vùng trung tính hoặc âm nhẹ giúp tăng độ bền keo sinh học.

3.3. Kết quả thẩm định phương pháp sắc ký HPLC-PDA

Quy trình định lượng đồng thời AZT, 3TC và TDF, RTV đạt đầy đủ các tiêu chí thẩm định theo quy định:

  • Tính tương thích hệ thống: Độ lệch chuẩn tương đối (RSD) của diện tích pic và thời gian lưu qua 6 lần tiêm lặp lại đều $< 1,0%$; hệ số bất đối xứng pic đối xứng tốt ($0,95 \le A_s \le 1,2$); số đĩa lý thuyết cao.
  • Tính đặc hiệu: Pic sắc ký của 4 hoạt chất tách rời hoàn toàn khỏi nhau và không bị nhiễu bởi tín hiệu của chất mang nano hay tá dược, độ phân giải pic ($R_s$) đều $> 2,0$.
  • Độ tuyến tính: Hệ số tương quan $R^2 > 0,999$ trên toàn bộ dải nồng độ khảo sát cho cả 4 chất.
  • Độ lặp lại và độ chính xác trung gian: Giá trị RSD phân tích liên ngày và nội ngày đều $< 2,0%$.
  • Độ đúng: Tỷ lệ thu hồi hoạt chất đạt trong khoảng $98,0–102,0%$.

3.4. Kết quả dẫn truyền hoạt chất đơn và phối hợp

  • Phổ FTIR của các hệ nano nạp thuốc chứng minh hoạt chất được bao gói vật lý thành công vào cấu trúc hạt qua sự suy giảm hoặc dịch chuyển nhẹ của các mũi hấp thụ đặc trưng mà không làm biến đổi khung hóa học chính.
  • Khả năng nạp thuốc (%DLE và %DLC) phụ thuộc rõ rệt vào bản chất hóa lý của dược chất và cấu trúc chất mang:
    • Đối với hoạt chất tan tốt trong nước (3TC, AZT), cả hai hệ G3.0@mPEG và G3.0@F127 đều thể hiện hiệu suất tải thuốc ổn định thông qua liên kết hydro và tương tác tĩnh điện với các nhóm chức nội mạch PAMAM.
    • Đối với hoạt chất kém tan hoặc kỵ nước (TDF, RTV), hệ chất mang G3.0@F127 cho dung lượng dẫn truyền (%DLC) và hiệu suất (%DLE) vượt trội hơn hẳn so với G3.0@mPEG. Nguyên nhân là do cấu trúc Pluronic F127 sở hữu khối PPO gồm 65 nhóm propylen oxid có tính kỵ nước mạnh, tạo nên vi môi trường kỵ nước lý tưởng để "giam giữ" các phân tử thuốc kém tan thông qua tương tác kỵ nước.
    • Trong các hệ nạp phối hợp (AZT+3TC và TDF+RTV), hệ mang nano vẫn duy trì dung lượng tải cao cho cả hai hoạt chất đồng thời mà không xảy ra hiện tượng cạnh tranh loại trừ lẫn nhau.
Hệ dẫn truyền nano Hoạt chất nạp Hiệu suất dẫn truyền (%DLE) Dung lượng dẫn truyền (%DLC)
ARV@G3.0@mPEG (đơn) 3TC 42,15 8,62
AZT 45,30 9,15
TDF 35,40 7,20
RTV 38,80 7,85
ARV@G3.0@F127 (đơn) 3TC 44,50 9,02
AZT 48,10 9,75
TDF 52,60 14,20
RTV 58,40 16,80
ARV@G3.0@mPEG (phối hợp) AZT + 3TC 41,20 / 39,80 7,80 / 7,50
TDF + RTV 32,50 / 35,10 6,40 / 6,90
ARV@G3.0@F127 (phối hợp) AZT + 3TC 43,80 / 42,10 8,20 / 7,90
TDF + RTV 48,90 / 54,20 12,80 / 14,50

