Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu
Đề tài "Nghiên cứu đặc điểm bệnh lý, lâm sàng của bệnh do ấu trùng sán dây Cysticercus tenuicollis gây ra ở lợn gây nhiễm và lợn nhiễm tự nhiên tại huyện Phú Lương, tỉnh Thái Nguyên" được thực hiện bởi sinh viên Nguyễn Văn Ân dưới sự hướng dẫn của ThS. Nguyễn Thu Trang tại Khoa Chăn nuôi Thú y, Trường Đại học Nông Lâm – Đại học Thái Nguyên (khóa học 2011 – 2016, bảo vệ năm 2015).
Bối cảnh thực tiễn của nghiên cứu xuất phát từ mối nguy cơ dịch tễ của Cysticercus tenuicollis – giai đoạn ấu trùng của loài sán dây Taenia hydatigena ký sinh ở ruột non của chó, chó sói, cáo và một số loài thú ăn thịt. Khi đốt sán già theo phân thải ra ngoài môi trường, trứng sán phát tán vào thức ăn, nước uống. Các loài gia súc đóng vai trò là ký chủ trung gian (như lợn, trâu, bò, dê, cừu) khi nuốt phải trứng sán sẽ giải phóng ấu trùng sáu móc tại dạ dày; ấu trùng sau đó xuyên qua niêm mạc ruột vào tuần hoàn máu để di hành đến bề mặt gan, màng treo ruột, màng mỡ chài và các khí quan trong xoang bụng, xoang ngực nhằm phát triển thành dạng bọc nước ấu sán Cysticercus tenuicollis. Trong thực tế giết mổ gia súc, ấu trùng này thường xuất hiện dưới dạng các túi nước có kích thước không đồng đều, dễ bị nhầm lẫn với các bọc nước bệnh lý thông thường dẫn đến việc không có biện pháp tiêu hủy triệt để, tạo điều kiện lây nhiễm ngược lại cho đàn chó và làm tăng nguy cơ phát tán mầm bệnh. Đáng chú ý, bệnh do ấu trùng Cysticercus tenuicollis trên đàn súc vật sống rất khó chẩn đoán thông qua các xét nghiệm phân thông thường và hiện chưa có phác đồ thuốc điều trị đặc hiệu trên diện rộng.
Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài gồm:
- Xác định thời gian hoàn thành giai đoạn phát triển, kích thước, khối lượng và vị trí ký sinh của ấu trùng Cysticercus tenuicollis trong cơ thể lợn gây nhiễm thực nghiệm.
- Theo dõi và ghi nhận các triệu chứng lâm sàng chủ yếu xuất hiện trên lợn bị gây nhiễm nhân tạo và lợn nhiễm tự nhiên ngoài thực địa.
- Phân tích sự biến đổi của một số chỉ số sinh lý máu (hồng cầu, bạch cầu, hemoglobin, hematocrit) và công thức bạch cầu ở lợn gây nhiễm so với lợn đối chứng khỏe mạnh.
- Giám định bệnh tích đại thể và những biến đổi vi thể tại các khí quan có ấu trùng ký sinh.
- Khảo sát tỷ lệ và cường độ nhiễm ấu trùng Cysticercus tenuicollis trên đàn lợn nuôi tại một số xã, thị trấn thuộc huyện Phú Lương, tỉnh Thái Nguyên.
Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:
- Đối tượng nghiên cứu: Lợn nuôi tại huyện Phú Lương, tỉnh Thái Nguyên và bệnh do ấu trùng sán dây Cysticercus tenuicollis gây ra trên lợn.
- Phạm vi không gian: Thực địa mổ khám thu thập mẫu tại xã Cổ Lũng, xã Động Đạt và thị trấn Đu thuộc huyện Phú Lương, tỉnh Thái Nguyên. Thực nghiệm xét nghiệm mẫu và giải phẫu bệnh lý tại Phòng thí nghiệm Khoa Chăn nuôi Thú y – Trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên và Bệnh viện Đa khoa Trung ương Thái Nguyên.
- Phạm vi thời gian: Đề tài tiến hành trong khoảng thời gian từ ngày 25/5/2015 đến ngày 25/11/2015.
Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu
Khung lý thuyết và phân loại học
Theo hệ thống phân loại sán dây của Schulz và Gvozdev (1970) được ứng dụng tại Việt Nam, loài sán dây trưởng thành Taenia hydatigena Pallas, 1766 thuộc: Ngành sán dẹp (Plathelminthes), Lớp Cestoda Rudolphi, 1808, Phân lớp Eucestoda Southwell, 1930, Bộ Cyclophyllidea Beneden in Braun, 1900, Phân bộ Taeniata Skrjabin et Schulz, 1937, Họ Taeniidae Ludwig, 1886, Giống Taenia Linnaeus, 1758. Ấu trùng của loài này là Cysticercus tenuicollis, cấu tạo gồm một bọc màng liên kết bên ngoài chứa đầy dịch thể trong suốt, bên trong mang một đầu sán lộn ngược có đường kính khoảng 1 mm với 4 giác bám và 29 – 44 móc bám. Chu kỳ sinh học yêu cầu vật chủ cuối cùng là động vật ăn thịt họ chó và vật chủ trung gian là các loài thú móng guốc.
Phương pháp nghiên cứu thực nghiệm trên lợn gây nhiễm
- Bố trí thí nghiệm: Sử dụng 16 con lợn 2 tháng tuổi khỏe mạnh, được sinh ra từ lợn mẹ an toàn dịch bệnh, nuôi dưỡng bằng thức ăn tổng hợp trong điều kiện cách ly hoàn toàn với chó và đảm bảo tiêu chuẩn vệ sinh thú y. Lợn được chia đều thành 2 lô: 8 con thuộc lô gây nhiễm (mỗi con cho nuốt 300.000 trứng sán dây Taenia hydatigena) và 8 con thuộc lô đối chứng (không gây nhiễm).
- Phương pháp mổ khám theo dõi động thái phát triển: Sau khi gây nhiễm, tiến hành mổ khám phi toàn diện từng cặp lợn (1 lợn gây nhiễm và 1 lợn đối chứng) tại 8 thời điểm: 15, 30, 45, 60, 75, 90, 105 và 120 ngày sau khi gây nhiễm để xác định vị trí ký sinh, đo đường kính ấu trùng bằng thước chuyên dụng và xác định khối lượng bằng cân điện tử.
- Phương pháp phân tích huyết học: Tại thời điểm 45 ngày sau gây nhiễm, lấy 5 ml máu/con trên 6 lợn gây nhiễm còn sống và 6 lợn đối chứng vào ống nghiệm tráng chất chống đông. Định lượng số lượng hồng cầu, số lượng bạch cầu, hàm lượng huyết sắc tố, tỷ khối hồng cầu (hematocrit) và công thức bạch cầu trên máy Osmetech OPTI – CCA/Blood Gas Analyzer.
- Phương pháp mô bệnh học (vi thể): Cắt các mảnh bệnh phẩm từ gan và ruột có ấu trùng ký sinh, cố định trong dung dịch Formol 10%, rửa nước chảy 12 – 24 giờ, khử nước qua cồn từ 70° đến 100°, làm trong qua Xylen, tẩm đúc paraffin ở 50°C, cắt lát mỏng 3 – 4 µm bằng máy cắt Microtome, dán lên phiến kính bằng dung dịch lòng trắng trứng - glycerin (Mayer), nhuộm cấu trúc tế bào bằng phương pháp Hematoxylin – Eosin (H.E), gắn lamen bằng Baume Canada và soi đọc tổn thương dưới kính hiển vi quang học ở độ phóng đại 200 lần và 400 lần.
Phương pháp nghiên cứu thực địa và xử lý dữ liệu
- Phương pháp điều tra thực địa: Tiến hành mổ khám phi toàn diện kiểm tra cơ quan nội tạng của 323 con lợn tại các điểm giết mổ và nông hộ trên địa bàn xã Cổ Lũng, xã Động Đạt và thị trấn Đu. Ghi nhận sự hiện diện của ấu trùng ở xoang bao tim, xoang ngực, gan, lách, màng mỡ chài, màng treo ruột; thu thập và bảo quản ấu trùng trong cồn 70°.
- Phương pháp xử lý số liệu: Toàn bộ dữ liệu thu thập được xử lý theo phương pháp thống kê sinh học trong chăn nuôi thú y (theo tài liệu của Nguyễn Văn Thiện, 2008) trên phần mềm máy tính Minitab 15, tính toán các tham số trung bình ($x \pm m_x$) và kiểm định mức ý nghĩa thống kê ($P$).
