Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1. Yêu cầu sinh thái và dinh dưỡng của cây đậu tương 1. Yêu cầu sinh thái cây đậu tương 1. Nhiệt độ Kết quả nghiên cứu của Lawn et al., (1985)[85] tổng tích ôn của đậu tương thay đổi phụ thuộc vào đặc điểm của giống.
Tổng tích ôn của giống đậu tương chín sớm có thời gian sinh trưởng từ 75 - 80 ngày cần khoảng 1700 - 22000C, giống đậu tương chín muộn có thời gian sinh trưởng từ 140 - 160 ngày cần khoảng 3200 - 38000C. Cây đậu tương có thể sinh trưởng phát triển ở khoảng nhiệt độ khá rộng từ 10 - 400C, nhưng nhiệt độ khoảng 200C là lý tưởng cho cả quá trình. Theo Lawn et al., (1985)[85] thời gian từ gieo đến ra hoa của đậu tương trung bình từ 35 - 45 ngày nếu nhiệt độ thường xuyên là 24 - 260C, khi nhiệt độ thấp hơn 200C thì thời gian từ gieo đến ra hoa có thể kéo dài tới 50 đến 60 ngày. Thời kỳ hình thành quả và quả mẩy của đậu tương nhiệt độ thích hợp từ 28 - 370C, nhiệt độ thấp hơn 180C hoặc cao hơn 380C ảnh hưởng nghiêm trọng đến tỷ lệ đậu quả, khả năng vận chuyển các chất dinh dưỡng về hạt làm cho chất lượng hạt đậu tương kém.
Nhìn chung, thời kỳ ra hoa và làm quả của đậu tương nếu gặp rét tỷ lệ rụng hoa cao và giảm khả năng hình thành quả. Nhiệt độ trung bình tại các vùng Đồng bằng và Trung du miền núi phía Bắc là 230C, đạt thấp nhất ở tháng 1 (15 – 170C), tăng dần và đạt cao nhất ở tháng 6 và 7 (25 – 300C), sau đó giảm dần đến tháng 12 (15 – 180C) dẫn theo nguồn số liệu Niên giám thống kê Việt Nam, (2018). Như vậy có thể nói nhiệt độ của vùng Đồng bằng và Trung du miền núi phía Bắc đều thích hợp cho cây đậu tương sinh trưởng và phát triển trong cả 3 vụ/năm. Ánh sáng Nhu cầu ánh sáng của cây đậu tương: Đậu tương là cây rất nhạy cảm với cường độ chiếu sáng, cường độ chiếu sáng thích hợp nhất là 150.
Đậu tương bão hòa ánh sáng ở cường độ 23.680 lux (20% ánh sáng mặt trời buổi trưa), quá trình phân hóa mầm hoa khi cường độ ánh sáng đạt trên 1. Yêu cầu số giờ nắng trung bình cho các thời kỳ sinh trưởng của cây đậu tương như sau: Gieo 5 hạt - mọc mầm: 5,0 - 5,5 giờ/ngày; mọc mầm - ra hoa: 4,5 - 5,0 giờ/ngày; ra hoa - chín: 4,0 - 5,0 giờ/ngày. Số giờ nắng ít hơn những giá trị này đều bất lợi cho cây đậu tương sinh trưởng và phát triển. Theo Hà Thị Thanh Đoàn và cs., (2017)[15] cây đậu tương là một cây ngày ngắn, có phản ứng chặt chẽ với độ dài ngày.
Các giống khác nhau có phản ứng với độ dài ngày khác nhau, mỗi giống có yêu cầu độ dài ngày nhất định để ra hoa kết quả. Cường độ ánh khoảng 20- 30% của cường độ ánh sáng mặt trời ở buổi trưa là đủ cho cây đậu tương có thể sinh trưởng bình thường, do vậy cây đậu tương có thể trồng xen với nhiều loại cây trồng khác. Nhưng ở kết quả của Lawn et al., (1985)[85] khi cường độ ánh sáng giảm 50% so với bình thường sẽ làm giảm số cành, số đốt mang quả và có thể giảm tới 50% năng suất của đậu tương. Dựa vào niên giám thống kê Việt Nam cho thấy tại vùng Đồng bằng và Trung du miền núi phía Bắc có sự biến đổi về số giờ nắng trung bình/tháng như sau: Từ tháng 2 – 6, số giờ nắng/tháng tăng dần và giảm dần từ tháng 6 – 12.
