Đặt vấn đề Trong quá trình phát triển kinh tế, xã hội theo hướng hội nhập khu vực và quốc tế, ngành chăn nuôi nói chung và chăn nuôi trâu bò nói riêng chiếm vị trí hết sức quan trọng. Chăn nuôi trâu, bò cung cấp thịt, sữa có giá trị dinh dưỡng cao cho con người, đồng thời cung cấp nguyên liệu cho ngành công nghiệp chế biến, cung cấp nguồn phân hữu cơ lớn cho ngàng trồng trọt Muốn phát triển chăn nuôi, song song với làm tốt công tác giống, công tác chăm sóc nuôi dưỡng, cần phải làm tốt công tác phòng trừ dịch bệnh. Khí hậu nước ta nóng và ẩm là điều kiện thuận lợi cho dịch bệnh phát triển. Hiện nay, một số bệnh do vi khuẩn, virus cơ bản đã được ngăn chặn bằng cách tiêm phòng định kỳ các loại vacxin có chất lượng cao, nhưng các bệnh ký sinh trùng vẫn lưu hành đang gây tác hại âm ỉ và lâu dài.
Trong đó phải kể đến bệnh tiên mao trùng - một bệnh ký sinh trùng nguy hiểm trên đàn trâu bò. Bệnh tiên mao trùng là bệnh truyền lây giữa người và gia súc do ký sinh trùng đơn bào (Protozoa), lớp trùng roi (Flagellata) gây ra. Có nhiều loài thuộc giống Trypanosoma, như: Trypanosoma brucei, Trypanosoma cruzi, Trypanosoma evansi, Trypanosoma congolense, Trypanosoma gambiense, Trypanosoma vavax, Trypanosoma siminae… Theo số liệu của Phạm Sỹ Lăng (1982), Phan Địch Lân và cs (2004), Phan Văn Chinh (2006), bệnh tiên mao trùng xuất hiện ở nhiều vùng trên cả nước, với tỷ lệ mắc khá cao: trên trâu là 13 - 30%, trên bò là 7 - 14%, trong đó tỷ lệ gia súc chết/gia súc mắc lên tới 6,3 - 20%. Cũng theo báo cáo của các tác giả trên, tỷ lệ mắc bệnh tiên mao trùng ở gia súc vùng núi và trung du cao hơn vùng đồng bằng và ven biển.
Trong khi đó, ở nước ta, chăn nuôi gia súc nhai lại để cung cấp sức kéo, thịt, sữa lại tập trung chủ yếu ở các tỉnh miền núi và trung du - là các vùng có điều kiện tự nhiên thích hợp cho sự phát triển chăn nuôi gia súc nhai lại, nhưng cơ sở hạ tầng phục vụ công tác chẩn đoán và điều trị tại địa phương còn yếu kém; dẫn tới hệ quả là bệnh tiên mao trùng trở nên phổ biến hơn, nghiêm trọng hơn và gây thiệt hại lớn hơn. n 2 Để có cơ sở xác định các đặc điểm bệnh lý và lâm sàng bệnh do Trypanosoma evansi gây ra ở trâu và ngựa tại tỉnh Tuyên Quang giúp cho công tác chẩn đoán và phòng, trị bệnh được tốt hơn, góp phần hạn chế những thiệt hại do bệnh tiên mao trùng cho gia súc chúng tôi tiến hành đề tài: "Nghiên cứu đặc điểm bệnh lý và lâm sàng bệnh do loài tiên mao trùng phân lập từ trâu của tỉnh Tuyên Quang trên chuột và ngựa thí nghiệm" 1. Mục tiêu nghiên cứu - Xác định được các đặc điểm bệnh lý và lâm sàng bệnh do loài tiên mao trùng phân lập từ trâu tại tỉnh Tuyên Quang trên động vật thí nghiệm (chuột, ngựa). Ý nghĩa khoa học và ý nghĩa thực tiễn của đề tài.
Ý nghĩa khoa học Kết quả của đề tài là những thông tin khoa học về đặc điểm bệnh lý và lâm sàng bệnh do loài tiên mao trùng phân lập từ trâu bệnh tại tỉnh Tuyên Quang trên cả chuột và ngựa gây nhiễm, là tiền đề cho các nghiên cứu sâu hơn về bệnh. Ý nghĩa thực tiễn Kết quả của đề tài là cơ sở khoa học cho việc chẩn đoán bệnh và khuyến cáo người chăn nuôi áp dụng quy trình phòng, trị bệnh tiên mao trùng; nhằm hạn chế tỷ lệ nhiễm và thiệt hại do Trypanosoma evansi gây ra; góp phần nâng cao năng suất chăn nuôi, thúc đẩy ngành chăn nuôi trâu, bò phát triển. n 3 PHẦN 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 2. Cơ sở khoa học của đề tài 2.