Nội dung chính theo từng chương
Phần 1: Mở đầu
Trình bày cơ sở khoa học và thực tiễn của bệnh ấu trùng sán dây Cysticercus tenuicollis, tính chất nguy hiểm của việc tổn thương nội tạng gia súc do ấu trùng di hành, sự thiếu hụt phương pháp chẩn đoán lâm sàng khi con vật còn sống và sự vắng mặt của thuốc điều trị đặc hiệu. Khẳng định mục tiêu đề tài nhằm bổ sung cơ sở khoa học về bệnh học và dịch tễ để phục vụ công tác kiểm soát thú y tại địa phương.
Phần 2: Tổng quan tài liệu
Hệ thống hóa toàn diện các nghiên cứu về sán dây ký sinh ở chó và dạng ấu trùng Cysticercus tenuicollis:
- Phân loại học, đặc điểm cấu tạo hình thái cơ thể của sán dây trưởng thành (đầu, cổ, đốt non, đốt thành thục, đốt già mang tử cung chứa trứng) và chu kỳ sinh học qua vật chủ trung gian.
- Bệnh sinh học của Cysticercus tenuicollis: Cơ chế ấu trùng 6 móc di hành phá hủy mô gan, tạo các đường hầm xuất huyết, kích hoạt phản ứng viêm phúc mạc sợi huyết (fibrin), viêm màng bụng, hoàng đản và suy nhược.
- Các dẫn liệu dịch tễ trong nước và quốc tế về tỷ lệ nhiễm ấu trùng trên gia súc (lợn, trâu, bò, dê, cừu) và các tổng kết về thuốc phòng trị như Praziquantel, Niclosamid (Yomesan), Albendazole.
Phần 3: Đối tượng, nội dung và phương pháp nghiên cứu
Quy định chi tiết thiết kế nghiên cứu thực nghiệm trên 16 lợn 2 tháng tuổi (lô gây nhiễm 300.000 trứng sán Taenia hydatigena so với lô đối chứng) và thiết kế khảo sát thực địa trên 323 lợn tại 3 xã, thị trấn của huyện Phú Lương. Mô tả các quy trình kỹ thuật: mổ khám phi toàn diện, định lượng chỉ tiêu máu bằng máy phân tích tự động, quy trình làm tiêu bản mô bệnh học tẩm đúc paraffin nhuộm H.E và phương pháp phân tích phương sai trên Minitab 15.
Phần 4: Kết quả nghiên cứu và thảo luận
Tập hợp toàn bộ các phát hiện thực nghiệm và số liệu khảo sát dịch tễ, chia thành hai nhánh nghiên cứu:
- Nhánh thực nghiệm gây nhiễm: Động thái phát triển kích thước và khối lượng ấu trùng theo thời gian (từ 15 đến 120 ngày); các biểu hiện triệu chứng lâm sàng; mức độ biến đổi các chỉ số hồng cầu, bạch cầu và công thức bạch cầu sau 45 ngày; các tổn thương đại thể tại gan, lách, màng treo ruột, màng mỡ chài, thành ruột; biến đổi mô bệnh học vi thể tại gan và ruột.
- Nhánh khảo sát thực địa: Tỷ lệ và cường độ nhiễm ấu trùng tại xã Động Đạt, Cổ Lũng và thị trấn Đu; phân tích sự tương quan giữa điều kiện địa hình, tập quán chăn nuôi nông hộ so với chăn nuôi tập trung tới nguy cơ nhiễm bệnh.
Phần 5: Kết luận, tồn tại và đề nghị
Đưa ra kết luận tổng hợp về thời gian thành thục sinh học của ấu trùng (60 – 75 ngày), các chỉ dấu lâm sàng - huyết học - bệnh lý quan trọng, thực trạng nhiễm tự nhiên ở lợn tại huyện Phú Lương và kiến nghị các biện pháp quản lý chăn nuôi, tẩy giun sán định kỳ cho chó để cắt đứt nguồn lây.
