Chương 1 TỎNG QUAN TÀI LIỆU 1.1 Giới thiệu về cây xoài 1.1 Nguồn gốc và phân bố Xoài (Mangifera indica L.) là loại quả hạch, thuộc họ Đào lộn hạt. Xoài là cây ăn quả nhiệt đới, phần lớn các tác giả đều cho rằng nguồn gốc cây xoài ở miền Đông An Độ. Trên thé giới hiện nay có 87 nước trồng xoài với diện tích khoảng 1,8 — 2,2 triệu ha. Vùng Châu Á chiếm 2/3 diện tích trồng xoài trên thế giới, trong đó đứng đầu là Ấn Độ (chiếm gần 70% sản lượng xoai thế giới với 9,3 triệu tan), Thai Lan, Pakistan, Philippin va Mién Nam Trung Quốc, Zimbabwe, Ghi-né, Congo, Nam Phi, Keynia, Mozambique, Mali, Ai Cap, Brazin, Mexico, Hoa Ky.
Ngoai ra, xoai con được trồng ở vùng ven biển nước Úc (Nguyễn Tiến Huynh va ctv, 2014). Ở Việt Nam, xoài được trồng từ Nam chí Bắc, vùng trồng xoài tập trung là từ Bình Định trở vào nhiều nhất là các tỉnh Đồng bằng sông Cửu Long như: Tiền Giang (trên 6.000 ha), Đồng Tháp, Vinh Long, Can Thơ (Nguyễn Văn Ké, 2020).2 Giá trị dinh dưỡng và kinh tế xoài Quả xoài chín có màu vàng, có vị chua ngọt, mùi thơm ngon được nhiều người ưa thích. Giá trị dinh dưỡng của xoài theo phân tích của các tác giả Ấn Độ: tỷ lệ thịt quả 70% so với trọng lượng quả, hạt chiếm 13%, tổng số chất tan (đo bằng chiết quang kế cầm tay) 16%, độ chua 0,2% so với acid citric, đường tổng số 11 — 12%, giá tri nhiệt lượng 100 g là 70 Calo. Xoài giàu vitamin A, B2 và C.
Đặc biệt là vitamin A, trong 100 g ăn được có đến 4,8 mg. Ngoài ra còn có các loại muối khoáng K, Ca, P, S, Cl. Quả được sử dụng rộng rãi cả quả chín và qua già còn xanh dưới nhiều hình thức: ăn tươi, nước giải khát, lên men làm rượu, làm giấm, xoài chín được ăn tươi, đóng hộp, làm nước trái cây, mứt kẹo, kem, sấy khô để tiêu thụ nội địa hay xuất khẩu. Nhân 3 hạt xoài làm thuốc sát trùng, cũng có thé chế biến tinh bột.
Hoa dùng làm thuốc và là nguồn mật rất tốt. Lá non có thể cho trâu bò ăn và làm thuốc nhuộm màu vàng. Từ nước dãi của trâu bò ăn lá xoài có thê chiết xuất ra loại thuốc nhuộm màu vàng có giá trị. Tiềm năng thương mại của xoài rất lớn.
Các sản phẩm từ xoài rất đa dạng (Nguyễn Tiến Huyền, 2014). Sản xuất xoài đã xuất hiện ở hơn 90 quốc gia trên toàn thé giới. Mặc dù trên san thương mại quốc tế chỉ có 1 tỉ lệ nhỏ xoài được sản xuất nhưng lượng giao dịch đã tăng lên từ cuối những năm 1990. Những yếu t6 gây ra việc tăng sản lượng, thương mại và tiêu thụ xoài gồm có giá thấp hơn, xoài sẵn có quanh năm, ít rào cản thương mại trồng trọt ngoài ra còn có những yếu tố từ người tiêu dùng như thay đôi sở thích tiêu dùng thực phẩm, thời hạn sử dụng lâu hơn đối với các loại thực phâm dễ hỏng va sự quan tâm của người tiêu dùng đối với thực phẩm lành mạnh hơn (Evans và Mendoza, 2009).
Xoài là cây trồng cho hiệu quả kinh tế cao (Nguyễn Văn Tuyến, 2012).2 Đặc tính thực vật của cây xoài 1.1 Rễ Rễ có thé ăn sâu tới 6 — 8 m và lan xa tới 9 m nhưng phan lớn tập trung ở tầng đất 0 — 50 em và tập trung trong phạm vi cách gốc 2 m. Sự phân bố của rễ cần phụ thuộc vào đặc điểm và độ ẩm của đất. Do có bộ rễ phát triển nên xoài là cây chịu hạn rất tốt (Nguyễn Văn Kế, 2020).2 Thân, tán Cây xoài thuộc cây đại mộc, tán rộng, cây trồng bằng hạt có thé cao tới 30 — 40 m và có thê sông rất lâu từ 100 — 300 năm. Tuy nhiên, cây ghép có tán hẹp và thấp (10 — 15 m), cây lại mau cỗi.
