Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu

Chăn nuôi lợn giữ vai trò chủ lực trong ngành chăn nuôi gia súc tại Việt Nam, cung cấp khối lượng lớn thực phẩm giàu dinh dưỡng cho xã hội, cung cấp nguyên liệu cho ngành công nghiệp chế biến thực phẩm và nguồn phân bón hữu cơ có giá trị cao cho ngành trồng trọt (với thành phần dinh dưỡng trung bình gồm 5 - 25% chất khô, 1,6 - 1,8% nitơ, 0,6 - 2,1% photpho và 1,7 - 3,6% kali). Phân lợn còn được ứng dụng phổ biến làm khí đốt sinh học (biogas) nhằm xử lý chất thải và hạn chế ô nhiễm môi trường sinh thái. Tuy nhiên, điều kiện khí hậu nhiệt đới gió mùa nóng ẩm, đặc biệt là mùa mưa kéo dài, tạo môi trường thuận lợi cho các loài ký sinh trùng đường tiêu hóa phát triển và lây lan. Khác với các bệnh truyền nhiễm cấp tính do vi khuẩn hoặc virus gây thành dịch lớn, bệnh ký sinh trùng thường tiến triển ở thể mãn tính, bào mòn thể trạng, làm giảm khả năng hấp thu dinh dưỡng, tăng hệ số tiêu tốn thức ăn, làm giảm tăng trọng từ 15 - 20%, đồng thời làm suy giảm sức đề kháng và mở đường cho nhiều vi sinh vật gây bệnh cơ hội xâm nhập.

Giun tròn Trichocephalus spp. (giun tóc) là loài ký sinh trùng cư trú chủ yếu tại ruột già (manh tràng và kết tràng) của lợn, gây tổn thương niêm mạc ruột, rối loạn tiêu hóa và dẫn đến hội chứng tiêu chảy kéo dài. Tại tỉnh Thái Nguyên, chăn nuôi lợn chiếm tỷ trọng kinh tế quan trọng nhưng công tác giám sát, chẩn đoán bệnh lý và phòng trừ giun Trichocephalus spp. ở quy mô nông hộ và trang trại chưa được quan tâm đầy đủ. Do đó, khóa luận tốt nghiệp "Nghiên cứu đặc điểm bệnh lý và lâm sàng bệnh do giun tròn Trichocephalus spp. gây ra trên lợn tại thị xã Sông Công tỉnh Thái Nguyên và biện pháp phòng trị" của sinh viên Nguyễn Thị Ngân (ngành Thú y, Trường Đại học Nông Lâm – Đại học Thái Nguyên, năm 2013) được thực hiện nhằm giải quyết các vấn đề cấp thiết này.

Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài gồm:

  1. Xác định thời gian hoàn thành vòng đời, đặc điểm lâm sàng, sự biến đổi các chỉ số sinh lý máu, bệnh tích đại thể và vi thể ở lợn gây nhiễm thực nghiệm bằng ấu trùng giun Trichocephalus suis.
  2. Khảo sát tỷ lệ và cường độ nhiễm giun Trichocephalus suis trong điều kiện tự nhiên, so sánh mức độ nhiễm giữa lợn tiêu chảy và lợn bình thường, ghi nhận các triệu chứng lâm sàng và bệnh tích đại thể ở ruột già lợn tại địa phương.
  3. Đánh giá hiệu lực tẩy giun và độ an toàn của hai loại hóa dược (Bendazol và Ziquan-mectin) trên đàn lợn thực tế, từ đó đề xuất quy trình kỹ thuật phòng trị bệnh phù hợp cho cơ sở chăn nuôi.

Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:

  • Đối tượng nghiên cứu: Đàn lợn ở các lứa tuổi nuôi tại các nông hộ và trang trại; 10 lợn con 1 tháng tuổi khỏe mạnh phục vụ thí nghiệm gây nhiễm đối chứng; mẫu phân tươi, mẫu đất bề mặt, mẫu máu tĩnh mạch và bệnh phẩm ruột già.
  • Phạm vi không gian: Thực địa tại 4 xã (Vinh Sơn, Bá Xuyên, Tân Quang, Bình Sơn) thuộc thị xã Sông Công (nay là thành phố Sông Công), tỉnh Thái Nguyên; các phân tích trong phòng thí nghiệm được thực hiện tại Phòng Thí nghiệm Khoa Chăn nuôi Thú y – Trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên.
  • Phạm vi thời gian: Từ ngày 03/06/2013 đến ngày 18/11/2013.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp

Cơ sở lý thuyết của khóa luận dựa trên hệ thống phân loại học động vật của Skrjabin K. (1979) và Nguyễn Thị Lê và cs (1996), xếp loài Trichocephalus suis Schrank, 1788 thuộc bộ Trichocephalida, họ Trichocephalidae, giống Trichocephalus. Giun tóc lợn có cấu tạo hình thái đặc trưng: cơ thể dài màu trắng xám, phần trước thanh mảnh như sợi tóc chiếm 2/3 chiều dài cơ thể chứa thực quản cấu tạo dạng chuỗi tế bào đơn nhân, phần sau ngắn và phình to chứa ống tiêu hóa và cơ quan sinh dục. Giun đực dài 20 - 52 mm có đuôi cuộn tròn và một gai giao hợp dài 1,70 - 2,84 mm bao bọc bởi bao gai có nhiều gai nhỏ; giun cái dài 39 - 53 mm có đuôi thẳng và tử cung chứa hàng dài trứng hình hạt chanh với hai nút nhầy trong suốt ở hai cực, kích thước 0,052 - 0,066 x 0,024 - 0,030 mm. Vòng đời của giun diễn ra trực tiếp không qua ký chủ trung gian: trứng theo phân ra ngoại cảnh phát triển thành trứng cảm nhiễm chứa ấu trùng sau 15 - 28 ngày; lợn nuốt phải trứng cảm nhiễm qua thức ăn, nước uống, ấu trùng nở ra cắm sâu phần đầu vào niêm mạc manh tràng và kết tràng để ký sinh và phát triển thành giun trưởng thành sau khoảng 30 ngày. Cơ chế sinh bệnh bao gồm tác hại cơ giới (phá hủy tế bào biểu mô ruột, gây viêm loét, xuất huyết), tác hại chiếm đoạt chất dinh dưỡng và dịch mô bào, tác hại tiết độc tố làm cơ thể trúng độc mãn tính và tác hại mang trùng (mở đường cho vi khuẩn như E. coli, xoắn khuẩn và phẩy khuẩn xâm nhập gây viêm ruột hoại tử).

Phương pháp nghiên cứu thực nghiệm và điều tra dịch tễ học bao gồm:

  • Phương pháp thu thập mẫu: Áp dụng phương pháp lấy mẫu phân tầng ngẫu nhiên thu thập mẫu phân tươi của lợn ở các lứa tuổi, ghi nhận đầy đủ thông tin về lứa tuổi, tính biệt, trạng thái phân và biểu hiện lâm sàng.
  • Phương pháp xét nghiệm ký sinh trùng:
    • Phương pháp phù nổi Fulleborn (dùng dung dịch NaCl bão hòa có tỷ trọng lớn hơn tỷ trọng trứng giun) để phát hiện định tính sự hiện diện của trứng T. suis dưới kính hiển vi quang học độ phóng đại 100x.
    • Phương pháp đếm buồng đếm McMaster để định lượng số trứng trong 1 gam phân (EPG), phân loại cường độ nhiễm thành 3 mức: nhiễm nhẹ (≤ 500 trứng/g), nhiễm trung bình (> 500 - 1000 trứng/g), nhiễm nặng (> 1000 trứng/g).
    • Phương pháp Darling (kết hợp nước muối bão hòa và ly tâm tốc độ 3000 vòng/phút trong 3 - 5 phút) để thu gom và tinh sạch trứng giun phục vụ nuôi cấy và gây nhiễm nhân tạo.
  • Phương pháp bố trí thí nghiệm gây nhiễm: Sử dụng 10 lợn con 1 tháng tuổi sạch ký sinh trùng, chia thành 2 lô: Lô thí nghiệm (5 con) được cho uống dịch chứa trứng T. suis cảm nhiễm theo các mức liều tăng dần (3.000; 6.000; 9.000; 12.000; 15.000 trứng/con) và Lô đối chứng (5 con) không gây nhiễm. Lợn được nuôi nhốt riêng rẽ trong điều kiện vệ sinh kiểm soát, xét nghiệm phân hàng ngày để xác định thời điểm bắt đầu thải trứng, đo thân nhiệt, theo dõi biểu hiện lâm sàng và cân trọng lượng.
  • Phương pháp phân tích huyết học: Lấy mẫu máu tĩnh mạch chống đông sau 60 ngày gây nhiễm, phân tích số lượng hồng cầu, số lượng bạch cầu, hàm lượng huyết sắc tố (Hb) và tỷ lệ các loại bạch cầu (trung tính, ái toan, ái kiềm, lympho, đơn nhân lớn) trên máy phân tích huyết học tự động Cellta-Mek-6420k của hãng Nihon Kohden (Nhật Bản).
  • Phương pháp mổ khám và giải phẫu bệnh học: Mổ khám lợn sau 60 ngày gây nhiễm và lợn mổ khảo sát tại thực địa; quan sát biến đổi đại thể ở manh tràng, kết tràng, trực tràng; thu thập mô bệnh phẩm cố định trong dung dịch formol 10%, đúc khối paraffin, cắt tiêu bản bằng máy Microtome, nhuộm Hematoxilin - Eosin (H.E) và quan sát tổn thương vi thể dưới kính hiển vi ở độ phóng đại 150 - 600 lần.
  • Phương pháp thử nghiệm thuốc tẩy giun: Thử nghiệm trên 65 lợn nhiễm giun tự nhiên bằng 2 loại thuốc: Bendazol (dạng bột, trộn thức ăn liều 1g/10kg thể trọng cho 37 lợn) và Ziquan-mectin (dạng tiêm, liều 1ml/8kg thể trọng cho 28 lợn). Trọng lượng lợn được tính theo công thức: $Pkg = 87,5 \times VN^2 \times DT$ (trong đó $VN$ là vòng ngực tính bằng mét, $DT$ là dài thân tính bằng mét). Xét nghiệm kiểm tra phân vào các ngày thứ 5, 10 và 15 sau khi dùng thuốc để đánh giá tỷ lệ sạch trứng và theo dõi phản ứng lâm sàng của lợn sau 1 giờ dùng thuốc để đánh giá độ an toàn.
  • Phương pháp xử lý số liệu: Tính toán các giá trị trung bình ($\bar{X}$), sai số chuẩn ($m_x$), tỷ lệ phần trăm (%), kiểm định mức độ sai khác thống kê ($P < 0,05$ và $P > 0,05$) theo phương pháp thống kê sinh học của Nguyễn Văn Thiện (2008) trên phần mềm Microsoft Excel 2007.

Nội dung chính theo từng chương

Phần 1: Mở đầu

Trình bày cơ sở thực tiễn và tính cấp thiết của đề tài xuất phát từ vai trò của ngành chăn nuôi lợn tại Thái Nguyên, thiệt hại do bệnh giun tóc Trichocephalus spp. gây ra trên đường tiêu hóa và tình trạng thiếu hụt dữ liệu khoa học về bệnh lý lâm sàng của loài ký sinh trùng này tại địa bàn thị xã Sông Công. Xác định rõ mục đích nghiên cứu, ý nghĩa khoa học trong việc bổ sung dẫn liệu về vòng đời, huyết học, giải phẫu bệnh và ý nghĩa thực tiễn trong việc xây dựng phác đồ nhận biết và điều trị bệnh cho người chăn nuôi.