Đặc điểm hình thái, cấu trúc và phân loại tiên mao trùng 2. Vị trí của tiên mao trùng Trypanosoma trong hệ thống phân loại động vật học Theo Levine và cs (1980) (dẫn theo Lương Văn Huấn và cs, 1997) [8], vị trí của tiên mao trùng trong hệ thống phân loại nguyên bào (Protozoa) như sau: Ngành Sarcomastigophora Phân ngành Mastigophora Lớp Zoomastigophorasida Bộ Kinetoplastorida Phân bộ Trypanosomatorida Họ Trypanosomatidae Donein, 1901 Giống Trypanosoma Gruby, 1843 Giống phụ Megatrypanum Hoare, 1964 Loài Trypanosoma (M) theileria Giống phụ Herpetosoma Donein, 1901 Loài Trypanosoma (H) leisi Giống phụ Schizotrypanum Chagas, 1909 Loài Trypanosoma (S) cruzi Giống phụ Duttonella Chalmers, 1918 Loài Trypanosoma (D) vivax Loài trypanosome (D) uniform Giống phụ Nalmomonas Hoare, 1964 Loài Trypanosoma (N) congolense Loài Trypanosoma (N) siminae Loài Trypanosoma (N) vanhogi Giống phụ Trypanosoma Liihe, 1906 Loài Trypanosoma (T) brucei Loài Trypanosoma (T) gambience n 4 Loài Trypanosoma (T) rhodesiense Loài Trypanosoma (T) equiperdum Giống phụ Pycnomonas Hoare, 1964 Loài Trypanosoma (P) suis Giống phụ Trypanosoma Gruby, 1843 Loài Trypanosoma evansi (Steel, 1885) Trong các loài tiên mao trùng trên, có 7 loài đã được tổ chức dịch tễ quốc tế (OIE) thông báo là có khả năng gây bệnh cho người và động vật có vú, đó là: T. Đặc điểm hình thái, cấu tạo của tiên mao trùng Phạm Sỹ Lăng (1982) [17], cho biết: T. evansi thuộc giống Trypanosoma Gruby.
(1843), là những tiên mao trùng có hình suốt chỉ thon, mảnh, hai đầu thót tròn hoặc nhọn. Thân là một khối nguyên sinh chất, giữa có một nhân, cuối thân có một thể cơ động (kinetoblast), hay còn gọi là hạch cơ động. Từ thể cơ động hoặc gần thể cơ động xuất hiện một roi đính vào thân, chạy dọc lên phía trước tạo thành màng rung động nhiều nếp gấp do có một đoạn tự do ở phía trước. Kết quả nghiên cứu của Phạm Văn Khuê, Phan Lục (1996) [11], Trypanosoma evansi là loại ký sinh trùng ký sinh ngoài hồng cầu, có hình thoi, dài 18 - 34µm, giữa thân có một roi bắt nguồn là thể hình roi, cách đuôi T.
Roi này chạy dọc thân tạo thành nhiều màng rung động, cuối cùng roi này lơ lửng ở phần đầu tạo thành roi tự do. Nhờ có roi, màng rung động mà T. evansi chuyển động được trong máu của động vật. Tiêu bản máu nhuộm giemsa, nguyên sinh chất của T.
evansi bắt màu xanh nhạt, nhân bắt màu hồng. Tiên mao trùng ký sinh trong máu của động vật có xương sống, được truyền từ động vật này sang động vật khác theo phương thức cơ giới nhờ những côn trùng hút máu thuộc họ mòng Tabanidae, họ ruồi Stomoxydinae. Tiên mao trùng T. evansi được xếp vào loại đơn hình thái, cơ thể chỉ là một tế bào, có kích thước nhỏ, chiều dài 18 - 34µm (trung bình là 25µm), chiều rộng 1,5 - 2µm.
Cơ thể có hình suốt chỉ mảnh hoặc hình thoi, cuối thân n 5 nhọn. Nhìn chung, cấu trúc cơ bản của T. evansi cũng giống như cấu trúc của các loài tiên mao trùng khác thuộc họ Trypanosomatidae. Cấu trúc từ ngoài vào trong được chia thành 3 phần chính: - Vỏ: ngoài cùng là lớp vỏ dày 10 -15nm, vỏ được chia làm 3 lớp (lớp ngoài và lớp trong cùng tiếp giáp với nguyên sinh chất dầy hơn lớp giữa).
