CHƯƠNG 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CHUNG VỀ DÂN SỐ VÀ CƠ CẤU DÂN SỐ THEO TUỔI Dân số học được định nghĩa theo nghĩa hẹp là khoa học quan tâm đến quy mô, phân bố, cơ cấu và sự biến động dân số. Quy mô là số người trong dân số. Phân bố là cách phân chia dân số theo địa lý (lãnh thổ). Cơ cấu là tập hợp những bộ phận hợp thành dân số của một lãnh thổ (nhóm nước, từng nước hoặc từng vùng) được phân chia dựa trên những tiêu chuẩn nhất định.
Biến động là sự tăng hoặc giảm dân số hoặc sự thay đổi trong những thành phần của nó (gồm sinh, chết và di cư). Theo nghĩa rộng, dân số học nghiên cứu mối quan hệ giữa các nhân tố trên với hoàn cảnh kinh tế, xã hội, văn hóa và môi trường xung quanh. Chương này sẽ trình bày một số định nghĩa hẹp của các vấn đề dân số có liên quan đến nội dung đề tài để làm cơ sở lý luận cho việc nghiên cứu sâu hơn ở các chương sau. Quy mô, cơ cấu và sự phát triển dân số 1.1 Quy mô và phân bố dân số Quy mô dân số biểu thị khái quát tổng số dân của một vùng, một nước hay của các khu vực khác nhau trên thế giới tại một thời điểm cụ thể.
Những thông tin về quy mô dân số hết sức cần thiết trong phân tích, so sánh với các chỉ tiêu kinh tế - xã hội nhằm lý giải nguyên nhân của tình hình và hoạch định chiến lược phát triển. Số liệu về quy mô dân số có thể được thu thập thông qua các cuộc điều tra và hệ thống ghi chép thường xuyên (hệ thống đăng ký hộ tịch, hộ khẩu, đăng ký dân số). Ở Việt Nam hiện nay, do hệ thống đăng ký hộ tịch hộ khẩu chưa đầy đủ nên thông tin quy mô dân số được thu thập và tính toán qua các cuộc Tổng điều tra dân số, 10 năm một lần, và qua các cuộc điều tra mẫu biến động dân số hàng năm. Phân bố dân số là việc nghiên cứu sự tập trung dân cư theo đơn vị hành chính hoặc địa điểm cư trú (vùng kinh tế - xã hội, thành thị - nông thôn).
Các chỉ tiêu thường được sử dụng để nghiên cứu phân bố dân số là: Mật độ dân số và phân bố phần trăm diện tích đất đai và dân số theo đơn vị hành chính hoặc theo vùng. Luận văn thạc sĩ Kinh tế 5 Mật độ dân số cho phép đánh giá mức độ tập trung dân số theo lãnh thổ được biểu thị bằng số dân trên một kilômét vuông diện tích lãnh thổ. Mật độ dân số có thể được tính cho cả nước, vùng lãnh thổ, và các đơn vị hành chính: tỉnh, huyện, xã. Số dân (người) Mật độ dân số = (1.1) Diện tích lãnh thổ (km2) Ví dụ: Theo kết quả của cuộc Tổng Điều tra dân số và nhà ở 1/4/2009, thành phố Hà Nội có 6.909 người cư trú trên diện tích lãnh thổ là 3.345 km2, như vậy, mật độ dân số của thành phố Hà Nội tại thời điểm 1/4/2009 là: 6.929 (người/km2) Phân bố phần trăm diện tích đất đai và dân số theo đơn vị hành chính hoặc theo vùng là việc so sánh sự tương quan giữa cơ cấu dân số của vùng (đơn vị hành chính) trong tổng dân số toàn quốc và cơ cấu diện tích của vùng đó (đơn vị hành chính đó) trong tổng diện tích lãnh thổ của quốc gia.1 trình bày phân bố phần trăm diện tích đất đai và dân số theo vùng của Việt Nam năm 2009 Bảng 1.1: Phân bố phần trăm diện tích đất đai và dân số theo vùng, Việt Nam 2009 Đơn vị tính: phần trăm (%) Vùng kinh tế - xã hội Diện tích Dân số Toàn quốc 100,0 100,0 1.
