Đặt vấn đề Hoa là một sản phẩm đặc biệt, vừa mang lại giá tr tinh thần lại vừa mang lại giá tr kinh tế cao. Hoa không chỉ làm tăng chất lượng cuộc sống, mà còn đem lại cho con người những cảm xúc tuyệt vời mà các quà tặng khác không có được. Trong những năm gần đây, hoa là mặt hàng nông sản đã làm thay đổi bộ mặt của nhiều vùng quê Việt Nam. Nhiều hộ gia đình đã giàu lên, nhờ mạnh dạn chuyển đổi cơ cấu từ cây trồng khác sang trồng hoa.
Hoa không chỉ là vẻ đẹp, là giá tr về thẩm mỹ mà còn có giá tr kinh tế cao. Hoa đã trở thành một sản phẩm đặc biệt, có v trí quan trọng trong sản xuất nông nghiệp. Trên thế giới hiện có trên 200 loài hoa đang được sản xuất thương mại, Tùy thuộc vào điều kiện đất đai, khí hậu, của mỗi nước chọn trồng và phát triển một số chủng loại hoa để mang lại nguồn thu cho ngành sản xuất, thương mại của quốc gia. Khi chất lượng cuộc sống ngày càng cao, nhu cầu tiêu dùng ngày càng lớn thì chất lượng sản phẩm càng đòi hỏi cao hơn.
Từ nhu cầu tiêu dùng liên tục được tăng cao, các nhà chọn tạo giống trên thế giới đã không ngừng chọn tạo thành công các giống hoa có chất lượng và giá tr nghệ thuật cao. Hoa thược dược (Dahlia variablis Desf) có nguồn gốc từ Mêxicô nhập nội vào Tây Ban Nha năm 1789, sau đó lan ra Châu Âu, qua Pháp, rồi vào Việt Nam. Hiện nay hoa thược dược đã được trồng phổ biến trên thế giới: Hoa Kỳ, Anh, Australia, Mêxicê, Tây Ban Nha và đặc biệt được chọn làm quốc hoa của Mêxicô. Thược dược cũng được người dân Việt Nam ưa chuộng và được trồng khá phổ biến ở một số vùng chuyên canh.
Một phần để chơi, thưởng thức, một phần để phục vụ các vùng lễ hội, tết và dùng làm dược liệu. Tuy nhiên các giống thược dược trồng ở Việt Nam hiện nay chủ yếu là các giống hoa cũ, sử dụng với mục đích cắt cành là chính, hoa thược dược được trồng chậu gần như chưa có. e 2 Nguyên nhân ở đây, một phần là do tập quán canh tác, tập quán chơi hoa thược dược của người dân Việt Nam là hoa cắt cành, một phần chưa lựa chọn được giống trồng chậu phù hợp, trong khi đó nhu cầu chơi hoa chậu đang có xu thế tăng cao. Bên cạnh đó, một số biện pháp kỹ thuật cho hoa thược dược vẫn chưa được nghiên cứu và ứng dụng trong sản xuất.
Chính vì vậy đề tài “Nghiên cứu một số biện pháp kỹ thuật cho giống hoa thược dược TDL-03 tại Thái Nguyên” vừa có cơ sở khoa học, vừa có ý nghĩa thực tiễn sâu sắc. Mục tiêu, yêu cầu của đề tài 2. Mục tiêu - Xác đ nh một số biện pháp kỹ thuật thích hợp trong nhân giống và trồng hoa thược dược TDL-03 tại Thái Nguyên. Yêu cầu - Nghiên cứu ảnh hưởng của một số biện pháp kỹ thuật trong nhân giống hoa thược dược TDL-03.
- Nghiên cứu ảnh hưởng của thời vụ trồng đến sinh trưởng, phát triển của hoa thược dược TDL-03. - Nghiên cứu ảnh hưởng của giá thể đến sinh trưởng, phát triển của hoa thược dược TDL-03. Ý nghĩa của đề tài 3. Ý nghĩa trong học tập Giúp cho học viên củng cố thêm kiến thức, vận dụng những kiến thức khoa học vào thực tế sản xuất, nâng cao trình độ chuyên môn để sau khi ra trường làm việc đạt hiệu quả cao.