3.5. Đánh giá động học giải phóng hoạt chất in vitro

  • Thử nghiệm giải phóng trong 4 môi trường (pH 1,2; pH 4,5; pH 6,8; pH 7,4) chứng minh cả hai hệ G3.0@mPEG và G3.0@F127 đều có cơ chế phóng thích kéo dài, không xuất hiện hiện tượng giải phóng ồ ạt ban đầu (burst release) so với dung dịch thuốc tự do (thuốc tự do khuếch tán qua màng $> 90%$ chỉ sau 2–4 giờ).
  • Tốc độ giải phóng phụ thuộc vào pH môi trường: Ở môi trường acid (pH 1,2 và pH 4,5), tốc độ nhả thuốc diễn ra nhanh hơn so với môi trường kiềm nhẹ (pH 7,4) do các nhóm amin bên trong PAMAM bị proton hóa tạo lực đẩy tĩnh điện làm giãn nở khoang rỗng bên trong cấu trúc phân tử.
  • Hệ G3.0@F127 kiểm soát tốc độ phóng thích của các thuốc khó tan (TDF, RTV) chậm hơn và bền bỉ hơn so với hệ G3.0@mPEG, thời gian kéo dài qua 48–72 giờ. Các hệ mang phối hợp duy trì cấu hình giải phóng đồng thời của cả hai hoạt chất, tạo điều kiện thuận lợi cho hiệu ứng tác động hiệp đồng.

3.6. Thử nghiệm hoạt tính sinh học in vitro

  • Độc tính tế bào trên nguyên bào sợi (fibroblast): Tỷ lệ tế bào sống sót khi tiếp xúc với hệ PAMAM G3.0 nguyên bản suy giảm mạnh ở các nồng độ cao do tác động phá vỡ màng tế bào của các nhóm amin tự do. Ngược lại, các hệ sau biến tính G3.0@mPEG và G3.0@F127 duy trì tỷ lệ sống của tế bào $> 85–90%$ ở cùng nồng độ khảo sát, chứng minh lớp vỏ PEG và Pluronic đã triệt tiêu độc tính màng của hạt nano.
  • Hoạt tính ức chế enzyme pepsin: Dẫn xuất RTV sau khi nạp vào hệ nano G3.0@mPEG và G3.0@F127 vẫn giữ được khả năng ức chế mạnh enzyme pepsin tương đương với thuốc chuẩn tự do. Điều này khẳng định quá trình nạp thuốc và bao gói trong nano polymer không làm biến tính hay làm mất hoạt tính sinh học của các nhóm chức ức chế protease.

Kết luận và kiến nghị

Tóm tắt các kết quả thực nghiệm then chốt về tổng hợp, biến tính, đặc trưng hóa lý, thẩm định sắc ký và hiệu quả dẫn truyền; đề xuất các hướng phát triển tiếp theo về thử nghiệm tiền lâm sàng trên mô hình động vật.


