Đặt vấn đề Chăn nuôi là một ngành quan trọng trong nền kinh tế của từng quốc gia, đã từ lâu thu hút sự chú ý của loài người. Để tạo ra nhiều sản phẩm chăn nuôi có chất lượng tốt đáp ứng nhu cầu ngày càng cao của thị trường thì việc cung cấp thức ăn đủ, có chất lượng cao và ổn định là yếu tố quan trọng quyết định sự thành công trong chăn nuôi. Đồng cỏ là một trong những cơ sở quan trọng để phát triển ngành chăn nuôi gia súc đặc biệt là trâu bò. Chúng ta biết rằng, đồng cỏ là kho dự trữ nguồn năng lượng tiềm tàng, gia súc sẽ chuyển hóa năng lượng chứa trong đồng cỏ thành thức ăn của con người.
Cỏ không những là nguồn thức ăn gia súc có chất lượng, rẻ tiền và phù hợp với điều kiện của nhiều nước mà cỏ còn có nhiều tác dụng như bảo vệ và cải tạo đất trồng dưới dạng này hay dạng khác, tham gia cải thiện khí hậu… Từ lâu, con người đã biết khai thác đồng cỏ để làm thức ăn cho gia súc, lúc đầu còn hoàn toàn dựa vào tự nhiên. Nhưng do nhu cầu phát triển ngày càng tăng, hình thức chăn thả tự nhiên như trước không đáp ứng được. Vì vậy đòi hỏi con người phải tìm cách để làm tăng năng suất cỏ cung cấp đủ cho ngành chăn nuôi. Sự phát triển của đồng cỏ cũng phụ thuộc vào nhiều yếu tố như: khí hậu, đất đai, các hình thức tác động khác của con người.
Sự sinh trưởng của thảm cỏ cũng có sự biến động theo mùa rõ rệt. Ở các vùng sinh thái khác nhau thì thảm cỏ có sự phát triển khác nhau tạo nên thảm cỏ với năng suất khác nhau. Trên thực tế hiện nay, nguồn thức ăn xanh ngày càng cạn kiệt do đồng cỏ chăn thả dần bị thu hẹp để nhường chỗ cho cây trồng khác. Bên cạnh đó, con người chăn thả gia súc một cách bừa bãi không có kỹ thuật đã làm cho một số bãi chăn thả trở thành đất trống, đồi chọc không còn khả năng khai thác.
Từ đó, nguồn thức ăn của gia súc trở nên thiếu đặc biệt là vào mùa đông. Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.vn/ Yên Dũng là một huyện miền núi của tỉnh Bắc Giang. Số lượng đàn gia súc của huyện ngày càng giảm do diện tích chăn thả ngày càng bị thu hẹp. Xuất phát từ nhu cầu thực tiễn đó, chúng tôi tiến hành nghiên cứu đề tài: “Nghiên cứu thực trạng và xu hƣớng biến đổi của một số thảm cỏ tại xã Nham Sơn, huyện Yên Dũng, Tỉnh Bắc Giang”.
Mục đích nghiên cứu Trên cơ sở điều tra các yếu tố khí hậu, thủy văn, đất đai, thảm thực vật của các tiểu vùng sinh thái trong xã Nham Sơn huyện Yên Dũng tỉnh Bắc Giang tiến hành: - Đánh giá thực trạng khai thác thảm cỏ tự nhiên trong từng tiểu vùng sinh thái. - Đánh giá xu hướng biến đổi của thảm cỏ trong từng tiểu vùng sinh thái. - Đề xuất phương hướng khai thác và sử dụng hợp lý nguồn tài nguyên trong từng tiểu vùng. Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.vn/ CHƢƠNG I.
TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1. Khái niệm vùng, phân vùng 1. Khái niệm vùng “Vùng” là một khái niệm được dùng một cách rất phổ biến và cách tiếp cận nó cũng rất khác nhau. Vùng thường được dùng để chỉ một lãnh thổ có phổ biến một hiện tượng nào đó về mặt không gian được đặc trưng bởi sự thống nhất về các đặc điểm khác nhau.