Ý nghĩa trong thực tiễn Việc xác đ nh các biện pháp kỹ thuật trồng và thời vụ thích hợp cho thược dược đang là một vấn đề được nhiều người quan tâm. Kết quả của đề tài sẽ giúp cho người dân có thể lựa chọn được thời vụ trồng và áp dụng các biện pháp kỹ thuật thích hợp cho hoa thược dược TDL-03 trong vụ Đông - Xuân nhằm đạt được hiệu quả kinh tế cao nhất. e 3 Chƣơng 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1. Cơ sở khoa học của đề tài 1.
Cơ sở khoa học của việc nghiên cứu chất kích thích sinh trưởng * Sự cân bằng hoocmon trong cây Ở thực vật bất cứ mọi hoạt động sinh trưởng và phát triển nào, đặc biệt là các quá trình hình thành cơ quan rễ, thân, lá, hoa, quả. cũng như sự chuyển qua các giai đoạn sinh trưởng của cây đều được điều chỉnh đồng thời bởi qua nhiều loại hoocmon trong chúng. Chính vì vậy mà sự cân bằng giữa các hoocmon có một ý nghĩa quyết đ nh. Nhìn chung có thể phân thành hai loại cân bằng là sự cân bằng chung và sự cân bằng riêng giữa các hoocmon.
+ Sự cân bằng chung Sự cân bằng chung được thiết lập dựa trên cơ sở hai nhóm phytohoocmon có hoạt tính sinh lý trái ngược nhau: nhóm chất kích thích sinh trưởng (KTST) và nhóm ức chế sinh trưởng. Sự cân bằng này xác đ nh trong suốt quá trình sinh trưởng phát triển của cây. Trong quá trình phát triển cá thể từ khi cây sinh ra cho đến khi cây chết thì sự cân bằng trong chúng diễn ra theo quy luật ảnh hưởng các kích thích giảm dần và ảnh hưởng các ức chế tăng dần. + Sự cân bằng riêng Trong cây có vô số các quá trình phát sinh hình thái và hình thành cơ quan khác nhau như rễ, thân, lá, hoa, quả, sự nảy mầm, sự chín… đều được điều chỉnh bởi sự cân bằng của hai hay một vài hoocmon đặc hiệu.
- Tái sinh rễ hoặc chồi được điều chỉnh bằng tỷ lệ giữa auxin và xytokinin trong mô. Nếu tỷ lệ này nghiêng về auxin thì rễ được hình thành nhanh hơn và ngược lại. e 4 - Hiện tượng thế ngọn cũng được điều chỉnh bằng tỷ lệ auxin/xytokinin. auxin làm tăng ưu thế ngọn còn xytokinin lại làm giảm ưu thế ngọn.
Tại bất cứ một thời điểm nào trong các quá trình đó cũng đều xác đ nh được một sự cân bằng đặc hiệu giữa các hoocmon đó. Con người có thể điều chỉnh các quan hệ cân bằng đó theo hướng có lợi cho con người (Hoàng Minh Tấn, Nguyễn Quang Thạch, 1994) [12]. * Nguyên tắc sử dụng các chất điều tiết sinh trưởng Việc sử dụng các chất điều tiết sinh trưởng thực vật trong nghề trồng hoa cũng tuân theo các nguyên tắc chung như khi sử dụng chúng với các cây trồng khác trong nông nghiệp là: + Nồng độ của các chất điều tiết sinh trưởng: thông thường, ở nhiệt độ thấp chúng có tác dụng như kích thích xúc tiến nảy mầm, tăng chiều cao, kích thích nảy mầm, tăng khối lượng… Ở nồng độ cao (hàng ngàn ppm) chúng ức chế sinh trưởng ngọn hay toàn cây, gây rụng lá, xúc tiến ra hoa… + Chất điều tiết sinh trưởng thực vật không phải là chất dinh dưỡng nên không thể thay thế cho phân bón. Vì vậy muốn đạt hiệu quả cao khi sử dụng chất điều tiết sinh trưởng phải phối hợp với phân bón, đặc biệt các trường hợp muốn làm tăng chiều cao và sinh khối của hoa.