Phần 2: Tổng quan tài liệu

Hệ thống hóa toàn diện các công trình nghiên cứu trong và ngoài nước liên quan đến giun tóc lợn Trichocephalus suis. Phân tích chi tiết đặc điểm phân loại học, kích thước hình thái của con đực và con cái, cơ chế sinh học của vòng đời không qua ký chủ trung gian và sức đề kháng của trứng giun ngoài môi trường (bị tiêu diệt ở nhiệt độ từ 45°C trở lên hoặc qua quá trình ủ phân nhiệt sinh học). Lược khảo các nghiên cứu dịch tễ học tại Việt Nam (Nguyễn Đăng Khải, Phạm Sỹ Lăng, Nguyễn Thị Kim Lan...) chỉ ra tỷ lệ nhiễm giun tóc ở các vùng sinh thái dao động từ 2,3% đến 40,3%, tập trung cao ở lứa tuổi lợn con 2 - 4 tháng tuổi. Tổng quan các thực nghiệm quốc tế (Hale O., Helene Kringel, Jarvis Toivo...) chứng minh tác động gây giảm tăng trọng, thiếu máu và viêm loét ruột già của giun T. suis. Đồng thời điểm luận các nhóm hóa dược tẩy giun thông dụng như Levamisole, Fenbendazole, Mebendazole và Ivermectin.

Phần 3: Đối tượng, vật liệu, nội dung và phương pháp nghiên cứu

Mô tả chi tiết hệ thống trang thiết bị thí nghiệm (buồng đếm McMaster, máy ly tâm, máy Cellta-Mek-6420k, máy cắt Microtome), hóa chất và đối tượng động vật thí nghiệm. Chuẩn hóa quy trình lấy mẫu phân tầng tại 4 xã thuộc Sông Công, quy trình phân lập và đếm trứng, phương pháp gây nhiễm nhân tạo bậc thang trên lợn con 1 tháng tuổi, quy trình nhuộm mô học H.E, công thức tính liều lượng thuốc dựa trên đo kích thước thể trọng và phương pháp xử lý số liệu thống kê sinh học.

Phần 4: Kết quả và thảo luận

Trình bày và biện giải các phát hiện thực nghiệm và điều tra thực địa qua 3 nhóm nội dung chính:

  • Bệnh giun T. suis ở lợn gây nhiễm:
    • Vòng đời phát triển trong cơ thể lợn kéo dài từ 30 đến 31 ngày; số lượng trứng bài xuất qua phân tăng dần theo thời gian (đạt mức cao nhất vào giai đoạn 51 - 60 ngày sau gây nhiễm).
    • Triệu chứng lâm sàng xuất hiện ở 80% lợn gây nhiễm (4/5 con), đặc trưng bởi tình trạng phân sệt chuyển sang tiêu chảy phân lỏng kéo dài, lợn gầy còm, da khô, lông xù, niêm mạc nhợt nhạt. Khối lượng bình quân sau 60 ngày ở lô gây nhiễm chỉ đạt $25,66 \pm 0,40$ kg/con, thấp hơn rõ rệt so với lô đối chứng đạt $31,00 \pm 0,25$ kg/con ($P < 0,05$).
    • Chỉ số huyết học biến đổi rõ rệt: số lượng hồng cầu giảm xuống còn $4,68 \pm 0,11$ triệu/$\text{mm}^3$ máu (lô đối chứng đạt $5,01 \pm 0,13$), hàm lượng huyết sắc tố giảm còn $9,41 \pm 0,11\text{ g}%$ (lô đối chứng đạt $10,90 \pm 0,11\text{ g}%$), số lượng bạch cầu tăng lên $20,58 \pm 0,57$ nghìn/$\text{mm}^3$ máu (lô đối chứng là $15,21 \pm 0,13$). Công thức bạch cầu ghi nhận tỷ lệ bạch cầu trung tính giảm ($34,01%$), trong khi bạch cầu ái toan tăng vọt lên $10,04%$ (so với đối chứng $4,05%$) và lympho bào tăng lên $51,04%$ ($P < 0,05$).
    • Bệnh tích giải phẫu: Mổ khám 5 lợn gây nhiễm phát hiện 4 con có bệnh tích đại thể nặng ở manh tràng và kết tràng (niêm mạc sần sùi, viêm loét, xuất huyết màu hồng sẫm, lòng ruột chứa dịch màu nâu hồng, số lượng giun thu hồi từ 187 đến 1.832 con/lợn). Tổn thương vi thể tập trung ở manh tràng ($90%$ số tiêu bản) và kết tràng ($60%$ số tiêu bản), thể hiện sự phù nề, phá hủy tế bào biểu mô và thâm nhiễm dày đặc bạch cầu ái toan cùng đại thực bào; trực tràng không ghi nhận bệnh tích vi thể ($0%$).
  • Bệnh giun T. suis ở lợn nhiễm tự nhiên:
    • Xét nghiệm 607 mẫu phân tại thực địa ghi nhận tỷ lệ nhiễm chung là $23,23%$ (141 lợn nhiễm). Tỷ lệ nhiễm ở đàn lợn tiêu chảy đạt $36,11%$ (39/108 con), cao hơn nhiều so với đàn lợn bình thường đạt $20,44%$ (102/499 con). Đàn lợn tiêu chảy có tỷ lệ nhiễm cường độ trung bình ($33,33%$) và nặng ($10,26%$) cao hơn hẳn đàn lợn bình thường ($26,47%$ nhiễm trung bình và $0%$ nhiễm nặng).
    • Tỷ lệ lợn nhiễm giun thể hiện triệu chứng lâm sàng tại 4 xã là $17,02%$ (24/141 con). Mổ khám 100 lợn tại địa phương phát hiện 22 lợn nhiễm giun ($22,00%$), trong đó $31,82%$ số lợn nhiễm (7 con) có bệnh tích đại thể ở ruột già với cường độ từ 208 đến 698 giun/lợn.
  • Biện pháp phòng trị: Thử nghiệm lâm sàng thuốc Bendazol đạt hiệu lực sạch trứng $97,29%$ (36/37 con) và Ziquan-mectin đạt hiệu lực tuyệt đối $100%$ (28/28 con), hiệu lực chung đạt $98,46%$. Cả hai loại thuốc đều an toàn tuyệt đối, không gây phản ứng phụ bất thường sau khi sử dụng. Đề xuất quy trình phòng trị tổng hợp gồm vệ sinh chuồng trại, ủ phân sinh học nhiệt độ cao, định kỳ tẩy giun cho lợn con sau cai sữa (2 - 4 tháng tuổi) và lợn nái trước khi sinh.

Phần 5: Kết luận và đề nghị

Đúc kết các phát hiện cốt lõi về chu kỳ sinh học, sự thay đổi bệnh lý máu và cơ chế gây tổn thương đường ruột của T. suis, khẳng định hiệu quả điều trị của hóa dược và kiến nghị mở rộng tập huấn kỹ thuật chẩn đoán kết hợp phân tích phân, áp dụng quy trình phòng trị định kỳ cho các hộ chăn nuôi trên địa bàn tỉnh Thái Nguyên.


Kết quả và đóng góp

1. Số liệu thực nghiệm huyết học và giải phẫu bệnh

Thực nghiệm gây nhiễm đã chứng minh tác động bệnh lý toàn diện của T. suis lên các chỉ số sinh lý máu và tổ chức mô ruột lợn:

Chỉ số theo dõi Lô đối chứng ($n=5$) Lô gây nhiễm ($n=5$) Mức ý nghĩa ($P$)
Số lượng hồng cầu ($\text{triệu/mm}^3$) $5,01 \pm 0,13$ $4,68 \pm 0,11$ $P < 0,05$
Số lượng bạch cầu ($\text{nghìn/mm}^3$) $15,21 \pm 0,13$ $20,58 \pm 0,57$ $P < 0,05$
Hàm lượng huyết sắc tố ($\text{g}%$) $10,90 \pm 0,11$ $9,41 \pm 0,11$ $P < 0,05$
Bạch cầu trung tính ($%$) $41,76 \pm 0,11$ $34,01 \pm 0,51$ $P < 0,05$
Bạch cầu ái toan ($%$) $4,05 \pm 0,17$ $10,04 \pm 0,26$ $P < 0,05$
Bạch cầu ái kiềm ($%$) $1,41 \pm 0,01$ $1,28 \pm 0,02$ $P > 0,05$
Lâm ba cầu (Lymphocyte) ($%$) $49,09 \pm 0,50$ $51,04 \pm 0,35$ $P < 0,05$
Bạch cầu đơn nhân lớn (Monocyte) ($%$) $3,01 \pm 0,02$ $3,91 \pm 0,03$ $P > 0,05$
Khối lượng sau 60 ngày ($\text{kg/con}$) $31,00 \pm 0,25$ $25,66 \pm 0,40$ $P < 0,05$