Lãnh thổ đất nước được chia thành những vùng khí hậu, thổ nhưỡng, các vùng kinh tế, các vùng hoang mạc…[23, tr. Theo Lê Bá Thảo “Vùng là một bộ phận của lãnh thổ quốc gia có một sắc thái đặc thù nhất định, hoạt động như một hệ thống do có những mối quan hệ tương đối chặt chẽ giữa các thành phần cấu tạo nên nó cũng như mối quan hệ có chọn lọc với không gian các cấp bên ngoài” [31, tr. Vùng sinh thái được hiểu là một bộ phận lãnh thổ cụ thể có chung nguồn gốc phát sinh và phát triển, đặc trưng bởi sự đồng nhất tương đối về các điều kiện tự nhiên (địa chất, địa hình, khí hậu, thủy văn, đất) và trên đó phát triển một sinh quần lạc điển hình. Vùng sinh thái bao gồm một tập hợp có quy luật các đơn vị sinh thái cảnh quan cấu trúc (đơn vị cấp thấp).
Mỗi vùng sinh thái có những chức năng xã hội (chức năng kinh tế) nhất định, trước hết chúng phải phù hợp với điều kiện và tài nguyên tự nhiên của chính vùng đó. Tại đây có những hình thức khai thác, sử dụng và cải tạo thiên nhiên tương đối giống nhau của cộng đồng con người [35, tr. Như vậy có thể hiều vùng là một hệ thống bao gồm các mối liên hệ của các bộ phận cấu thành với các dạng liên hệ địa lý, kỹ thuật, kinh tế, xã hội bên trong hệ thống cũng như bên ngoài hệ thống. Vùng có quy mô rất khác nhau, song dù quy mô thế nào, lớn hay nhỏ đều có điểm chung, đó là một lãnh thổ có ranh giới nhất định, trong đó có sự tác động tương hỗ giữa các yếu tố tự nhiên, môi trường và con người.
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www. Khái niệm phân vùng a. Sự phân vùng Phân vùng là sự phân chia lãnh thổ, vùng biển ra thành các vùng hay các phần, được phân biệt bởi mức độ đồng nhất bên trong của nó. Những dấu hiệu được sử dụng để phân vùng có thể khác nhau về đặc điểm, theo mức độ rộng hẹp của dấu hiệu nào đó về phân bố hoặc theo mục đích phân vùng.
Thời kỳ đầu nghiên cứu lãnh thổ thường phải phân vùng, từ đó cho phép sử dụng hợp lý tài nguyên và lao động. Nguyên tắc phân vùng Theo Lê Bá Thảo phân vùng dựa trên 3 nguyên tắc: - Về tính đồng nhất tương đối, thường được áp dụng để phân định các vùng - cảnh quan, vùng tự nhiên hay vùng văn hóa lịch sử. - Sự khai lợi và trình độ phát triển kinh tế - xã hội, trong đó sự gắn kết của vùng được thể hiện thông qua vai trò của hệ thống các đô thị các cấp, quan trọng nhất là của thành phố có sức hút và của vùng ảnh hưởng lớn nhất, coi như cực tạo vùng. - Tính hữu hiệu của các điều kiện đảm bảo sự quản lý lãnh thổ [29, tr.
Các dạng phân vùng Trong phần tổng quan chúng tôi chỉ đề cập đến một số dạng phân vùng sau: Phân vùng địa vật lý, phân vùng thổ nhưỡng, phân vùng khí hậu, phân vùng sinh thái thảm thực vật. Phân vùng địa vật lý Phân vùng địa vật lý là hệ thống phân chia bề mặt trái đất. Cơ sở để phân chia và nghiên cứu là tổ hợp các đặc trưng bên trong và rất riêng của nó - thiên nhiên. Người ta có thể phân chia theo từng tổ hợp riêng (như địa hình, khí hậu, đất…) hoặc phân chia theo cả một tập hợp các yếu tố (phân vùng cảnh quan).
