Luận án tiến sĩ: Nghiên cứu biện pháp kỹ thuật trồng đậu tương xen bưởi diễn tại Bắc Giang

Luận án tiến sĩ kỹ thuật phân tích nghiên cứu một số biện pháp kỹ thuật trồng đậu tương xen với cây bưởi diễn tại tỉnh bắc giang, xây dựng cơ sở lý luận, kiểm chứng thực nghiệm,

Chuyên ngành

Khoa học cây trồng

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

luận án tiến sĩ

2023

243
1
0

Phí lưu trữ

55 Point

Tóm tắt

I. Giới thiệu về nghiên cứu

Nghiên cứu này tập trung vào việc phát triển các biện pháp canh tác nhằm tối ưu hóa việc trồng đậu tương xen với cây bưởi Diễn tại tỉnh Bắc Giang. Đậu tương, một loại cây họ đậu, không chỉ có giá trị kinh tế cao mà còn có khả năng cải tạo đất thông qua việc cố định Nitơ. Việc trồng xen này không chỉ giúp tăng năng suất mà còn cải thiện chất lượng đất, giảm thiểu cỏ dại và sâu bệnh. Theo số liệu từ Tổng cục thống kê, diện tích cây ăn quả tại Bắc Giang đã tăng đáng kể, trong đó bưởi Diễn là một trong những cây trồng chủ lực. Việc nghiên cứu các kỹ thuật trồng cây phù hợp sẽ giúp nâng cao hiệu quả sản xuất nông nghiệp bền vững.

1.1. Tính cấp thiết của đề tài

Tại Bắc Giang, diện tích trồng cây ăn quả, đặc biệt là bưởi Diễn, đang gia tăng nhanh chóng. Tuy nhiên, trong giai đoạn kiến thiết cơ bản, diện tích đất trống chưa được sử dụng hiệu quả. Việc trồng đậu tương xen với bưởi Diễn không chỉ giúp tận dụng đất mà còn cải thiện năng suất cây trồng. Theo nghiên cứu của Hà Thị Thanh Đoàn và cộng sự (2017), cây đậu tương có khả năng cải tạo đất rất tốt, giúp tăng cường độ phì nhiêu của đất. Điều này đặc biệt quan trọng trong bối cảnh nông nghiệp hiện đại, nơi mà việc sử dụng đất hiệu quả là một trong những yếu tố quyết định đến thành công của sản xuất nông nghiệp.

II. Phương pháp nghiên cứu

Nghiên cứu được thực hiện thông qua việc xác định các giống đậu tương phù hợp với điều kiện trồng xen cây bưởi Diễn. Các phương pháp nghiên cứu bao gồm khảo sát thực địa, thí nghiệm đồng ruộng và phân tích số liệu. Các chỉ tiêu sinh trưởng của cây đậu tương như chiều cao cây, số cành cấp 1, chỉ số diện tích lá (LAI) và khối lượng chất khô được theo dõi và đánh giá. Bên cạnh đó, nghiên cứu cũng xem xét ảnh hưởng của mật độ trồng và lượng phân bón đến năng suất và chất lượng của giống đậu tương. Kết quả từ các thí nghiệm này sẽ cung cấp cơ sở khoa học cho việc xây dựng mô hình trồng xen hiệu quả tại Bắc Giang.

2.1. Xác định giống đậu tương

Việc lựa chọn giống đậu tương phù hợp là rất quan trọng trong nghiên cứu này. Các giống như ĐT32 và ĐT51 được lựa chọn để thử nghiệm do khả năng sinh trưởng tốt và năng suất cao. Nghiên cứu sẽ đánh giá khả năng thích nghi của các giống này khi trồng xen với cây bưởi Diễn. Theo Khan et al. (2018), mật độ trồng thích hợp có thể cải thiện cấu trúc quần thể thực vật, từ đó nâng cao năng suất. Việc xác định thời vụ trồng cũng là một yếu tố quan trọng, ảnh hưởng đến sự phát triển và năng suất của cây đậu tương.