Trung du và miền núi phía Bắc 28,8 12,9 2. Đồng bằng sông Hồng 6,4 22,8 3. Bắc Trung bộ và duyên hải miền Trung 29,0 21,9 4. Đông Nam Bộ 7,1 16,4 6.
Đồng bằng sông Cửu Long 12,2 20,0 Nguồn: Diện tích: Tổng cục Thống kê. Niên giám Thống kê 2009 - Biểu 10, trang 37. Dân số: Ban chỉ đạo Tổng điều tra dân số và nhà ở Trung ương. Tổng điều tra dân số và nhà ở, 0 giờ ngày 01 tháng 4 năm 2009, các kết quả suy rộng mẫu.
Hà Nội, 12-2009 –Tr. Số liệu trên Bảng 1.1 cho thấy, dân số Việt Nam phân bố không đều và có sự khác biệt lớn theo vùng. Đồng bằng sông Hồng và đồng bằng sông Cửu Long là hai Luận văn thạc sĩ Kinh tế 6 vùng có đất đai mầu mỡ và điều kiện canh tác nông nghiệp thuận lợi chỉ có gần 19% diện tích đất đai, nhưng lại chiếm tới gần 43% tổng dân số của cả nước. Ngược lại, Trung du và miền núi phía Bắc và Tây Nguyên là hai vùng chiếm tới gần một nửa diện tích của cả nước nhưng có địa hình hiểm trở và điều kiện tự nhiên rất khắc nghiệt nên chỉ dưới một phần năm ( gần 19%) dân số cả nước sinh sống.
Cơ cấu dân số Cơ cấu dân số là một khái niệm dùng để chỉ tập hợp những bộ phận hợp thành dân số của một lãnh thổ (nhóm nước, từng nước hoặc từng vùng) được phân chia dựa trên những tiêu chuẩn nhất định. Việc nghiên cứu cơ cấu dân số có vai trò rất quan trọng, giúp chúng ta nắm được thực trạng, cũng như dự báo các quá trình và động lực dân số của một lãnh thổ nào đó. Nhìn chung, cơ cấu dân số bao gồm: 1. Cơ cấu sinh học Phản ánh thành phần, thể trạng về mặt sinh học của dân cư ở một lãnh thổ nào đó.
Cơ cấu sinh học bao gồm cơ cấu dân số theo độ tuổi và cơ cấu dân số theo giới tính. Cơ cấu theo thành phần dân tộc Là tập hợp những bộ phận hợp thành dân số của một nước được phân chia theo thành phần dân tộc. Về cơ bản, cơ cấu dân tộc bao gồm cơ cấu theo thành phần dân tộc và theo quốc tịch. Cơ cấu dân số về mặt xã hội Phản ánh những khía cạnh xã hội của dân cư ở một lãnh thổ nhất định.
Cơ cấu này có ý nghĩa quan trọng, ảnh hưởng trực tiếp và sâu sắc đến mọi hoạt động xã hội. Một số dạng của cơ cấu này bao gồm: Cơ cấu lao động, cơ cấu nghề nghiệp, cơ cấu trình độ văn hóa… 1. Tăng trưởng dân số và lý thuyết quá độ dân số 1. Tăng trưởng dân số Sự chênh lệch về quy mô dân số giữa các thời điểm khác nhau được đánh giá bằng tỷ suất tăng dân số hay còn gọi là tỷ lệ tăng dân số bình quân năm.