Theo Lê Bá Thảo (1970), dựa trên chỉ tiêu địa mạo - kiến tạo ông đã phân vùng miền Bắc Việt Nam thành 6 miền thuộc đới á Bắc đó là: Đông Bắc, Tây Bắc, Trường Sơn Bắc, đồng bằng Bắc Bộ, Thanh Nghệ Tĩnh, Bình Trị Thiên [30]. Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.vn/ Vũ Tự Lập (1976), khi nghiên cứu vùng cảnh quan miền Bắc ông đã phân chia thành 2 miền: Miền Bắc và Đông Bắc, miền Tây Bắc và Bắc Trung Bộ. Miền Bắc và Đông Bắc lại được phân chia làm 3 khu: Khu Việt Bắc, khu Đông Bắc và khu đồng bằng châu thổ Bắc Bộ. Miền Tây Bắc và Bắc Trung Bộ chia thành 5 khu: Khu Tây Bắc, khu Phanxipăng - puluong, khu Hòa Bình - Thanh Hóa, khu Quảng Bình - Vĩnh Ninh, khu Nghệ Tĩnh [24].
Phân vùng khí hậu Trên thế giới trái đất được chia thành 6 châu lục, mỗi châu lục có những đặc điểm khí hậu khác nhau. Trong mỗi châu lục lại có sự phân miền khí hậu. Châu Âu chia làm 3 miền khí hậu: Miền khí hậu cực và cận cực, miền khí hậu ôn đới đại dương và ôn đới lục địa, miền khí hậu á nhiệt đới khô (khí hậu Địa Trung Hải, khí hậu cận nhiệt đới). Châu Á được chia ra làm 6 miền khí hậu: Miền khí hậu xích đạo, miền khí hậu nhiệt đới gió mùa, miền khí hậu nhiệt đới, miền khí hậu á nhiệt đới, miền khí hậu ôn đới, miền khí hậu ôn đới lạnh và cận cực.
Châu Phi được phân ra làm 7 miền khí hậu: Miền khí hậu xích đạo, 2 miền khí hậu cận xích đạo, 2 miền khí hậu nhiệt đới khô, 2 miền khí hậu á nhiệt đới khô. Châu Mỹ gồm Bắc Mỹ và Nam Mỹ. Bắc Mỹ gồm các khu vực khí hậu: khu vực khí hậu cận và cận cực, khu vực khí hậu ôn đới, khu vực khí hậu á nhiệt đới, khu vực khí hậu nhiệt đới. Nam Mỹ gồm các khu vực khí hậu: khu vực khí hậu xích đạo, khu vực khí hậu cận xích đạo và nhiệt đới, khu vực khí hậu á nhiệt đới, khu vực khí hậu ôn đới.
Châu đại dương chia ra các khu vực khí hậu: khu vực khí hậu nhiệt đới, khu vực khí hậu nửa hoang mạc, khu vực khí hậu ôn đới. Châu Nam Cực là một lục địa lạnh [39]. Ở Việt Nam có khí hậu nội chí tuyến gió mùa ẩm, đa dạng và thất thường. Khí hậu Việt Nam có sự phân hóa từ Bắc vào Nam, từ Đông sang Tây Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.vn/ và có cả sự phân hóa từ thấp đến cao.
Vấn đề phân vùng khí hậu ở Việt Nam từ trước đến nay đã được nhiều tác giả quan tâm và nghiên cứu. Vào thế kỷ XV, Nguyễn Trãi đã có những nhận xét về đặc điểm khí hậu các vùng địa lý và dựa trên đó đánh giá những thuận lợi khó khăn trong công cuộc mở mang kinh tế ở từng vùng. Tiếp theo đó là Lê Tắc, Vân Anh, Lê Quý Đôn, Ngô Thời Sỹ, Nguyễn Nghiễm và nhiều nhà địa lý khác bắt đầu đi sâu vào nhiều khía cạnh khí hậu kinh tế các vùng của đất nước. Những năm 1970, Phạm Ngọc Toàn và Phan Tất Đắc đã đưa ra những sơ đồ đầu tiên về phân vùng khí hậu miền Bắc Việt Nam [36].
Đến những năm 80, khi xây dựng Atlat quốc gia, viện khí hậu thủy văn cũng đưa ra phân vùng khí hậu Việt Nam ở tỷ lệ 1/3000. Phạm Ngọc Toàn và Phan Tất Đắc (1993) đã phân chia lãnh thổ Việt Nam thành 3 miền khí hậu lớn: Miền khí hậu phía Bắc, miền khí hậu Đông Trường Sơn, miền khí hậu phía Nam.