III. Kết quả nghiên cứu

Kết quả nghiên cứu cho thấy việc trồng đậu tương xen với bưởi Diễn tại Bắc Giang mang lại nhiều lợi ích. Các chỉ tiêu sinh trưởng của cây đậu tương như chiều cao, số cành cấp 1 và khối lượng chất khô đều đạt kết quả khả quan. Năng suất của các giống đậu tương cũng được cải thiện đáng kể khi trồng xen. Đặc biệt, việc trồng xen không chỉ giúp tăng năng suất mà còn cải thiện chất lượng đất, giảm thiểu sâu bệnh. Theo nghiên cứu, việc áp dụng các biện pháp canh tác hợp lý sẽ giúp nâng cao hiệu quả kinh tế cho người nông dân.

3.1. Tác động đến cây bưởi Diễn

Việc trồng xen đậu tương không chỉ có lợi cho cây đậu mà còn ảnh hưởng tích cực đến cây bưởi Diễn. Nghiên cứu cho thấy cây bưởi phát triển tốt hơn khi có sự hiện diện của cây đậu tương, nhờ vào việc cải thiện dinh dưỡng đất và giảm cỏ dại. Điều này cho thấy rằng việc áp dụng mô hình trồng xen có thể là một giải pháp bền vững cho nông nghiệp tại Bắc Giang, giúp tăng cường sản xuất và bảo vệ môi trường.

IV. Kết luận và kiến nghị

Nghiên cứu đã chỉ ra rằng việc trồng đậu tương xen với bưởi Diễn tại Bắc Giang là một phương pháp canh tác hiệu quả, giúp tăng năng suất và cải thiện chất lượng đất. Các biện pháp canh tác được đề xuất trong nghiên cứu này có thể được áp dụng rộng rãi trong sản xuất nông nghiệp tại địa phương. Để đạt được hiệu quả tối ưu, cần tiếp tục nghiên cứu và hoàn thiện các kỹ thuật trồng xen, đồng thời tăng cường công tác tuyên truyền, hướng dẫn cho nông dân về lợi ích của mô hình này.

4.1. Đề xuất cho nông dân

Nông dân cần được hướng dẫn cụ thể về cách thức trồng xen, lựa chọn giống và thời vụ trồng phù hợp. Việc áp dụng các kỹ thuật trồng cây tiên tiến sẽ giúp nâng cao năng suất và chất lượng sản phẩm. Đồng thời, cần có sự hỗ trợ từ các cơ quan chức năng trong việc cung cấp thông tin và tài liệu liên quan đến mô hình trồng xen này.

07/02/2025

Trích đoạn nội dung tài liệu

Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1. Yêu cầu sinh thái và dinh dưỡng của cây đậu tương 1. Yêu cầu sinh thái cây đậu tương 1. Nhiệt độ Kết quả nghiên cứu của Lawn et al., (1985)[85] tổng tích ôn của đậu tương thay đổi phụ thuộc vào đặc điểm của giống.

Tổng tích ôn của giống đậu tương chín sớm có thời gian sinh trưởng từ 75 - 80 ngày cần khoảng 1700 - 22000C, giống đậu tương chín muộn có thời gian sinh trưởng từ 140 - 160 ngày cần khoảng 3200 - 38000C. Cây đậu tương có thể sinh trưởng phát triển ở khoảng nhiệt độ khá rộng từ 10 - 400C, nhưng nhiệt độ khoảng 200C là lý tưởng cho cả quá trình. Theo Lawn et al., (1985)[85] thời gian từ gieo đến ra hoa của đậu tương trung bình từ 35 - 45 ngày nếu nhiệt độ thường xuyên là 24 - 260C, khi nhiệt độ thấp hơn 200C thì thời gian từ gieo đến ra hoa có thể kéo dài tới 50 đến 60 ngày. Thời kỳ hình thành quả và quả mẩy của đậu tương nhiệt độ thích hợp từ 28 - 370C, nhiệt độ thấp hơn 180C hoặc cao hơn 380C ảnh hưởng nghiêm trọng đến tỷ lệ đậu quả, khả năng vận chuyển các chất dinh dưỡng về hạt làm cho chất lượng hạt đậu tương kém.

