Đặt vấn đề Cysticercus tenuicollis là ấu trùng của sán dây trưởng thành Taenia hydatigena. Sán dây Taenia hydatigena ký sinh ở ruột non của chó, chó sói, cáo và các thú ăn thịt khác. Các đốt sán già theo phân ra ngoài, vỡ ra, giải phóng nhiều trứng sán. Trứng sán lẫn vào thức ăn, nước uống.
Nếu ký chủ trung gian là lợn, trâu, bò, dê, cừu. nuốt vào, đến dạ dày, ấu trùng 6 móc nở ra, chui vào mạch máu niêm mạc ruột, rồi theo tuần hoàn máu về bề mặt gan, các khí quan trong xoang bụng và phát triển thành ấu sán Cysticercus tenuicollis sau 3 tháng. Theo Nguyễn Thị Kim Lan và cs (1999) [8], ấu trùng Cysticercus tenuicollis ký sinh trên bề mặt các khí quan trong xoang bụng của vật chủ và gây bệnh. Ấu trùng là những bọc nước mang đầu sán dây Taenia hydatigena, có kích thước to, nhỏ không đều nhau bám ở bề mặt màng treo ruột, lách, gan, thận, phổi.
Vì thế, trong quá trình giết mổ có thể dễ nhầm lẫn ấu trùng với các bọc nước bình thường, từ đó không có biện pháp tiêu diệt ấu trùng, làm tăng nguy cơ lây nhiễm bệnh cho người và gia súc. Bệnh Cysticercus tenuicollis khi nhiễm nhẹ, chức năng của các khí quan rối loạn không rõ. Số lượng ấu sán nhiều gây rối loạn chức năng các khí quan trong xoang bụng, gây hiện tượng hoàng đản, con vật mất tính thèm ăn, sốt cao. Số lượng ấu sán nhiều còn gây chèn ép các khí quan trong xoang bụng, xoang ngực, có thể có triệu chứng của viêm màng bụng cấp tính.
Tuy nhiên, việc chẩn đoán bệnh đối với súc vật còn sống rất khó khăn vì không thể chẩn đoán bằng các phương pháp xét nghiệm phân, xét nghiệm e 2 máu và các xét nghiệm khác. Điều đáng quan tâm là hiện nay, bệnh do ấu trùng Cysticercus tenuicollis gây ra cho đàn gia súc chưa có thuốc điều trị đặc hiệu (Nguyễn Thị Kim Lan và cs, 2012 [11]). Những vấn đề trên cho thấy, việc tìm hiểu về đặc điểm của bệnh do ấu trùng Cysticercus tenuicollis gây ra ở lợn, để từ đó xây dựng biện pháp phòng chống thích hợp là hết sức cần thiết. Nghiên cứu này không những góp phần hạn chế tỷ lệ nhiễm ấu trùng sán dây ở lợn, mà còn góp phần phòng chống bệnh ấu trùng sán dây cho người và một số loài vật nuôi khác.
Xuất phát từ thực tiễn trên, chúng tôi tiến hành đề tài: "Nghiên cứu đặc điểm bệnh lý, lâm sàng của bệnh do ấu trùng sán dây Cysticercus tenuicollis gây ra ở lợn gây nhiễm và lợn nhiễm tự nhiên tại huyện Phú Lương, tỉnh Thái Nguyên". Mục tiêu và yêu cầu của đề tài Nghiên cứu đặc điểm bệnh học bệnh do ấu trùng Cysticercus tenuicollis gây ra ở lợn gây nhiễm và lợn nhiễm tự nhiên tại huyện Phú Lương, tỉnh Thái Nguyên. Đây là cơ sở khoa học để xác định được biện pháp phòng chống bệnh do ấu trùng Cysticercus tenuicollis gây ra ở lợn hiệu quả và phù hợp với điều kiện chăn nuôi ở huyện Phú Lương, tỉnh Thái Nguyên, từ đó xây dựng được quy trình phòng chống bệnh đạt hiệu quả cao 1. Ý nghĩa của đề tài - Ý nghĩa trong khoa học Kết quả của đề tài là những thông tin khoa học bổ sung và hoàn thiện thêm về đặc điểm bệnh học bệnh do ấu trùng Cysticercus tenuicollis gây ra ở lợn.
- Ý nghĩa trong thực tiễn Kết quả của đề tài là cơ sở khoa học để khuyến cáo người chăn nuôi áp dụng các biện pháp phòng, trị bệnh do ấu trùng Cysticercus tenuicollis gây ra, nhằm hạn chế tỷ lệ và cường độ nhiễm ở lợn, hạn chế thiệt hại do bệnh gây ra. e 3 PHẦN 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 2. Cơ sở khoa học 2. Sán dây ký sinh ở chó và ấu trùng sán dây Cysticercus tenuicollis 2.