+ Mặc dù việc sử dụng chất điều tiết sinh trưởng, thực vật với nghề trồng hoa có nhiều lợi nhuận nhưng ảnh hưởng tiêu cực của chúng đối với đất đai, nước và sức khỏe con người không phải là không có, nhất là khi sử dụng nhiều và thường xuyên các chất điều tiết sinh trưởng. Do đó phải sử dụng đúng nồng độ, thời điểm và phương pháp Nguyễn Xuân Linh, 2002) [5]. Cơ sở khoa học của nghiên cứu giá thể Giá thể là loại có khả năng giữ nước tương đương với độ thoáng khí. Khả năng giữ nước và độ thoáng khí của giá thể được quyết đ nh bởi những khoảng trống khe, kẽ trong nó.
Trong cát m n có những khoảng trống rất nhỏ, không chứa được nhiều nước và oxi. Ngược lại sỏi thô tạo ra những e 5 khoảng trống khá lớn, nhiều không khí nhưng mất nước nhanh Berke. Giá thể có những đặc điểm giữ nước cũng như thoáng khí, có pH trung tính và có khả năng ổn đ nh pH, thấm nước dễ dàng, bền và có khả năng tái sử dụng hoặc phân hủy ngoài môi trường, nhẹ và rẻ rất thông dụng. Giá thể thì có nhiều loại như xơ dừa, trấu hun, mùn cưa, cát, sỏi vụn cỡ hạt đậu , đá trân châu… Có thể dùng đơn lẻ hoặc trộn lại để tận dụng ưu điểm từng loại.
Vì vậy, trồng cây trong giá thể, dinh dưỡng được cung cấp cho cây thông qua phân bón trộn trong giá thể và bón thúc. Giá thể được để trong những khay chậu. Khay chậu có thể là gỗ, đất nung, sành sứ,… tùy vào điều kiện mà người trồng có thể chọn lựa và sử dụng theo sở thích của mình. Giá thể là khái niệm dùng để chỉ tất cả các vật chất bao quanh bộ rễ của cây trồng.
Việc sử dụng các giá thể phù hợp có ý nghĩa đặc biệt đối với cây trồng. Giá thể được sử dụng hiện nay gồm: Than củi, gạch nung, rêu, xơ dừa, rễ bèo tây, vỏ cây, rễ dương xỉ, trấu hun, sỏi, đất, bã nấm., * Mùn xơ dừa: là giá thể tơi xốp, thoáng khí, dễ thấm nước, giữ ẩm cao, không mang mầm bệnh, chứa nhiều vi sinh vật có lợi cho đất, rẻ tiền, dễ kiếm. Tuy nhiên cũng có nhược điểm thoát nước nhanh, chóng mục, vì vậy dễ b sâu bệnh. * Trấu hun: Rẻ, dễ làm, thoát nước, nhẹ dễ vận chuyển, cung cấp chất khoáng, làm cứng cây.
Tuy nhiên không có chất hữu cơ, kém dinh dưỡng, hấp thụ nhiệt mạnh nên chỉ dùng cho giâm cây bằng hom và trồng cây giai đoạn đầu. Từ những năm 60 của thế kỷ 20, ở Liên Xô cũ đã tiến hành nghiên cứu và ứng dụng kỹ thuật trồng cây con trong túi nilông trong nhà lưới có mái che đã đạt được kết quả cao. Sau đó phương pháp này đã được phổ biến trong sản xuất nông nghiệp. Phần cải tiến kỹ thuật vườn ươm, nó đã trở thành một nghề kinh doanh, một số nông dân sản xuất cây con với số lượng lớn để bán cho nông dân khác.
e 6 Đất không phải là môi trường tốt cho cây con, cho thêm cát hoặc cát + than bùn sẽ tạo ra một hỗn hợp rất tốt. Nhiều nơi đã và đang phát triển những hỗn hợp đặc biệt mà có thể được sử dụng. Những hỗn hợp này không sử dụng đất ruộng khi đất ruộng b ô nhiễm do sâu bệnh và do hoá chất.