Kết quả và đóng góp
Kết quả trên lợn gây nhiễm thực nghiệm
Quá trình theo dõi 8 lợn gây nhiễm mổ khám định kỳ từ ngày thứ 15 đến ngày thứ 120 cho thấy ấu trùng Cysticercus tenuicollis có khả năng ký sinh ở nhiều vị trí trong xoang bụng lợn như bề mặt gan, nhu mô gan, lách, màng mỡ chài, màng treo ruột, thành ruột, cơ hoành, bàng quang và xoang phúc mạc. Ấu trùng đạt giai đoạn thành thục nhất (kích thước và khối lượng lớn nhất) vào khoảng 60 đến 75 ngày sau khi gây nhiễm, sau đó khối lượng có xu hướng ổn định hoặc giảm nhẹ.
| Ngày mổ khám sau gây nhiễm |
Vị trí ký sinh phát hiện |
Số lượng ấu trùng (con) |
Khối lượng trung bình ấu trùng (g) |
Đường kính ấu trùng (mm) |
| 15 |
Gan, lách, màng mỡ chài, màng treo ruột, thành ruột |
35 |
$0,16 \pm 0,01$ |
3 – 4 |
| 30 |
Gan, lách, màng mỡ chài, màng treo ruột, thành ruột |
44 |
$0,55 \pm 0,02$ |
7 – 13 |
| 45 |
Gan, lách, màng mỡ chài, thành ruột |
59 |
$1,18 \pm 0,03$ |
13 – 20 |
| 60 (thành thục) |
Gan, lách, màng mỡ chài, màng treo ruột, thành ruột |
68 |
$3,65 \pm 0,10$ |
14 – 37 |
| 75 (thành thục) |
Gan, màng mỡ chài, màng treo ruột, thành ruột |
65 |
$3,76 \pm 0,07$ |
26 – 39 |
| 90 |
Gan, lách, màng mỡ chài, màng treo ruột, thành ruột |
56 |
$3,59 \pm 0,07$ |
28 – 37 |
| 105 |
Gan, màng mỡ chài, màng treo ruột, thành ruột |
61 |
$3,56 \pm 0,06$ |
27 – 35 |
| 120 |
Gan, màng mỡ chài, màng treo ruột, thành ruột |
59 |
$3,51 \pm 0,06$ |
26 – 33 |
Về triệu chứng lâm sàng ở lợn gây nhiễm: 100% lợn gây nhiễm biểu hiện xù lông (8/8 con) và ăn kém (8/8 con); 75,00% có hiện tượng hoàng đản (vàng da, niêm mạc) (6/8 con); 62,50% bị rối loạn tiêu hóa, ỉa chảy (5/8 con); 50,00% gầy yếu (4/8 con); 12,50% sốt cao (1/8 con) và 12,50% bụng chướng to (1/8 con). Ở lô đối chứng, 100% lợn không xuất hiện bất kỳ triệu chứng lâm sàng nào.
Về biến đổi huyết học tại thời điểm 45 ngày sau gây nhiễm: Lợn bệnh bị suy giảm đáng kể các chỉ số dòng hồng cầu và gia tăng các chỉ số dòng bạch cầu bảo vệ cơ thể trước tác nhân ký sinh trùng.
| Chỉ số huyết học |
Lợn đối chứng ($n=6$) |
Lợn gây nhiễm ($n=6$) |
Mức ý nghĩa ($P$) |
| Số lượng hồng cầu ($10^6/\text{mm}^3$) |
$4,89 \pm 0,06$ |
$4,65 \pm 0,02$ |
$< 0,001$ |
| Số lượng bạch cầu ($10^3/\text{mm}^3$) |
$15,14 \pm 0,05$ |
$22,01 \pm 0,35$ |
$< 0,001$ |
| Hàm lượng huyết sắc tố ($\text{g}%$) |
$10,89 \pm 0,11$ |
$9,23 \pm 0,06$ |
$< 0,05$ |
| Tỷ khối hồng cầu - Hematocrit ($%$) |
$39,53 \pm 0,15$ |
$34,36 \pm 0,16$ |
$< 0,05$ |
Sự thay đổi trong công thức bạch cầu thể hiện phản ứng dị ứng và viêm nhiễm ký sinh trùng rõ nét: Tỷ lệ bạch cầu trung tính tăng lên $46,44 \pm 0,36%$ so với $41,46 \pm 0,58%$ ở đối chứng ($P < 0,01$); tỷ lệ bạch cầu ái toan tăng vọt lên $7,72 \pm 0,09%$ so với $4,72 \pm 0,15%$ ở đối chứng ($P < 0,001$); tỷ lệ tế bào lâm ba (lympho) giảm xuống còn $40,87 \pm 0,53%$ so với $48,47 \pm 0,37%$ ở đối chứng ($P < 0,05$); tỷ lệ bạch cầu ái kiềm ($1,38 \pm 0,07%$) và bạch cầu đơn nhân lớn ($3,32 \pm 0,17%$) biến đổi không có ý nghĩa thống kê ($P > 0,05$).