Số giờ nắng trong năm trung bình từ 1350 – 1950 giờ. Tháng 7, 8 có số giờ nắng cao nhất là 140 – 190 giờ, tháng 2 và tháng 12 có giờ nắng thấp nhất 45 – 151 giờ. Số giờ nắng trung bình ngày từ tháng 2 đến tháng 10 là 4 – 5 giờ/ngày [58], [59], [60]. Nước Hạt đậu tương nảy mầm khi hàm lượng nước đạt 50% khối lượng của hạt và độ ẩm của đất đạt từ 65 - 75% độ ẩm tối đa đồng ruộng.
Thời kỳ làm quả của đậu tương có nhu cầu nước cao nhất, phần lớn sự biến động về năng suất của đậu tương là do sự biến động về lượng nước cung cấp cho cây ở giai đoạn làm quả. Khi bị hạn trong giai đoạn làm quả thì hạt không hình thành được hoàn chỉnh, bộ lá bị rụng sớm, quá trình vận chuyển dinh dưỡng về hạt bị cản trở và thời gian sinh trưởng của đậu tương bị rút ngắn. Ngoài ra, độ ẩm của không khí có vai trò quan trọng trong quá trình tích lũy chất khô về hạt, độ ẩm không khí ngày/đêm là 47%/45% làm giảm tới 21% năng suất đậu tương so với độ ẩm 81%/84%, nguyên nhân do sự tích lũy chất khô giảm, tỷ lệ rụng hoa và rụng quả tăng. Kết quả nghiên cứu của Viện Khoa học Kỹ thuật Nông nghiệp Việt Nam (1986) cho thấy: Lượng nước cần tưới đáp ứng đủ cho nhu cầu của cây đậu tương khoảng 6 2200 m3/ha/vụ và năng suất đậu tương không sai khác khi tưới lượng nước 2163 m3/ha và 2413 m3/ha, nhưng tưới lượng nước 2030 m3/ha thì có thể giảm 58,4% năng suất.
Đất trồng Cây đậu tương trồng được trên nhiều loại đất khác nhau: Đất sét, đất cát pha, đất thịt, đất đỏ bazan, đất nâu xám, đất nương rẫy vùng đồi núi, đất sau thu hoạch lúa xuân, lúa mùa. Trên đất cát cây đậu tương thường cho năng suất không ổn định. Trên đất thịt nặng cây đậu tương khó mọc nhưng sau khi mọc nó thích ứng tốt hơn so với nhiều loài cây màu khác [15]. Năng suất của đậu tương đạt cao nhất khi độ chua (pHKCl) của đất đạt 6,5; khi đất có độ chua là 5 năng suất có thể giảm 37%.
Vùng có khí hậu nhiệt đới, với loại đất có thành phần cơ giới nặng có độ chua từ 5,5 - 6,5 và loại đất có thành phần cơ giới nhẹ độ chua từ 5 - 5,5 là thích hợp cho cây đậu tương. Ở Việt Nam, phần lớn trên các loại đất có độ chua từ 5,2 - 7,0 nên đều thích hợp cho cây đậu tương phát triển, hình thành nốt sần [15]. Yêu cầu dinh dưỡng cây đậu tương 1. Nhu cầu về phân đạm Trong kết quả nghiên cứu của Vũ Tiến Bình, Nguyễn Việt Long, (2015) [5] cho thấy đạm là yếu tố dinh dưỡng quan trọng nhất của cây đậu tương.
Trong cây đạm tích lũy khá nhiều ở thời kỳ đầu nhưng nhu cầu đạm lớn nhất vào thời kỳ ra hoa, đặc biệt là giai đoạn hoa rộ đến quả mầy. Đạm trong cây phần lớn do vi khuẩn nốt sần cộng sinh ở hệ rễ cung cấp. Nó có thể đáp ứng 60 – 70% lượng đạm cây cần. Nguồn đạm này được tăng khi cây có từ 3 lá thật và đạt tối đa khi cây ra hoa rộ sau đó giảm dần.