Tan cây xoài có dang tán hình cầu, cành nhiều, thân san sùi với các vết nứt dọc theo thân (Nguyễn Văn Kế, 2020).3 Lá Lá đơn, mọc cách, cuống dai từ 1 — 12 cm, dai 15 — 40 cm, rộng 5 — 7,5 cm mọc trên các long ngắn và mọc nhiêu hon trên các cành có hoa. Hình dang và kích thước lá khác nhau tùy giống với đỉnh lá từ tròn đến nhọn (Nguyễn Văn Kế, 2020). 4 Lá mọc thành từng đợt gọi là kỳ phot dot hay kỳ xuất lá. Mỗi năm có từ 2 — 4 kỳ ra lá.
Cứ một kỳ xuất lá lại có một kỳ nghỉ, mỗi kỳ xuất lá làm đọt ra dài ra 20 — 60 em. Mầm đọt nở ra chậm cho tới khi có vài lá cuối mầm xuất hiện rồi bất chợt trong một vải ngày một chùm từ 7 — 12 lá mọc ra va lớn nhanh. Lá non có màu đỏ tím, hồng và mềm nên gọi giai đoạn này là “lá lụa”. Khoảng 15 ngày sau nó có màu xanh lợt thì mới bắt đầu quang hợp, trong thời gian đó lá dài rộng đầy đủ và khoảng một tháng sau mới xanh cứng.
Những lá già hơn 8 tháng tuổi thi không còn quang hợp nữa, lá ăn bám và chờ rụng (Nguyễn Văn Kế, 2020). Sự kiểm soát cơi đọt và màu lá khá quan trọng trong việc sử dụng các thuốc kích thích ra hoa. Đường kính cơi đọt to, số lá nhiều, các cơi đọt không mọc quá dày thường sẽ cho hoa quả tốt hơn (Nguyễn Văn Kế, 2020).4 Hoa, quả và hạt Cây xoài trồng bằng hạt sau 6 — 8 năm mới ra hoa, xoài bưởi nhanh hơn (2,5 — 3 năm). Hiện nay, đa số trồng bằng cây ghép mắt nên thông thường sau 3 — 4 năm là ra hoa.
Ở vùng Đồng bằng sông Cửu Long, xoài ra hoa từ tháng 12 đến tháng 3. Chùm hoa mọc trên ngọn cành đã phát triển đầy đủ những năm trước (Nguyễn Văn Ké, 2020). Một phát hoa xoài có nhiều nhánh với khoảng từ 500 — 7.000 cái hoa, phần lớn hoa đực, một ít hoa lưỡng tính chiếm từ 1 — 36% tùy giống. Hoa lưỡng tính thường nằm ở ngọn phát hoa, hoa nhỏ có 5 cánh màu trắng hoặc tím hồng, 5 đài hoa màu xanh và một bầu noãn có tiêu noãn.
Hoa đực có 5 nhị đực gồm có 1 phan va 4 bat thu. Phan dính khó tung nên chi thụ phan chủ yếu nhờ côn trùng và gió. Tỷ lệ thụ phan cao khi trời nóng và khô (Nguyễn Văn Kế, 2020). Xoài thuộc loại quả nhân cứng (drupe) với 1 hạt đơn giữa phan thịt mềm.
Quả nặng từ 0,1 — 1 kg. Dạng quả từ hình dài đến hình tròn đến hơi dai tùy giống, qua tròn (xoài hòn), bầu dục (xoài cát), dai (xoài tượng). Vỏ quả chín có mau vàng đến đỏ. Tỷ lệ đài quả/ bề ngang quả quyết định hình đạng quả (Nguyễn Văn Kế, 2020).