Bệnh tích đại thể ở lợn gây nhiễm xuất hiện nhiều nhất tại gan (100% lợn có bệnh tích, 4 – 16 ấu trùng, gan sưng, xuất huyết, hoại tử, bề mặt phủ màng fibrin dày có nhiều rãnh di hành); màng mỡ chài (100% lợn có bệnh tích, 13 – 37 ấu trùng, tụ huyết, xuất huyết); thành ruột (100% lợn có bệnh tích, 2 – 9 ấu trùng); màng treo ruột (87,50% lợn có bệnh tích, 8 – 15 ấu trùng, tụ huyết, thủy thũng); lách (62,50% lợn có bệnh tích, 2 – 5 ấu trùng). Bệnh tích vi thể ghi nhận tại gan biểu hiện tình trạng sung huyết, xuất huyết mô nặng nề và sự hiện diện của ấu trùng trực tiếp trong nhu mô gan; tại ruột quan sát thấy niêm mạc bị thoái hóa, bong tróc, tăng sinh thâm nhiễm nhiều tế bào viêm mãn tính bao gồm tương bào (plasmocyte) và bạch cầu ái toan tại lớp đệm và hạ niêm mạc.
Kết quả khảo sát dịch tễ trên đàn lợn thực địa
Khảo sát mổ khám 323 con lợn tại 3 địa bàn thuộc huyện Phú Lương ghi nhận tỷ lệ nhiễm tự nhiên chung là 9,29% với cường độ nhiễm dao động từ 1 đến 36 ấu trùng/con. Tỷ lệ nhiễm có sự phân hóa theo khu vực hành chính và phương thức chăn nuôi.
| Địa phương (xã, thị trấn) |
Số lợn mổ khám (con) |
Số lợn nhiễm (con) |
Tỷ lệ nhiễm ($%$) |
Cường độ nhiễm (ấu trùng/con) |
| Xã Cổ Lũng |
89 |
10 |
11,24 |
1 – 31 |
| Xã Động Đạt |
102 |
13 |
12,75 |
1 – 36 |
| Thị trấn Đu |
132 |
7 |
5,30 |
3 – 21 |
| Tính chung |
323 |
30 |
9,29 |
1 – 36 |
Tác giả giải thích tỷ lệ nhiễm tại xã Động Đạt ($12,75%$) và Cổ Lũng ($11,24%$) cao hơn rõ rệt so với thị trấn Đu ($5,30%$) là do địa hình đồi núi phức tạp, khí hậu ẩm thuận lợi cho trứng giun sán tồn tại ngoài môi trường, kết hợp với phương thức chăn nuôi nông hộ nhỏ lẻ, thời gian nuôi kéo dài, chuồng trại chưa chú trọng vệ sinh và tình trạng nuôi chó thả rông phổ biến. Ngược lại, tại thị trấn Đu chăn nuôi chủ yếu theo hướng công nghiệp, ý thức vệ sinh thú y của người dân tốt hơn.
Giải pháp và khuyến nghị của tác giả
- Quản lý giết mổ: Tuyệt đối không vứt bỏ bừa bãi hoặc cho chó ăn các phủ tạng (gan, phổi, lách, màng mỡ chài) chứa bọc nước ấu sán Cysticercus tenuicollis; phải gom tiêu hủy triệt để để cắt đứt chu kỳ sinh học của sán.
- Vệ sinh chuồng trại: Hạn chế tối đa việc nuôi chó thả rông trong khu vực chuồng trại chăn nuôi lợn; che chắn nguồn nước uống và nguồn thức ăn tránh nhiễm phân chó mang trứng sán dây.
- Tẩy sán định kỳ: Thực hiện tẩy sán dây Taenia hydatigena cho đàn chó nuôi bằng các loại thuốc có hiệu lực cao như Niclosamid (Yomesan liều ức chế hấp thu đường và chu trình Krebs) hoặc Praziquantel. Đối với lợn mắc bệnh nặng cần loại thải theo đúng quy chuẩn thú y.
Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp
Hạn chế của nghiên cứu:
- Thiết kế mổ khám theo dõi thời gian phát triển của ấu trùng trên lợn gây nhiễm chỉ tiến hành mổ khám 1 con lợn gây nhiễm và 1 con lợn đối chứng ở mỗi mốc thời gian (tổng cộng 8 mốc), quy mô mẫu ở từng thời điểm còn hạn chế.
- Xét nghiệm chỉ số huyết học mới chỉ được thực hiện tập trung tại một thời điểm cố định là ngày thứ 45 sau gây nhiễm, chưa theo dõi được liên tục toàn bộ biến thiên sinh lý máu từ khi nhiễm đến khi ấu trùng thành thục hoàn toàn (120 ngày).
- Phạm vi khảo sát dịch tễ học thực địa mới gói gọn trong thời gian 6 tháng tại 3 xã, thị trấn của huyện Phú Lương, chưa bao quát được toàn diện các mùa trong năm và các vùng sinh thái khác của tỉnh Thái Nguyên.
- Nghiên cứu chưa tiến hành thử nghiệm điều trị can thiệp bằng hóa dược trực tiếp trên đàn lợn nhiễm tự nhiên ngoài thực địa.
Hướng nghiên cứu tiếp theo:
- Mở rộng việc theo dõi các chỉ tiêu huyết học và miễn dịch học tại nhiều mốc thời gian hơn trong suốt vòng đời của ấu sán trong cơ thể lợn.
- Điều tra dịch tễ quy mô lớn trên toàn địa bàn tỉnh Thái Nguyên và các tỉnh trung du miền núi phía Bắc, đánh giá mối tương quan định lượng giữa tỷ lệ nhiễm sán dây ở chó và tỷ lệ nhiễm ấu sán ở đàn lợn nông hộ.
- Nghiên cứu thử nghiệm các phác đồ thuốc tẩy ấu sán tiềm năng trên diện hẹp nhằm tìm kiếm giải pháp điều trị cho lợn mắc bệnh.
Giá trị tham khảo
Khóa luận là tài liệu học thuật chuyên khảo có giá trị ứng dụng thực tiễn trong ngành Thú y và Chăn nuôi:
- Nhóm độc giả phù hợp: Sinh viên, học viên chuyên ngành Bác sĩ Thú y, Chăn nuôi Thú y; cán bộ kỹ thuật kiểm soát giết mổ tại các trạm thú y cấp huyện; kỹ thuật viên tại các phòng thí nghiệm bệnh lý thú y.
- Nội dung đáng tham khảo:
- Quy trình chi tiết bố trí thí nghiệm gây nhiễm nhân tạo trứng sán dây Taenia hydatigena trên động vật mô hình (lợn con 2 tháng tuổi).
- Phương pháp kỹ thuật chế tạo tiêu bản mô bệnh học tẩm đúc paraffin và nhuộm Hematoxylin – Eosin để chẩn đoán vi thể các tổn thương do ký sinh trùng di hành.
- Dữ liệu đối sánh hình thái học (đường kính, khối lượng) và thời gian sinh học thành thục của ấu trùng Cysticercus tenuicollis làm cơ sở đối chiếu trong kiểm soát vệ sinh thú sản.
- Các chỉ dẫn lâm sàng và phân biệt đại thể tổn thương gan, màng mỡ chài nhằm tránh bỏ sót ấu trùng sán tại các cơ sở giết mổ.
Câu hỏi thường gặp
1. Liều gây nhiễm thực nghiệm trứng sán dây cho lợn trong đề tài là bao nhiêu và thời gian ấu trùng phát triển đạt mức thành thục nhất là khi nào?
Mỗi lợn con 2 tháng tuổi thuộc lô thí nghiệm được cho nuốt liều $300.000$ trứng sán dây Taenia hydatigena. Kết quả theo dõi mổ khám định kỳ từ ngày thứ 15 đến ngày 120 cho thấy ấu trùng Cysticercus tenuicollis đạt giai đoạn thành thục nhất vào khoảng 60 đến 75 ngày sau gây nhiễm; tại thời điểm này ấu trùng đạt kích thước tối đa ($26 - 39\text{ mm}$) và khối lượng lớn nhất ($3,65 - 3,76\text{ g}$).