Kết quả và những đóng góp mới

Những đóng góp mới về mặt khoa học và thực tiễn

  1. Chế tạo thành công hệ mang nano đa năng: Đã dẫn truyền thành công 4 hoạt chất ARV (AZT, 3TC, TDF và RTV) trên nền nano dendrimer PAMAM G3.0 biến tính bề mặt bằng hai polymer tương hợp sinh học là mPEG ($5.000\text{ Da}$) và Pluronic F127 ($12.600\text{ Da}$). Thiết lập thành công cả hệ mang đơn hoạt chất và hệ mang đồng thời các cặp thuốc phối hợp (AZT+3TC; TDF+RTV).
  2. Xác lập quy luật cấu trúc – dung lượng tải thuốc: Chứng minh thực nghiệm rằng hệ mang G3.0@F127 có dung lượng tải (%DLC) đối với các thuốc kém tan trong nước (TDF, RTV) cao hơn vượt trội so với hệ G3.0@mPEG. Luận án giải thích cơ chế: Chuỗi triblock của Pluronic F127 chứa 65 mắt xích propylen oxid (PO) có tính kỵ nước mạnh, tạo ra các khoang vi tương tác kỵ nước bao bọc lấy cấu trúc phân tử của TDF và RTV, từ đó làm tăng đáng kể lượng thuốc được đóng gói.
  3. Phát triển quy trình phân tích chuẩn hóa: Xây dựng và thẩm định thành công phương pháp sắc ký HPLC-PDA xác định đồng thời AZT, 3TC và đồng thời TDF, RTV trong nền chất mang nano polymer. Phương pháp đạt độ đặc hiệu cao, không bị ảnh hưởng bởi tá dược phân tử lượng lớn, cung cấp công cụ kiểm nghiệm đáng tin cậy cho các dạng bào chế nano ARV.
  4. Chứng minh hiệu quả phóng thích kéo dài và an toàn sinh học: Dữ liệu giải phóng in vitro qua 4 dải pH sinh lý (1,2; 4,5; 6,8; 7,4) xác nhận hệ nano có khả năng kiểm soát tốc độ nhả thuốc kéo dài. Thử nghiệm sinh học khẳng định việc biến tính bề mặt loại bỏ hoàn toàn độc tính gây chết tế bào fibroblast của PAMAM nguyên bản, đồng thời bảo toàn hoạt tính ức chế enzyme protease của hoạt chất.

Kiến nghị và giải pháp đề xuất

  • Cần tiếp tục nghiên cứu tối ưu hóa quy trình bào chế ở quy mô pilot nhằm đánh giá độ ổn định dài hạn của hệ nano dạng lỏng và dạng bột đông khô.
  • Đề xuất tiến hành các thử nghiệm dược động học in vivo trên động vật thực nghiệm (chuột hoặc thỏ) để kiểm chứng thời gian lưu thông trong tuần hoàn, mức độ tích lũy thuốc tại hạch bạch huyết và khả năng vượt qua hàng rào máu não của hệ mang G3.0@F127.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

Hạn chế của luận án

  • Luận án mới dừng lại ở các đánh giá in vitro (động học giải phóng trong túi thẩm tách qua 4 môi trường pH, độc tính tế bào trên dòng fibroblast và ức chế enzyme pepsin mô hình), chưa có điều kiện triển khai thử nghiệm dược động học, phân bố sinh học và hiệu lực kháng virus in vivo trên mô hình động vật nhiễm bệnh.
  • Mô hình đánh giá hoạt tính ức chế protease mới sử dụng enzyme pepsin làm đại diện thay thế; chưa thể trực tiếp thử nghiệm trên chủng virus HIV-1 sống do đòi hỏi nghiêm ngặt về cơ sở phòng thí nghiệm an toàn sinh học cấp 3 (BSL-3).

Hướng nghiên cứu tiếp

  • Mở rộng đánh giá độc tính bán trường diễn và khả năng gây đáp ứng miễn dịch của hạt nano biến tính trên động vật linh trưởng hoặc chuột nhắt trắng.
  • Hợp tác với các đơn vị y sinh chuyên sâu có phòng an toàn sinh học đạt chuẩn để thử nghiệm hiệu lực ức chế nhân bản của hệ ARV@G3.0@F127 trực tiếp trên các tế bào lympho TCD4 nhiễm virus HIV-1 lâm sàng phân lập tại Việt Nam.
  • Khảo sát khả năng gắn thêm các phối tử hướng đích (như kháng thể kháng gp120, CD4 tái tổ hợp hoặc peptid đặc hiệu) lên bề mặt G3.0 biến tính để đưa thuốc tập trung chính xác vào các ổ chứa virus.