Hạt có bao cứng, nhiều xơ, bên trong có 2 tử diệp và phôi. Các giống xoài Việt Nam thường đa phôi, mang 2 — 12 phôi vô tính và có thé có một hay không có phôi 5 hữu tính nhờ đó hạt xoài gieo có thể có 1 — 5 cây con và thường là vô tính phát triển mạnh, còn cây hữu tính thì nhỏ, mọc yếu ớt, đễ bị lắn át (Nguyễn Văn Kế, 2020).3 Yêu cầu sinh thái đối với cây xoài Vùng xoài trên thế giới nằm trong vùng nhiệt đới và một phần trong vùng cận nhiệt đới nóng âm. Giới hạn thấp là nhiệt độ bình quân năm 15°C và tối thấp tuyệt đối không quá 2 — 4°C. Nhiệt độ thích hợp nhất là 24 — 26°C.
Xoài có thé chịu đựng được nhiệt độ cao 44 — 45°C miễn là được cung cấp nước day đủ. Xoài có thé sinh trưởng tốt không cần tưới ở những vùng có lượng mưa 500 — 4.000 mm, tốt nhất là 1200 — 2. Nếu mưa phân bó đều chỉ cần 900 — 1.000 mm/năm cũng có thé trồng xoài có hiệu quả kinh tế. Trồng xoài đòi hỏi có một mùa khô dé giúp cho cây phân hoá mam hoa được thuận lợi.
Các nhà khoa học cho rằng dé cây thường xuyên cho quả cần có mùa khô kéo đài không lớn hơn 3 tháng (Nguyễn Tiến Huyền, 2014). Xoài phát triển được trên nhiều loại đất, phát triển tốt trên đất phù sa ven sông như ở đồng bằng sông Cửu Long, nhưng nên tránh những đất nhiều đá. Mực thủy cấp cần sâu > 1 m, sâu 3 — 4 m là có lợi cho tuổi thọ của cây. Tuy thế, nhiều giống xoài chịu úng rất khá như xoài bưởi.
Độ pH thích hợp từ 5,5 — 7,5. Trên 7,5 sẽ có hiện tượng thiếu Fe và Zn. Nhiều nông dân trồng xoài ngay trên đất phèn (pH: 4,0 - 4,5) cây van phát triển được (Nguyễn Văn Kế, 2020). Cây phát triển tốt khi có ánh sáng đầy đủ.
Vì xoài ra hoa và quả ở đầu cành (bên ngoài cây) nên quả phát triển tốt nhất khi cành nhận ánh sáng đầy đủ (Nguyễn Văn Ké, 2020).4 Kỹ thuật trồng và chăm sóc 1.1 Chuẩn bị đất Trên đất thấp phải lên liếp, hay trồng trên mô, lúc đầu mô có thé chỉ rộng chừng 0,6 — 1 m cao từ 30 — 60 cm so với mặt nước trong ruộng lúa. Sau này bồi mô và làm liép dần dan. Trên đất thấp đào hồ kích thước 40 x 40 x 40 cm, bón lót 10 — 20 kg phân chuồng hoai và khoảng 200 g NPK hoặc 0,5 kg lân. Trên đất cao hồ thường lớn hơn, độ cao 60 — 70 cm mỗi bề, bón lót 20 — 20 kg phân chuồng khi có thé và 0,5 — 1 kg lân (Nguyễn Văn Kế, 2020).2 Khoảng cách Khoảng cách trồng phụ thuộc vào nhiều yếu tô như đất đai, phương thức nhân giống.
Cây trồng bang hạt trồng thưa hơn cây ghép vi tan to và tuổi thọ lâu hơn. Khoảng cách sau khi đã ồn định biến động 7 — 10 m trên đất thấp, trên đất cao 9 — 12 m. Cũng có thê trồng dày gấp đôi rồi tia dần đi hoặc 5 — 6 năm đầu xen canh chuối, chanh, đu đủ, thơm và các loại rau. Tại Thái Lan, trên đất thấp, khoảng cách lúc mới đặt cây là 2,5 m x 2,5 m, sau tỉa tạo tán và tỉa thưa dần.
Tất nhiên việc trồng dày phải đi kèm theo các giải pháp tạo tỉa, bằng không cây mau giao tán sẽ ra ít quả và sâu bệnh nhiều (Nguyễn Văn Kế, 2020).3 Thời vụ Nên trồng đầu mùa mưa, có thể trồng vào mùa khô nếu tưới được. Thời vụ trồng thay đổi theo địa phương, ở một số nơi bị ảnh hưởng lũ nên thường xuống giống sau khi nước rút (Nguyễn Văn Kế, 2020).4 Bón phần Theo Nguyễn Văn Kế (2020) Lượng phân bón thay đổi theo đất tốt hay xấu. Tốt nhất nên bón làm nhiều lần và mỗi lần một ít để tránh rửa trôi và mất mát đo bốc hơi.