Bón nhiều đạm quá cây nhiều NH4+ và NO3- làm cho màng lông hút dày do cản trở sự xâm nhập của vi khuẩn nốt sần. Do vậy, bón đạm làm cho cây có hiệu quả và hợp lý nhất là bón sớm và bón ít. Nhu cầu về phân Lân Kết quả nghiên cứu của Trần Văn Điền (2001) [14] chỉ ra rẳng phân lân có tác dụng xúc tiến sự hành thành phát triển bộ rễ, hình thành nốt sần và các cơ quan sinh sản: hoa, quả, hạt. đủ lân số lượng kích thước số nốt sần tăng rõ rệt, quả chắc tăng, số hạt và khối lượng hạt tăng.
Cây hút lân suốt quá trình sinh trưởng của cây chủ yếu thời kỳ đầu. Thời kỳ cuối lân chuyển từ thân, lá về quả và hạt. Thiếu lân cây nhỏ, sinh trưởng chậm, lá hẹp, đầu lá nhọn và cong lên có màu xanh tối, mặt lá có chấm nâu. Thiếu lân nghiêm trọng thân có màu đỏ, rễ có màu nâu, ít hoa và quả.
Nhu cầu về phân kali Kali có vai trò quan trọng trong trao đổi đạm, chuyển hóa gluxit, cân bằng nước, tổng hợp protein, tăng tính chống chịu cho cây như hàng loạt các phản ứng trong cây. Thiếu kali ở cây non và già, mép lá bị cháy, lá bị cong lên trên. Cây hút kali trong suốt quá trình sinh trưởng của cây nhưng cần nhiều ở thời kỳ ra hoa. Thời kỳ cuối kali chuyển từ thân, lá về quả và hạt thể hiện trong tài liệu Nguyễn Thị Lan Anh và Nguyễn Thu Hà, (2019)[3].
Nhu cầu về phân Canxi và các loại phân vi lượng khác Canxi có tác dụng điều chỉnh độ pH của đất, cung cấp Ca2+ cho cây, tạo điều kiện cần thiết cho các hoạt động của bi khuẩn nốt sần và trao đổi đạm của cây. Trong số các nguyên tố vi lượng quan trọng hơn cả là nguyên tố Mo và B. Mo cần cho sự hoạt động của vi khuẩn nốt sần và trao đổi đạm của cây, các loại đất chua đất nhiều nhôm thường thiếu Mo. B cần thiết cho sự phát triển của nốt sần, tăng tỷ lệ đậu hoa, đậu quả đồng thời tăng khối lượng và kích thước của hạt (Nguyễn Thị Lan Anh, Nguyễn Thu Hà, 2019)[3].
Yêu cầu sinh thái và dinh dưỡng cây bưởi Diễn 1. Yêu cầu sinh thái cây bưởi Diễn 1. Nhiệt độ: Theo kết quả của Nguyễn Hữu Thọ, (2015)[35], cây bưởi Diễn có thể sống và phát triển ở nhiệt độ 13 - 39oC, nhưng thích hợp nhất là 23 - 29oC. Dưới 13oC và trên 40oC thì sự sinh trưởng ngừng lại, dưới âm 5oC cây chết.
Theo Nguyễn Văn Vượng, (2018), nhiệt độ ảnh hưởng đến phẩm chất và sự phát triển trái của cây có múi. Thường ở nhiệt độ cao, trái chín sớm, ít xơ và ngọt, nhưng khà năng cất giữ kém và màu sắc trái chín không đẹp (ở nhiệt độ thấp các sắc tố hình thành nhiều hơn). Ở miền Nam thường có biên độ nhiệt giữa ngày và đêm không cao nên khi chín vỏ trái thường còn màu xanh, tuy nhiên yếu tố tạo màu sắc khi chín còn ảnh hưởng bởi giống trồng [46]. Ánh sáng Nhu cầu ánh sáng của cây bưởi Diễn: Cây bưởi Diễn không thích hợp với ánh sáng trực tiếp, cường độ ánh sáng thích hợp nhất cho cam quít khoảng 10.
Lượng mưa Cây bưởi Diễn nhu cầu ít nhất là 875mm trong trường hợp không tưới. Nhiều tác giả cho rằng lượng mưa thích hợp cây có múi từ 1000 - 1400mm/năm và phân phối đều. Ở Việt Nam lượng mưa trung bình hàng năm từ 1500 mm - 1800 mm. Nhưng có hai mùa mưa nắng nên vào mùa nắng phải tưới, vào mùa mưa phải có biện pháp chống úng [46].