Để tính Luận văn thạc sĩ Kinh tế 7 toán được chỉ tiêu này, cần phải có dân số tại hai thời điểm (đầu và cuối) thời kỳ tính toán và giả thiết dân số thay đổi theo quy luật (hàm toán học) nào đó. Công thức được sử dụng phổ biến nhất để tính tỷ lệ tăng dân số là hàm mũ hay còn gọi là hàm lũy thừa: Pt = P0* ert. Trong đó: r – tỷ lệ tăng dân số; Pt – Dân số cuối kỳ; P0 – Dân số đầu kỳ; t – Độ dài thời gian trong kỳ tính theo năm Từ đó, ta có: ln(Pt/P0) r = (1.2) t Ví dụ: Dựa trên số liệu về dân số của thành phố Hà Nội qua các cuộc Tổng điều tra dân số từ năm 1999 đến năm 2009 trên Bảng 1.2, ta tính được tỷ lệ tăng dân số bình quân năm của tỉnh Thái Bình như sau: Bảng 1.2: Dân số và tỷ lệ tăng dân số bình quân năm của thành phố Hà Nội tính toán được từ kết quả tổng điều tra dân số 1999, 2009 và 2014 Dân số Tỷ lệ tăng dân số Tổng điều tra Công thức tính (người) bình quân năm (%) 01/10/1999 2.909)/10 1,82 Nguồn: 1999-2014: Tổng cục Thống kê. 2009: Ban chỉ đạo Tổng điều tra Dân số và Nhà ở TW.
Tổng điều tra Dân số và nhà ở 0 giờ ngày 01 tháng 4 năm 2009: Kết quả toàn bộ. Điều tra Dân số và nhà ở giữa kỳ thời điểm 1/4/2014: Các kết quả chủ yếu, Nhà XBTK.2 cho thấy, tỷ lệ tăng dân số bình quân năm của thành phố Hà nội trong những năm 90 rất nhanh đạt 8,8%/ năm. Tuy nhiên đến những năm đầu của thế kỷ 21, tỷ lệ tăng dân số của thành phố Hà nội lại giảm còn 1,82%/năm, chủ yếu là do tác động của xuất nhập cư. Luận văn thạc sĩ Kinh tế 8 1.
Lý thuyết quá độ dân số Có rất nhiều lý thuyết nói về sự tăng trưởng dân số tự nhiên, trong đó đáng chú ý nhất là lý thuyết về sự quá độ dân số. Lý thuyết này được các nhà nhân khẩu học phương Tây nghiên cứu dựa trên các quan sát về sự thay đổi dân số ở các nước công nghiệp hóa. Theo lý thuyết này, quá trình biến động dân số của mỗi nước đều trải qua ba thời kỳ. * Thời kỳ trước quá độ: Đây là thời kỳ được đặc trưng bởi mức sinh cao không có sự kiểm soát và mức chết cao do thiên tai, đói khát, bệnh tật và chiến tranh… Mức sinh và mức chết cao tạo nên sự cân bằng dân số lãng phí.
Hình thức này tồn tại trong các xã hội truyền thống có nền kinh tế nông nghiệp là chủ yếu. Ở đó, mọi người đều mong muốn có con đàn cháu đống vì những lợi ích kinh tế và vị thế xã hội có được nhờ sự đông con nhiều cháu. * Thời kỳ quá độ: là thời kỳ có những biến động lớn ở cả mức sinh và mức chết, tuy nhiên mức độ biến động của chúng được chia thành ba giai đoạn. - Giai đoạn đầu quá độ: xảy ra khi mức chết bắt đầu giảm xuống (nhưng còn chậm) do kinh tế bắt đầu phát triển, đời sống con người được nâng cao hơn, vệ sinh dịch tễ tốt hơn và các hình thức chăm sóc sức khỏe hiệu quả hơn.
Trong khi đó, ở gian đoạn này, mức sinh vẫn còn cao và có nơi vẫn tiếp tục tăng. Trạng thái cân bằng lãng phí bị phá vỡ, gia tăng dân số bắt đầu xuất hiện. - Giai đoạn giữa quá độ biểu hiện ở chỗ mức chết giảm xuống rất nhanh cùng với sự phát triển của xã hội, mức sinh bắt đầu giảm nhẹ do nhu cầu sinh thay thế giảm cùng với ý thức về gánh nặng kinh tế của gia đình đông con lan rộng. Trạng thái cân bằng dân số bị phá vỡ trầm trọng, dân số tăng trưởng rất nhanh.
- Giai đoạn cuối quá độ, mức sinh giảm xuống rất nhanh trong khi mức chết lại chững lại và chỉ có thể giảm nhẹ vì nó gần với mức độ sinh lý, khoảng cách giữa sinh và chết bị thu hẹp lại, dân số tăng chậm.