Đặc điểm sinh học của sán dây ký sinh ở chó * Vị trí của sán dây chó trong hệ thống phân loại động vật học Cho đến nay các hệ thống phân loại sán dây đã trải qua nhiều thay đổi, song dường như vẫn chưa được thống nhất và ổn định (Nguyễn Thị Kỳ, 2003 [7]). và cs (1929) [25] đã lập nên một phân giống là Spirometra trong giống Diphyllobothrium. Đến năm 1937 Muller đề xuất giống Spirometra và thống nhất đổi tên loài Diphyllobothrium mansonoides thành loài Spirometra mansonoides. Rudolphi (1918) đã phát hiện ấu trùng của sán dây loài Spirometra ericnaice trên loài nhím ở châu Âu.
và cs (1929) [25] cũng đã phát hiện ấu trùng loài này trên nhím ở Trung Quốc và dạng sán trưởng thành ở chó. Theo Phan Thế Việt và cs (1977) [21], Nguyễn Thị Kỳ (1994) [6], (2003) [7], Nguyễn Thị Lê và cs (1996) [14], hệ thống phân loại sán dây của Việt Nam đã lựa chọn hệ thống phân loại của Schulz và Gvozdev (1970), để sắp xếp các loài sán dây phát hiện được ở người, chim, thú nuôi và hoang dại ở Việt Nam. Trong đó, sán dây ký sinh ở chó có vị trí như sau: Ngành sán dẹp (Plathelminthes) Lớp Cestoda Rudolphi, 1808 Phân lớp Eucestoda Southwell, 1930 Bộ Pseudophyllidea Carus, 1863 e 4 Họ Diphylloborthriidae Luhe, 1910 Giống Spirometra Mueller, 1937 Loài Spirometra erinacei-europaei (Rudolphi, 1819) Mueller, 1937 Loài Spirometra mansonoides (Mueller, 1935) Mueller, 1937 Bộ Cyclophyllidea Beneden in Braun, 1900 Phân bộ Hymenolepidata Skrjabin, 1940 Họ Dipylidiidae Mola, 1929 Giống Dipylidium Leuckart, 1863 Loài Dipylidium caninum Leuckart, 1758 Phân bộ Tta Skrjabin et Schulz, 1937 Họ Taeniidae Ludwig, 1886 Giống Taenia Linnaeus, 1758 Loài Taenia hydatigena Pallas, 1766 Loài Taenia pisiformis Bloch, 1780 Giống Echinococcus Rudolphi, 1801 Loài Echinococcus granulosus Batsch, 1786 Giống Multiceps Goeze, 1782 Loài Multiceps multiceps Leske, 1780. Phân bộ Mesocestoidata Skrjabin, 1940 Họ Mesocestoididae Perrier, 1897 Giống Mesocestoides, Wailand, 1863 Loài Mesocestoides lineatus Goeze, 1782 Phan Thế Việt và cs (1977) [21], Nguyễn Thị Kỳ (1994) [6], Nguyễn Thị Lê và cs (1996) [14], khi đề cập về thành phần loài sán dây ký sinh trên chó ở nước ta đều thống nhất rằng, các loài sán dây ký sinh ở chó đã tìm thấy ở Việt Nam gồm: e 5 Diphyllobothrium mansoni, Diphyllobothrium reptans, Dipylidium caninum, Taenia hydatigena, Taenia pisiformis, Multiceps multicep, Echinococcus granulosus, Mesocestoides lineatus.
Theo Nguyễn Thị Kim Lan và cs (1999) [8]: tính đến thời điểm hiện tại đã phát hiện hơn 30 loài sán dây ký sinh ở loài ăn thịt gây bệnh cho chó, mèo. Chúng đều thuộc bộ Cyclophyllidea và Pseudophyllidea. Kết quả tổng hợp của Phạm Sỹ Lăng (2002) [12] cho biết, đến nay đã phát hiện được 8 loài sán dây ký sinh trên chó ở miền Bắc Việt Nam. Việc mô tả hình thái các loài sán dây còn có nhiều thiếu sót, một số loài chưa có mô tả trên mẫu vật Việt Nam.
(1870) là người đầu tiên mô tả loài sán dây Diphyllobothrium latum tìm thấy ở Nam Bộ trên người. Sau này một số nhà ký sinh trùng học Việt Nam (Đỗ Dương Thái, Đặng Văn Ngữ, 1970; Đỗ Dương Thái, Trịnh Văn Thịnh, 1976) cho rằng, loài thuộc giống Diphyllobothrium ký sinh ở người Việt Nam không phải là Diphyllobothrium latum mà là loài Diphyllobothrium mansoni. Sự phán đoán này không dựa trên mẫu nên không có sự mô tả loài. Joyeux và Houdemer (1928), Nguyễn Thị Kỳ (1977) đã thống kê ở mèo nhà, cầy, chó Hà Nội có loài Diphyllobothrium reptans.