Nhìn chung, thời kỳ ra hoa và làm quả của đậu tương nếu gặp rét tỷ lệ rụng hoa cao và giảm khả năng hình thành quả. Nhiệt độ trung bình tại các vùng Đồng bằng và Trung du miền núi phía Bắc là 230C, đạt thấp nhất ở tháng 1 (15 – 170C), tăng dần và đạt cao nhất ở tháng 6 và 7 (25 – 300C), sau đó giảm dần đến tháng 12 (15 – 180C) dẫn theo nguồn số liệu Niên giám thống kê Việt Nam, (2018). Như vậy có thể nói nhiệt độ của vùng Đồng bằng và Trung du miền núi phía Bắc đều thích hợp cho cây đậu tương sinh trưởng và phát triển trong cả 3 vụ/năm. Ánh sáng Nhu cầu ánh sáng của cây đậu tương: Đậu tương là cây rất nhạy cảm với cường độ chiếu sáng, cường độ chiếu sáng thích hợp nhất là 150.

Đậu tương bão hòa ánh sáng ở cường độ 23.680 lux (20% ánh sáng mặt trời buổi trưa), quá trình phân hóa mầm hoa khi cường độ ánh sáng đạt trên 1. Yêu cầu số giờ nắng trung bình cho các thời kỳ sinh trưởng của cây đậu tương như sau: Gieo 5 hạt - mọc mầm: 5,0 - 5,5 giờ/ngày; mọc mầm - ra hoa: 4,5 - 5,0 giờ/ngày; ra hoa - chín: 4,0 - 5,0 giờ/ngày. Số giờ nắng ít hơn những giá trị này đều bất lợi cho cây đậu tương sinh trưởng và phát triển. Theo Hà Thị Thanh Đoàn và cs., (2017)[15] cây đậu tương là một cây ngày ngắn, có phản ứng chặt chẽ với độ dài ngày.

Các giống khác nhau có phản ứng với độ dài ngày khác nhau, mỗi giống có yêu cầu độ dài ngày nhất định để ra hoa kết quả. Cường độ ánh khoảng 20- 30% của cường độ ánh sáng mặt trời ở buổi trưa là đủ cho cây đậu tương có thể sinh trưởng bình thường, do vậy cây đậu tương có thể trồng xen với nhiều loại cây trồng khác. Nhưng ở kết quả của Lawn et al., (1985)[85] khi cường độ ánh sáng giảm 50% so với bình thường sẽ làm giảm số cành, số đốt mang quả và có thể giảm tới 50% năng suất của đậu tương. Dựa vào niên giám thống kê Việt Nam cho thấy tại vùng Đồng bằng và Trung du miền núi phía Bắc có sự biến đổi về số giờ nắng trung bình/tháng như sau: Từ tháng 2 – 6, số giờ nắng/tháng tăng dần và giảm dần từ tháng 6 – 12.

Số giờ nắng trong năm trung bình từ 1350 – 1950 giờ. Tháng 7, 8 có số giờ nắng cao nhất là 140 – 190 giờ, tháng 2 và tháng 12 có giờ nắng thấp nhất 45 – 151 giờ. Số giờ nắng trung bình ngày từ tháng 2 đến tháng 10 là 4 – 5 giờ/ngày [58], [59], [60]. Nước Hạt đậu tương nảy mầm khi hàm lượng nước đạt 50% khối lượng của hạt và độ ẩm của đất đạt từ 65 - 75% độ ẩm tối đa đồng ruộng.

Thời kỳ làm quả của đậu tương có nhu cầu nước cao nhất, phần lớn sự biến động về năng suất của đậu tương là do sự biến động về lượng nước cung cấp cho cây ở giai đoạn làm quả. Khi bị hạn trong giai đoạn làm quả thì hạt không hình thành được hoàn chỉnh, bộ lá bị rụng sớm, quá trình vận chuyển dinh dưỡng về hạt bị cản trở và thời gian sinh trưởng của đậu tương bị rút ngắn. Ngoài ra, độ ẩm của không khí có vai trò quan trọng trong quá trình tích lũy chất khô về hạt, độ ẩm không khí ngày/đêm là 47%/45% làm giảm tới 21% năng suất đậu tương so với độ ẩm 81%/84%, nguyên nhân do sự tích lũy chất khô giảm, tỷ lệ rụng hoa và rụng quả tăng. Kết quả nghiên cứu của Viện Khoa học Kỹ thuật Nông nghiệp Việt Nam (1986) cho thấy: Lượng nước cần tưới đáp ứng đủ cho nhu cầu của cây đậu tương khoảng 6 2200 m3/ha/vụ và năng suất đậu tương không sai khác khi tưới lượng nước 2163 m3/ha và 2413 m3/ha, nhưng tưới lượng nước 2030 m3/ha thì có thể giảm 58,4% năng suất.