Lớp vỏ ngoài cùng được cấu tạo từ các phân tử Glycoprotein luôn biến đổi (Vanant Glycoprotein Surface - VGS). Tiếp giáp với lớp trong cùng là 9 cặp vi ống xếp song song dọc theo chiều dài thân tiên mao trùng. Chính nhờ sự sắp xếp của các cặp vi ống nên tiên mao trùng có hình dạng suốt chỉ mảnh (Hoare, 1972 [44]; Phạm Sỹ Lăng, 1982 [17]; Nguyễn Quốc Doanh, 1999 [7]). - Nguyên sinh chất: gồm lớp trong và lớp ngoài.
Trong nguyên sinh chất có chứa các nội quan: Ribosome có màu thẫm xen kẽ vùng không bào màu sáng, kinetoplast (thể cơ động), Mitochrondno, Reticulum (lưới nội bào) và mạng lưới Golgi. - Nhân: nhân tiên mao trùng có chứa ADN, hình bầu dục hoặc hình trứng. Nhân thường nằm ở vị trí trung tâm hoặc gần vị trí trung tâm cơ thể. Ngoài nhân, về phía cuối thân còn có thể Kinetoplast chứa ADN (KADN).
Từ Kinetoplast có một roi chạy vòng quanh thân lên đầu và ra phía ngoài cơ thể thành một roi tự do. Roi của tiên mao trùng có lớp vỏ ngoài cũng giống lớp vỏ của thân. Trong roi có 9 cặp vi ống ở xung quanh và một cặp ở trung tâm, xếp song song dọc chiều dài roi (Hoare, 1972 [44]; Nguyễn Quốc Doanh, 1999 [7]). Cấu tạo cơ bản của T.
Cấu trúc kháng nguyên của tiên mao trùng Trypanosoma evansi Kháng nguyên của T. evansi gồm 2 loại: kháng nguyên ổn định (kháng nguyên không biến đổi) và kháng nguyên biến đổi * Kháng nguyên ổn định (kháng nguyên không biến đổi) Phần lớn các thành phần kháng nguyên tiên mao trùng không biến đổi trong quá trình sống ký sinh. Bằng phương pháp điện di miễn dịch huyết thanh thỏ tối miễn dịch với T. evansi, Kageruka (1982), đã phát hiện tới 30 thành phần kháng nguyên khác nhau.
Có ba loại kháng nguyên không biến đổi ở màng nguyên sinh chất tế bào (ISG: Invanant Surface Glycoprotein): ISG 65, ISG 75, ISG 100. Do cấu trúc không gian ba chiều và đặc tính ưa nước, các loại này không kết hợp với kháng thể của vật chủ (Nolan, 1997). * Kháng nguyên biến đổi Về kháng nguyên biến đổi, cần đề cập đến sự biến đổi lớp vỏ bề mặt VSG (Variant Surface Glycoprotein), những quan điểm mới về sự xuất hiện kháng nguyên biến đổi của tiên mao trùng và cơ chế di truyền của kháng nguyên biến đổi. Nhờ kháng thể đặc hiệu được đánh dấu mà Vickerman và Luckins (1969), đã phát hiện ra sự biến đổi của lớp kháng nguyên bề mặt.
Lớp áo bề mặt này kích thích cơ thể vật chủ tạo ra kháng thể đặc hiệu với từng type kháng nguyên biến đổi VAT (Variable Antigen Type). Chỉ có kháng nguyên biến đổi mới có khả năng kích thích vật chủ tạo miễn dịch chủ động. Người ta ước lượng rằng, một con tiên mao trùng có ít nhất vài trăm hoặc vài nghìn VSG, nghĩa là 5 - 10% số gen của tiên mao trùng cung cấp cho kháng nguyên bề mặt này. Nhiều tác giả nghiên cứu về miễn dịch học cho rằng, tiên mao trùng biến đổi kháng nguyên bề mặt để né tránh miễn dịch đặc hiệu của vật chủ.
Tuy nhiên, Van Meirvenne (1975), cho biết, sự biến đổi kháng nguyên bề mặt của ký sinh trùng đã có ngay ở pha đầu tiên của quá trình nhiễm (trước khi xuất hiện đáp ứng miễn dịch của cơ thể vật chủ). Theo Hajduc và Vickernlan (1981), hiện tượng biến đổi kháng nguyên bề mặt của tiên mao trùng còn thấy n 7 ở gia súc đã bị tiêm thuốc làm suy giảm miễn dịch. Những quan điểm này là hoàn toàn mới để lý luận về sự xuất hiện kháng nguyên biến đổi của tiên mao trùng. Như vậy, quan điểm về sự biến đổi kháng nguyên lớp vỏ của tiên mao trùng cho đến nay vẫn chưa thống nhất.