Theo Yamaguti (1959), loài này thuộc giống Spirometra. Theo tài liệu mới nhất về họ Diphyllobothiidae của các tác giả Delaimure S. (1985) Diphyllobothrium mansoni không là tên đồng vật của một loài nào trong họ này. Khi nói về lịch sử nghiên cứu loài Diphyllobothrium latum, các tác giả còn cho rằng, loài Spirometra erinacei-europaei của vùng nam bán cầu là một định dạng sai lầm và cho rằng chính loài này là Diphyllobothrium latum.
Tuy nhiên, các tác giả e 6 có ý định xem xét vị trí phân loại của giống Spirometra Mueller, 1937 và muốn coi giống này là giống chuẩn để thành lập họ Spirometridae (Nguyễn Thị Kỳ, 2003 [7]). Theo Nguyễn Thị Kỳ (2003) [7] cho biết: ở Việt Nam, hiện loài Diphyllobothrium mansoni, Diphyllobothrium reptans còn chưa rõ vị trí phân loại và không có mẫu. Tác giả đã xem xét lại toàn bộ vị trí phân loại và tình trạng mẫu, tình hình nghiên cứu về từng loài, đã tu chỉnh 1 loài Spirometra erinacei- europaei (Rudolphi, 1819) Mueller, 1937. Hiện nay trên thế giới có khoảng 40 loài sán dây gây bệnh cho chó và các thú ăn thịt thuộc họ chó mèo (Vương Đức Chất và cs, 2004 [1]).
* Đặc điểm hình thái, cấu tạo của sán dây chó Phan Thế Việt và cs (1977) [21], Nguyễn Thị Kỳ (1994) [6], Nguyễn Thị Lê và cs (1996) [16], Nguyễn Thị Kỳ (2003) [7] cho biết: Sán dây chó có những đặc điểm của lớp sán dây nói chung: hình dải băng màu trắng hoặc trắng ngà. Cơ thể dài, dẹp theo hướng lưng bụng, chia thành ba phần: đầu, cổ, thân (gồm những đốt sau cổ, có hình dạng và cấu tạo khác nhau). Đầu sán dùng để bám vào thành ruột vật chủ, nên có những hình dạng, kích thước và các cơ quan bám đặc trưng. Chiều rộng của đầu thường chỉ nhỏ hơn 1 mm, nhưng cũng có sán có đầu dài vài mm.
Cơ quan bám nằm trên đầu bao gồm rãnh bám hoặc giác bám, mõm, vòi và có nhiều móc. Ở một số loài sán dây trên móc bám có các móc bé xếp thành nhiều hàng. Giác bám là bộ phận đặc trưng của sán dây bậc cao. Móc bám nằm ngay trên đầu hay ở phần cuối vòi, sắp xếp thành một hay hai hàng.
Số lượng móc ở các nhóm sán dây dao động từ vài móc đến vài trăm móc. Kích thước, cấu tạo và số lượng móc cố định cho mỗi loài. e 7 Cổ là những đốt sán nối tiếp sau đầu. Đốt cổ của sán dây là đốt sinh trưởng, từ các đốt cổ sinh ra các đốt thân, cơ quan sinh sản ở các đốt cổ chưa hình thành rõ.
Thân sán dây lại gồm ba loại đốt: những đốt chưa thành thục về sinh dục (ở gần cổ), cơ quan sinh dục chưa phát triển đầy đủ, chỉ thấy cơ quan sinh dục đực. Những đốt thành thục về sinh dục (ở giữa thân), cơ quan sinh dục trong những đốt sán này đã phát triển đầy đủ, có đủ cả bộ phận sinh dục đực và cái, có hệ bài tiết, cấu tạo mỗi đốt tương tự như mỗi cơ thể sán lá, nhưng khác sán lá là không có hệ tiêu hoá. Những đốt già (ở cuối thân sán), bên trong đốt sán chứa đầy tử cung với vô số trứng sán dây. Ở những đốt già, bộ phận sinh dục đực bị thoái hoá.
Những đốt già thường xuyên được rời khỏi cơ thể sán và theo phân ra ngoài (đặc điểm này thấy ở những loài sán dây thuộc bộ Cyclophyllidea). Chiều dài của sán dây chó dao động từ 0,5 mm đến hàng chục mét. Cơ thể sán dây phủ lớp tiểu bì, đến lớp hạ bì, rồi đến lớp cơ vòng, cơ dọc. Phần bên trong chứa đầy nhu mô.
Bên trong lớp cơ là các khí quan của sán.