Đất trồng Cây đậu tương trồng được trên nhiều loại đất khác nhau: Đất sét, đất cát pha, đất thịt, đất đỏ bazan, đất nâu xám, đất nương rẫy vùng đồi núi, đất sau thu hoạch lúa xuân, lúa mùa. Trên đất cát cây đậu tương thường cho năng suất không ổn định. Trên đất thịt nặng cây đậu tương khó mọc nhưng sau khi mọc nó thích ứng tốt hơn so với nhiều loài cây màu khác [15]. Năng suất của đậu tương đạt cao nhất khi độ chua (pHKCl) của đất đạt 6,5; khi đất có độ chua là 5 năng suất có thể giảm 37%.

Vùng có khí hậu nhiệt đới, với loại đất có thành phần cơ giới nặng có độ chua từ 5,5 - 6,5 và loại đất có thành phần cơ giới nhẹ độ chua từ 5 - 5,5 là thích hợp cho cây đậu tương. Ở Việt Nam, phần lớn trên các loại đất có độ chua từ 5,2 - 7,0 nên đều thích hợp cho cây đậu tương phát triển, hình thành nốt sần [15]. Yêu cầu dinh dưỡng cây đậu tương 1. Nhu cầu về phân đạm Trong kết quả nghiên cứu của Vũ Tiến Bình, Nguyễn Việt Long, (2015) [5] cho thấy đạm là yếu tố dinh dưỡng quan trọng nhất của cây đậu tương.

Trong cây đạm tích lũy khá nhiều ở thời kỳ đầu nhưng nhu cầu đạm lớn nhất vào thời kỳ ra hoa, đặc biệt là giai đoạn hoa rộ đến quả mầy. Đạm trong cây phần lớn do vi khuẩn nốt sần cộng sinh ở hệ rễ cung cấp. Nó có thể đáp ứng 60 – 70% lượng đạm cây cần. Nguồn đạm này được tăng khi cây có từ 3 lá thật và đạt tối đa khi cây ra hoa rộ sau đó giảm dần.

Bón nhiều đạm quá cây nhiều NH4+ và NO3- làm cho màng lông hút dày do cản trở sự xâm nhập của vi khuẩn nốt sần. Do vậy, bón đạm làm cho cây có hiệu quả và hợp lý nhất là bón sớm và bón ít. Nhu cầu về phân Lân Kết quả nghiên cứu của Trần Văn Điền (2001) [14] chỉ ra rẳng phân lân có tác dụng xúc tiến sự hành thành phát triển bộ rễ, hình thành nốt sần và các cơ quan sinh sản: hoa, quả, hạt. đủ lân số lượng kích thước số nốt sần tăng rõ rệt, quả chắc tăng, số hạt và khối lượng hạt tăng.

Cây hút lân suốt quá trình sinh trưởng của cây chủ yếu thời kỳ đầu. Thời kỳ cuối lân chuyển từ thân, lá về quả và hạt. Thiếu lân cây nhỏ, sinh trưởng chậm, lá hẹp, đầu lá nhọn và cong lên có màu xanh tối, mặt lá có chấm nâu. Thiếu lân nghiêm trọng thân có màu đỏ, rễ có màu nâu, ít hoa và quả.

Nhu cầu về phân kali Kali có vai trò quan trọng trong trao đổi đạm, chuyển hóa gluxit, cân bằng nước, tổng hợp protein, tăng tính chống chịu cho cây như hàng loạt các phản ứng trong cây. Thiếu kali ở cây non và già, mép lá bị cháy, lá bị cong lên trên. Cây hút kali trong suốt quá trình sinh trưởng của cây nhưng cần nhiều ở thời kỳ ra hoa. Thời kỳ cuối kali chuyển từ thân, lá về quả và hạt thể hiện trong tài liệu Nguyễn Thị Lan Anh và Nguyễn Thu Hà, (2019)[3].