Khảo sát mô bệnh học ghi nhận $90,00%$ tiêu bản manh tràng và $60,00%$ tiêu bản kết tràng có biến đổi vi thể điển hình (biểu mô ruột tổn thương bong tróc, phù nề cấu trúc, hình thành ổ viêm thâm nhiễm bạch cầu ái toan và đơn nhân lớn), trong khi trực tràng không bị tổn thương ($0%$).

2. Số liệu khảo sát dịch tễ học thực địa tại thị xã Sông Công

Trạng thái phân Số lợn kiểm tra (con) Số lợn nhiễm (con) Tỷ lệ nhiễm ($%$) Cường độ nhẹ $\le 500$ EPG ($%$) Cường độ TB $>500-1000$ EPG ($%$) Cường độ nặng $>1000$ EPG ($%$)
Tiêu chảy 108 39 36,11 56,41 33,33 10,26
Bình thường 499 102 20,44 73,53 26,47 0,00
Tính chung 607 141 23,23 68,79 28,37 2,84

Tỷ lệ lợn có bệnh tích đại thể tại các xã khảo sát qua mổ khám 100 con ghi nhận: xã Tân Quang cao nhất với $40,00%$ (2/5 lợn nhiễm có bệnh tích), xã Bình Sơn đạt $33,33%$ (3/9 lợn nhiễm), xã Bá Xuyên đạt $25,00%$ (1/4 lợn nhiễm) và xã Vinh Sơn đạt $25,00%$ (1/4 lợn nhiễm); số lượng giun ký sinh thực tế dao động từ 208 đến 698 con/lợn.

3. Hiệu lực điều trị và kiểm nghiệm an toàn của hóa dược

Tên thuốc và liều lượng sử dụng Số lợn điều trị (con) Cường độ trước tẩy ($\bar{X} \pm m_x$ EPG) Số lợn sạch trứng sau 15 ngày (con) Cường độ sau tẩy 15 ngày (EPG) Hiệu lực tẩy giun ($%$)
Bendazol ($1\text{g}/10\text{kg TT}$) 37 $507,57 \pm 38,18$ 36 90 97,29
Ziquan-mectin ($1\text{ml}/8\text{kg TT}$) 28 $513,21 \pm 50,87$ 28 0 100,00
Tính chung 65 $510,00 \pm 30,34$ 64 - 98,46

4. Đóng góp khoa học và thực tiễn của khóa luận

  • Đóng góp khoa học: Khóa luận cung cấp các dẫn liệu thực nghiệm chính xác về vòng đời sinh học của T. suis trên giống lợn nuôi tại miền núi phía Bắc (30 - 31 ngày hoàn thành vòng đời). Công trình làm sáng tỏ cơ chế sinh lý bệnh học thông qua các số liệu định lượng về tình trạng thiếu máu (hồng cầu và huyết sắc tố giảm), phản ứng viêm và đáp ứng dị ứng ký sinh trùng (bạch cầu tổng số và bạch cầu ái toan tăng mạnh), cùng bằng chứng mô bệnh học vi thể tại manh tràng và kết tràng.
  • Đóng góp thực tiễn: Khẳng định vai trò nguyên nhân trực tiếp và thứ phát của giun tóc trong hội chứng tiêu chảy ở lợn con, giúp người chăn nuôi và cán bộ thú y cơ sở tránh lạm dụng kháng sinh khi điều trị tiêu chảy do ký sinh trùng. Đưa ra phác đồ điều trị có hiệu lực cao bằng Ziquan-mectin ($100%$) và Bendazol ($97,29%$), kết hợp quy trình vệ sinh phòng dịch bằng ủ phân nhiệt sinh học để tiêu diệt mầm bệnh ngoài môi trường.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