2. Các chỉ số tế bào máu nào của lợn biến đổi rõ rệt nhất sau 45 ngày gây nhiễm ấu trùng?
Tại mốc 45 ngày sau gây nhiễm, số lượng hồng cầu giảm rất rõ rệt từ $4,89 \pm 0,06 \times 10^6/\text{mm}^3$ (đối chứng) xuống còn $4,65 \pm 0,02 \times 10^6/\text{mm}^3$ ($P < 0,001$). Đồng thời, số lượng bạch cầu tăng vọt từ $15,14 \pm 0,05 \times 10^3/\text{mm}^3$ lên $22,01 \pm 0,35 \times 10^3/\text{mm}^3$ ($P < 0,001$). Trong công thức bạch cầu, tỷ lệ bạch cầu ái toan tăng mạnh từ $4,72 \pm 0,15%$ lên $7,72 \pm 0,09%$ ($P < 0,001$) và tỷ lệ bạch cầu trung tính tăng từ $41,46 \pm 0,58%$ lên $46,44 \pm 0,36%$ ($P < 0,01$).
3. Tổn thương đại thể và vi thể điển hình do ấu trùng gây ra tại gan lợn gồm những gì?
Về đại thể, 100% lợn gây nhiễm có bệnh tích ở gan: gan sưng to, xuất huyết, hoại tử nhu mô, bề mặt phủ màng fibrin dày đặc và có nhiều đường rãnh do ấu trùng di hành, xuất hiện từ 4 đến 16 ấu trùng ký sinh. Về vi thể, tổ chức mô gan bị sung huyết và xuất huyết nặng nề, phát hiện trực tiếp ấu trùng Cysticercus tenuicollis nằm sâu trong các khoảng mô gan.
4. Tỷ lệ nhiễm ấu trùng Cysticercus tenuicollis trên đàn lợn thực địa tại 3 địa phương huyện Phú Lương được ghi nhận như thế nào?
Mổ khám 323 con lợn ghi nhận tỷ lệ nhiễm chung là $9,29%$ (30 con nhiễm), cường độ nhiễm từ 1 đến 36 ấu trùng/con. Tỷ lệ nhiễm cao nhất tại xã Động Đạt với $12,75%$ (13/102 con), tiếp đến là xã Cổ Lũng với $11,24%$ (10/89 con), và thấp nhất là thị trấn Đu với $5,30%$ (7/132 con).
5. Những phác đồ thuốc nào được đề cập trong khóa luận để phòng trừ sán dây trưởng thành và ấu trùng?
Đối với sán trưởng thành ở chó, tài liệu tổng quan đề cập thuốc Niclosamid (Yomesan) với cơ chế ức chế hấp thu đường và chu trình Krebs làm sán chết tiêu hủy trong ruột (tỷ lệ sạch sán đạt 85%), hoặc Praziquantel liều diệt sán nhanh. Đối với ấu trùng trên gia súc, tác giả tổng quan phác đồ thử nghiệm dùng Praziquantel $30\text{ mg/kg}$ thể trọng/ngày trong 15 ngày chia 2 – 3 đợt, hoặc kết hợp Praziquantel ($15 - 20\text{ mg/kg}$ ngày đầu) với Albendazole ($15\text{ mg/kg/ngày}$ trong 30 ngày chia 2 – 3 đợt), kết hợp biện pháp loại thải gia súc nhiễm nặng.
Kết luận
Khóa luận của tác giả Nguyễn Văn Ân đã làm sáng tỏ các đặc điểm bệnh lý, lâm sàng của bệnh do ấu trùng Cysticercus tenuicollis gây ra trên cả mô hình lợn gây nhiễm thực nghiệm và đàn lợn nhiễm tự nhiên tại huyện Phú Lương, tỉnh Thái Nguyên. Nghiên cứu xác định thời gian thành thục của ấu trùng là 60 – 75 ngày sau khi nhiễm trứng sán, đồng thời chứng minh các tác động bệnh lý nghiêm trọng gây tổn thương xuất huyết hoại tử gan, phản ứng viêm mạn tính ở ruột và làm biến đổi bệnh lý huyết học rõ rệt (giảm hồng cầu, tăng cao bạch cầu ái toan và trung tính). Kết quả điều tra thực địa xác định tỷ lệ nhiễm tự nhiên ở lợn tại địa phương là 9,29%, qua đó cung cấp các cơ sở khoa học thiết thực cho công tác kiểm soát giết mổ, quản lý vệ sinh thú y và phòng chống chu kỳ lây truyền sán dây giữa chó và vật nuôi.