Nhu cầu về phân Canxi và các loại phân vi lượng khác Canxi có tác dụng điều chỉnh độ pH của đất, cung cấp Ca2+ cho cây, tạo điều kiện cần thiết cho các hoạt động của bi khuẩn nốt sần và trao đổi đạm của cây. Trong số các nguyên tố vi lượng quan trọng hơn cả là nguyên tố Mo và B. Mo cần cho sự hoạt động của vi khuẩn nốt sần và trao đổi đạm của cây, các loại đất chua đất nhiều nhôm thường thiếu Mo. B cần thiết cho sự phát triển của nốt sần, tăng tỷ lệ đậu hoa, đậu quả đồng thời tăng khối lượng và kích thước của hạt (Nguyễn Thị Lan Anh, Nguyễn Thu Hà, 2019)[3].

Yêu cầu sinh thái và dinh dưỡng cây bưởi Diễn 1. Yêu cầu sinh thái cây bưởi Diễn 1. Nhiệt độ: Theo kết quả của Nguyễn Hữu Thọ, (2015)[35], cây bưởi Diễn có thể sống và phát triển ở nhiệt độ 13 - 39oC, nhưng thích hợp nhất là 23 - 29oC. Dưới 13oC và trên 40oC thì sự sinh trưởng ngừng lại, dưới âm 5oC cây chết.

Theo Nguyễn Văn Vượng, (2018), nhiệt độ ảnh hưởng đến phẩm chất và sự phát triển trái của cây có múi. Thường ở nhiệt độ cao, trái chín sớm, ít xơ và ngọt, nhưng khà năng cất giữ kém và màu sắc trái chín không đẹp (ở nhiệt độ thấp các sắc tố hình thành nhiều hơn). Ở miền Nam thường có biên độ nhiệt giữa ngày và đêm không cao nên khi chín vỏ trái thường còn màu xanh, tuy nhiên yếu tố tạo màu sắc khi chín còn ảnh hưởng bởi giống trồng [46]. Ánh sáng Nhu cầu ánh sáng của cây bưởi Diễn: Cây bưởi Diễn không thích hợp với ánh sáng trực tiếp, cường độ ánh sáng thích hợp nhất cho cam quít khoảng 10.

Lượng mưa Cây bưởi Diễn nhu cầu ít nhất là 875mm trong trường hợp không tưới. Nhiều tác giả cho rằng lượng mưa thích hợp cây có múi từ 1000 - 1400mm/năm và phân phối đều. Ở Việt Nam lượng mưa trung bình hàng năm từ 1500 mm - 1800 mm. Nhưng có hai mùa mưa nắng nên vào mùa nắng phải tưới, vào mùa mưa phải có biện pháp chống úng [46].

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Bài viết "Nghiên cứu biện pháp trồng đậu tương xen bưởi diễn tại Bắc Giang" cung cấp cái nhìn sâu sắc về phương pháp trồng đậu tương kết hợp với cây bưởi diễn, một mô hình nông nghiệp bền vững tại Bắc Giang. Nghiên cứu này không chỉ giúp nâng cao năng suất cây trồng mà còn tối ưu hóa việc sử dụng đất, mang lại lợi ích kinh tế cho nông dân. Bên cạnh đó, việc trồng xen cũng góp phần cải thiện chất lượng đất và bảo vệ môi trường, tạo ra một hệ sinh thái cân bằng hơn.

Để mở rộng thêm kiến thức về các mô hình nông nghiệp khác, bạn có thể tham khảo bài viết Luận văn đánh giá sinh trưởng mô hình trám đen ghép tại xã hà châu huyện phú bình tỉnh thái nguyên, nơi nghiên cứu về sự phát triển của một mô hình cây trồng khác. Ngoài ra, bài viết Luận văn ảnh hưởng của mật độ và số dảnh cấy khóm đến sinh trưởng phát triển và năng suất lúa tại huyện yên dũng tỉnh bắc giang cũng sẽ cung cấp thông tin hữu ích về ảnh hưởng của mật độ cây trồng đến năng suất. Cuối cùng, bạn có thể tìm hiểu thêm về Luận văn nghiên cứu tình hình sản xuất và tiêu thụ hoa cây cảnh ở huyện văn giang tỉnh hưng yên, một lĩnh vực khác trong nông nghiệp có thể mang lại giá trị kinh tế cao. Những tài liệu này sẽ giúp bạn có cái nhìn toàn diện hơn về các phương pháp canh tác và sản xuất nông nghiệp hiện đại.