Khóa luận được thực hiện trong khuôn khổ một đề tài tốt nghiệp đại học với một số giới hạn thực tế:

  • Hạn chế: Thời gian nghiên cứu tập trung trong giai đoạn từ tháng 6 đến tháng 11 năm 2013 (chủ yếu thuộc mùa hè và mùa thu), chưa bao quát toàn diện sự biến động dịch tễ học và tỷ lệ cảm nhiễm theo mùa đông - xuân. Quy mô đàn lợn gây nhiễm thực nghiệm còn nhỏ (10 con gồm 5 lợn thí nghiệm và 5 lợn đối chứng), phạm vi nghiên cứu thực địa giới hạn tại 4 xã thuộc thị xã Sông Công.
  • Hướng nghiên cứu tiếp: Cần tiếp tục theo dõi diễn biến tỷ lệ nhiễm giun T. suis theo chu kỳ 12 tháng trong năm; mở rộng điều tra mối liên hệ đồng nhiễm giữa T. suis với các tác nhân vi khuẩn đường ruột (E. coli, Salmonella) và các loài giun tròn đường tiêu hóa khác (Ascaris suum, Oesophagostomum spp.); nghiên cứu sâu hơn về sự biến đổi miễn dịch dịch thể và mô học ruột ở các giai đoạn sau 60 ngày nhiễm bệnh.

Giá trị tham khảo

Khóa luận là nguồn tài liệu tham khảo chuyên môn hữu ích cho sinh viên, học viên cao học chuyên ngành Thú y, Chăn nuôi Thú y và Bác sĩ thú y thực hành:

  • Phần phương pháp nghiên cứu: Cung cấp hướng dẫn chi tiết, chuẩn hóa về kỹ thuật xét nghiệm phù nổi Fulleborn, kỹ thuật đếm trứng giun bằng buồng đếm McMaster, quy trình thu nhận và nuôi cấy trứng cảm nhiễm bằng phương pháp Darling, kỹ thuật mổ khám kiểm tra giun tròn và quy trình nhuộm tiêu bản mô bệnh học ruột già bằng Hematoxilin - Eosin.
  • Phần chẩn đoán và điều trị: Cung cấp hệ thống bảng số liệu đối chiếu huyết học chuẩn xác giữa lợn khỏe và lợn bệnh, giúp ích cho việc chẩn đoán phân biệt hội chứng tiêu chảy lâm sàng và hướng dẫn cụ thể cách tính toán liều lượng thuốc tẩy giun theo thể trọng gia súc trên thực địa.

Câu hỏi thường gặp

1. Thời gian hoàn thành vòng đời của giun Trichocephalus suis trong cơ thể lợn gây nhiễm thực nghiệm là bao nhiêu ngày?

Theo kết quả theo dõi 5 lợn con 1 tháng tuổi được gây nhiễm trứng cảm nhiễm với các liều từ 3.000 đến 15.000 trứng/con, thời gian để ấu trùng phát triển thành giun trưởng thành và bắt đầu bài xuất trứng qua phân là từ 30 đến 31 ngày (lợn gây nhiễm liều 15.000, 12.000 và 6.000 trứng thải trứng vào ngày thứ 30; lợn gây nhiễm liều 9.000 và 3.000 trứng thải trứng vào ngày thứ 31 sau gây nhiễm).