Giá trị tham khảo

Đối tượng thụ hưởng

  • Nghiên cứu sinh và học viên cao học: Chuyên ngành Hóa hữu cơ, Hóa dược, Công nghệ Nano và Vật liệu Y sinh có thể sử dụng luận án như tài liệu tham khảo chi tiết về quy trình tổng hợp dendrimer phân nhánh và kỹ thuật hoạt hóa polymer ghép cộng hóa trị.
  • Giảng viên và nhà nghiên cứu dược phẩm: Cung cấp tư liệu thực nghiệm về thiết kế hệ phân phối thuốc tác dụng kéo dài và khắc phục nhược điểm hòa tan của các hoạt chất BCS nhóm II và IV.
  • Cán bộ kiểm nghiệm và quản lý dược: Cung cấp thông số thẩm định hoàn chỉnh của phương pháp HPLC-PDA ứng dụng trong việc tách và định lượng đồng thời nhiều hoạt chất ARV trong nền công thức nano phức tạp.

Các phần có giá trị tham khảo chuyên sâu

  • Quy trình tổng hợp lặp chu kỳ alkyl hóa/amid hóa từ G-0.5 đến G3.0 cùng bảng số liệu đối chiếu chi tiết giữa phổ thực nghiệm ($^{1}\text{H-NMR}$, FTIR, MS, GPC) và khối lượng phân tử lý thuyết.
  • Kỹ thuật hoạt hóa một đầu hoặc hai đầu của mPEG và Pluronic F127 bằng tác nhân p-nitrophenyl cloroformat (NPC).
  • Bộ số liệu thẩm định phương pháp sắc ký HPLC-PDA xác định đồng thời các cặp thuốc AZT+3TC và TDF+RTV theo tiêu chuẩn quốc tế.

Câu hỏi thường gặp

1. Tại sao tác giả lựa chọn dendrimer PAMAM thế hệ G3.0 mà không chọn các thế hệ cao hơn như G4.0 hay G5.0?

Dendrimer PAMAM thế hệ G3.0 có khối lượng phân tử lý thuyết 6.909 Da với 32 nhóm amin tự do ở bề mặt, kích thước cấu trúc khoảng $3–5\text{ nm}$. Cấu trúc này đủ độ chặt và tạo các khoang rỗng nano nội phân tử phù hợp để đóng gói dược chất. Các thế hệ cao hơn như G4.0 (64 nhóm amin) hay G5.0 (128 nhóm amin) có độc tính dung giải màng tế bào tăng lên gấp bội, phản ứng biến tính gắn polymer cồng kềnh gặp hiệu ứng cản trở không gian lớn dẫn đến phản ứng không hoàn toàn, đồng thời giá thành hóa chất và độ khó trong tinh chế tăng cao. Do đó, G3.0 là thế hệ cân bằng tối ưu giữa sức chứa thuốc, khả năng biến tính bề mặt và an toàn sinh học.

2. Sự khác biệt cơ bản về khả năng mang thuốc giữa hệ biến tính G3.0@mPEG và G3.0@F127 là gì?

Hệ G3.0@mPEG mang các chuỗi mPEG ưa nước thuần túy, chủ yếu hỗ trợ phân tán hạt nano trong môi trường nước và bao gói các thuốc tan tốt trong nước (như AZT, 3TC) nhờ liên kết hydro và tương tác tĩnh điện. Ngược lại, hệ G3.0@F127 sử dụng Pluronic F127 là polymer đồng trùng hợp triblock có 65 nhóm propylen oxid (PO) kỵ nước ở trung tâm. Khối PPO này tạo ra vi môi trường kỵ nước bổ sung bên ngoài khung dendrimer, giúp hệ G3.0@F127 đạt hiệu suất (%DLE) và dung lượng nạp (%DLC) cao vượt trội đối với các thuốc kém tan/kỵ nước như TDF (52,6% so với 35,4%) và RTV (58,4% so với 38,8%).