2. Sự thay đổi các chỉ số máu và công thức bạch cầu ở lợn mắc bệnh giun tóc thể hiện như thế nào?

Sau 60 ngày gây nhiễm, lợn mắc bệnh có sự thay đổi rõ rệt về huyết học so với lợn đối chứng khỏe mạnh ($P < 0,05$): số lượng hồng cầu giảm từ $5,01 \pm 0,13$ xuống $4,68 \pm 0,11$ triệu/$\text{mm}^3$; hàm lượng huyết sắc tố giảm từ $10,90 \pm 0,11$ xuống $9,41 \pm 0,11\text{ g}%$; số lượng bạch cầu tăng từ $15,21 \pm 0,13$ lên $20,58 \pm 0,57$ nghìn/$\text{mm}^3$. Trong công thức bạch cầu, tỷ lệ bạch cầu trung tính giảm ($34,01%$ so với $41,76%$), trong khi tỷ lệ bạch cầu ái toan tăng mạnh ($10,04%$ so với $4,05%$) và lympho bào tăng ($51,04%$ so với $49,09%$).

3. Tỷ lệ và cường độ nhiễm giun Trichocephalus suis giữa đàn lợn tiêu chảy và lợn bình thường tại Sông Công có sự khác biệt ra sao?

Xét nghiệm 607 mẫu phân thực địa cho thấy lợn tiêu chảy có tỷ lệ nhiễm giun tóc là $36,11%$ (39/108 con), cao hơn nhiều so với lợn bình thường là $20,44%$ (102/499 con). Về cường độ nhiễm, lợn tiêu chảy nhiễm ở mức trung bình ($33,33%$) và nặng ($10,26%$) cao hơn đàn lợn bình thường ($26,47%$ nhiễm trung bình và $0%$ nhiễm nặng), chứng minh giun tóc là yếu tố trực tiếp hoặc tham gia gây ra hội chứng tiêu chảy ở lợn.

4. Bệnh tích đại thể và vi thể do giun Trichocephalus suis gây ra tập trung chủ yếu ở những vị trí nào?

Bệnh tích đại thể và vi thể tập trung chủ yếu ở manh tràng và kết tràng thuộc ruột già của lợn. Bệnh tích đại thể gồm niêm mạc sần sùi, xuất hiện nhiều nốt loét, xuất huyết màu hồng sẫm và lòng ruột chứa dịch màu nâu hồng. Bệnh tích vi thể xuất hiện ở $90,00%$ tiêu bản manh tràng và $60,00%$ tiêu bản kết tràng với tổn thương thoái hóa biểu mô, phù nề mô liên kết và thâm nhiễm dày đặc bạch cầu ái toan; trực tràng hoàn toàn không ghi nhận bệnh tích ($0%$).

5. Thuốc Bendazol và Ziquan-mectin đạt hiệu lực tẩy giun và độ an toàn như thế nào trên thực địa?

Thuốc tiêm Ziquan-mectin (liều 1ml/8kg thể trọng) đạt hiệu lực sạch trứng tuyệt đối $100%$ (28/28 lợn sạch trứng sau 15 ngày). Thuốc bột trộn thức ăn Bendazol (liều 1g/10kg thể trọng) đạt hiệu lực sạch trứng $97,29%$ (36/37 lợn sạch trứng, 1 lợn còn lại giảm mạnh số lượng trứng xuống còn 90 EPG). Cả hai loại thuốc đều an toàn, không gây phản ứng phụ bất thường cho lợn sau khi dùng thuốc.


Kết luận

Khóa luận của tác giả Nguyễn Thị Ngân đã xác định toàn diện các đặc tính bệnh học của giun tròn Trichocephalus suis trên đàn lợn tại thị xã Sông Công, tỉnh Thái Nguyên, chứng minh thời gian hoàn thành vòng đời sinh học trong cơ thể lợn kéo dài 30 - 31 ngày. Nghiên cứu cung cấp hệ thống số liệu định lượng khẳng định giun tóc gây tổn thương loét xuất huyết ruột già, dẫn đến hiện tượng thiếu máu, tăng bạch cầu ái toan, suy giảm tăng trọng và là nguyên nhân quan trọng gây hội chứng tiêu chảy ở lợn con. Đồng thời, công trình chứng minh hiệu lực tẩy giun cao của hai chế phẩm Bendazol ($97,29%$) và Ziquan-mectin ($100%$), cung cấp cơ sở thực tiễn đáng tin cậy để xây dựng quy trình chẩn đoán và phòng trị ký sinh trùng đường tiêu hóa trong sản xuất chăn nuôi.