3. Bốn hoạt chất AZT, 3TC, TDF và RTV được lựa chọn dựa trên cơ sở khoa học nào?

Bốn hoạt chất này được lựa chọn dựa trên hai tiêu chí:

  • Dược lý lâm sàng: Cả 4 thuốc đều nằm trong phác đồ điều trị HIV/AIDS bậc một ưu tiên của Bộ Y tế Việt Nam (Quyết định số 5968/QĐ-BYT). Trong đó AZT, 3TC, TDF đại diện cho nhóm NRTI ức chế sao chép ngược, còn RTV đại diện cho nhóm ức chế men protease (PI). RTV liều thấp còn đóng vai trò chất ức chế men gan CYP3A4 giúp duy trì nồng độ các thuốc phối hợp trong máu.
  • Đặc tính hóa lý: Đại diện cho hai nhóm độ tan đối lập: AZT và 3TC tan tốt trong nước, trong khi TDF và RTV là các chất khó tan hoặc không tan trong nước. Điều này giúp kiểm chứng toàn diện khả năng dẫn truyền đa dạng của hai hệ chất mang nano.

4. Vai trò của việc thẩm định phương pháp HPLC-PDA đồng thời các cặp hoạt chất là gì?

Thuốc điều trị HIV bắt buộc phải dùng dưới dạng phác đồ phối hợp nhiều chất để tránh đột biến kháng thuốc. Trong hệ mang nano kết hợp (AZT+3TC hoặc TDF+RTV), các dược chất cùng tồn tại trong một thể tích hạt nano cùng với lượng lớn tá dược polymer (PAMAM, mPEG, Pluronic). Phương pháp HPLC-PDA được xây dựng và thẩm định đầy đủ nhằm chứng minh tính đặc hiệu (pic hoạt chất tách sắc ký hoàn toàn, không bị chồng lấp bởi tá dược hay chất mang), bảo đảm độ chính xác, độ lặp lại và độ đúng khi định lượng đồng thời hai hoạt chất trong cùng một mẫu phân tích mà không cần phải thực hiện các bước chiết tách phức tạp.

5. Kết quả thử nghiệm độc tính trên tế bào nguyên bào sợi (fibroblast) chứng minh điều gì?

Dendrimer PAMAM nguyên bản chưa biến tính làm giảm mạnh tỷ lệ sống của tế bào do các nhóm $-\text{NH}_2$ tích điện dương phá hủy màng tế bào. Kết quả thử nghiệm cho thấy sau khi được biến tính tạo liên kết carbamat với mPEG và Pluronic F127, tỷ lệ tế bào fibroblast sống sót được duy trì ở mức cao ($> 85–90%$). Điều này chứng minh quá trình biến tính đã che chắn thành công các điện tích dương bề mặt, loại bỏ độc tính tế bào của dendrimer và xác nhận độ an toàn sinh học của hệ vật liệu dẫn truyền.


Kết luận

Luận án của nghiên cứu sinh Nguyễn Thị Thịnh đã thực hiện thành công quy trình tổng hợp dendrimer PAMAM từ thế hệ G-0.5 đến G3.0 và biến tính bề mặt bằng hai polymer tương hợp sinh học mPEG ($5.000\text{ Da}$) và Pluronic F127 ($12.600\text{ Da}$). Công trình đã chứng minh tính ưu việt của hệ G3.0@F127 trong việc nâng cao dung lượng tải các thuốc ARV kỵ nước (TDF, RTV) nhờ sự hiện diện của 65 nhóm PO, đồng thời xây dựng thành công quy trình sắc ký HPLC-PDA định lượng đồng thời các hoạt chất trong hạt nano. Các kết quả giải phóng kéo dài qua 4 dải pH, độ an toàn cao trên tế bào fibroblast và việc bảo tồn hoạt tính ức chế protease khẳng định tiềm năng to lớn của hệ nano PAMAM biến tính trong định hướng phát triển các chế phẩm điều trị HIV phối hợp tác dụng kéo dài tại Việt Nam.