MỞ ĐẦU 1.1 TÍNH CẤP THIẾT CỦA ĐỀ TÀI Trong những năm gần đây việc phát triển đàn trâu, bò về cả số lượng lẫn chất lượng là một vấn đề quan trọng, nhằm đáp ứng nhu cầu thực phẩm cho người tiêu dùng, ổn định nền kinh tế, góp phần nâng cao đời sống xã hội. Tuy nhiên, các bệnh xảy ra ở lứa tuổi bê, nghé đã gây ảnh hưởng rất lớn đến công tác phát triển chăn nuôi trâu bò, trong đó phải kể đến bệnh giun đũa bê nghé. Bệnh giun đũa bê nghé nói riêng và bệnh ký sinh trùng nói chung không gây thành ổ dịch lớn như các bệnh do vi khuẩn và virus, nhưng nó thường kéo dài âm ỉ, làm giảm năng suất chăn nuôi, ảnh hưởng đến khả năng sinh trưởng và phát triển của bê nghé. Theo Trịnh Văn Thịnh và cs (1993) [18], giun đũa Neoascaris vitulorum gây tiêu chảy chiếm tỷ lệ cao trong tổng số bê nghé sinh ra, tỷ lệ chết có thể tới 38,97% trong tổng số bê nghé bị bệnh.
Bệnh giun đũa là bệnh khá phổ biến ở bê nghé của nước ta. Bệnh thường phát vào vụ đông - xuân, ở bê nghé dưới 3 tháng tuổi. Bê nghé ở miền núi nhiễm giun đũa cao hơn trung du và đồng bằng. Theo Nguyễn Thị Kim Lan và cs (1999) [3], Phan Địch Lân và cs (2005) [7], bệnh do giun Neoascaris vitulorum gây ra, chúng ký sinh trong ruột non của bê nghé và gây ra các tác hại như: gây tổn thương ruột non, một số cơ quan (gan, phổi,… ) do ấu trùng di hành, giun lấy chất dinh dưỡng làm cho bê nghé gầy còm, chậm lớn.
Ngoài ra, giun đũa còn tiết độc tố làm cho bê nghé bị trúng độc, sốt cao, ỉa chảy, gầy sút và dễ chết nếu không được điều trị kịp thời. Sơn La là tỉnh thuộc vùng núi Tây Bắc có điều kiện tự nhiên thuận lợi để phát triển chăn nuôi trâu bò, bê, nghé. Tuy nhiên, do tập quán chăn nuôi của người dân còn mang tính chất quảng canh, chăn thả tự nhiên là chính, do vậy công tác chăm 2 sóc sức khỏe cho đàn gia súc, đặc biệt là gia súc non còn nhiều hạn chế, bệnh tật thường xảy ra nhiều, trong đó, bệnh tiêu chảy trên bê nghé thường xuyên diễn ra trong mùa mưa gây thiệt hại kinh tế đáng kể. Trong những năm gần đây, điều kiện tự nhiên và thời tiết khí hậu ở nước ta nói chung và ở các tỉnh miền trung nói riêng có nhiều biến đổi.
Điều đó có thể ảnh hưởng và làm thay đổi quy luật sinh tồn của ký sinh trùng, từ đó ảnh hưởng đến đặc điểm dịch tễ của bệnh. Xuất phát từ nhu cầu cấp thiết của thực tế chăn nuôi ở tỉnh Sơn La, từ những đề cập ở trên, tôi thực hiện đề tài: ” Nghiên cứu đặc điểm bệnh giun đũa bê, nghé và biện pháp phòng, trị tại một số xã miền núi thuộc tỉnh Sơn La ”.2 MỤC ĐÍCH NGHIÊN CỨU - Nghiên cứu nguyên nhân gây tiêu chảy trên đàn bê nghé từ 1 – 3 tháng tuổi do giun đũa. - Nghiên cứu để bổ sung những thông tin khoa học về đặc điểm dịch tễ học của bệnh giun đũa bê nghé trong điều kiện sinh thái hiện nay. - Xây dựng quy trình phòng chống bệnh giun đũa bê nghé để hạn chế tỷ lệ nhiễm giun đũa, giảm thiệt hại do bệnh giun đũa gây ra, góp phần phát triển chăn nuôi trâu bò.3 Ý NGHĨA KHOA HỌC VÀ THỰC TIỄN 1.1 Ý nghĩa thực tiễn Kết quả của đề tài là cơ sở để khuyến cáo người chăn nuôi trâu bò áp dụng biện pháp phòng trị bệnh giun đũa cho bê nghé, nhằm hạn chế tỷ lệ nhiễm giun đũa, hạn chế thiệt hại do giun đũa gây ra, góp phần nâng cao hiệu quả chăn nuôi, góp phần phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh Sơn La.2 Ý nghĩa khoa học Kết quả của đề tài làm hoàn thiện hơn những thông tin khoa học về bệnh giun đũa bê nghé tại một số địa phương của tỉnh Sơn La, đồng thời là cơ sở khoa học để xây dựng quy trình phòng trị bệnh giun đũa cho bê nghé.
3 Phần II TỔNG QUAN TÀI LIỆU 2.1 CƠ SỞ KHOA HỌC CỦA ĐỀ TÀI 2.1 Đặc điểm sinh học của giun đũa kí sinh ở bê, nghé 2.1 Vị trí của giun đũa bê, nghé trong hệ thống phân loại động vật Bệnh giun đũa do loài giun Neoascaris vitulorum (Goeze, 1782), hay còn có tên gọi khác là Toxocara vitulorum thuộc họ Anikidae gây ra. Theo Phan Thế Việt và cs (1977) [23], giun đũa bê nghé có vị trí trong hệ thống phân loại động vật học như sau: Nghành Nemathelminthes Schneider, 1873 Lớp Nematoda Rudolphi, 1808 Phân lớp Rhabditia Pearse, 1942 Bộ Ascaridida Skrjabin et Schulz, 1940 Phân bộ Ascaridina Skrjabin, 1915 Họ Anisakidae Skrjabin et Karokhin, 1945 Giống Neoascaris Travassos, 1927 Loài Neoascaris vitulorum Goeze, 1782.2 Đặc điểm hình thái của Neoascris vitulorum. Theo Phạm Văn Khuê và cs (1996) [9]; Nguyễn Thị Kim Lan và cs (1999) [3], giun tròn Neoascaris vitulorum có thân màu vàng nhạt, đầu có ba lá môi, rìa của những môi này có răng cưa, thực quản dài 3 - 4,5 mm, chỗ nối tiếp với ruột phình thành dạ dày nhỏ, vòng thần kinh và lỗ bài tiết ở ngang nhau phần đầu. + Giun đực không có cánh đuôi, dài 13 - 15 cm, rộng nhất 0,35 cm, đuôi dài 0,21 - 0,46 mm, thon tròn, trước và sau hậu môn ở phía bụng có 20 - 27 gai, có một đôi gai giao hợp dài 0,95 - 1,20 mm.
4 + Giun cái dài 19 - 23 cm, chỗ rộng nhất là 0,5 cm, âm hộ ở khoảng 1/8 trƣớc thân, đuôi hình nón dài 0,37 - 0,42 mm, đuôi có nhiều gai bao phủ. Trứng giun hơi tròn, có vỏ với. Theo Nguyễn Thị Kim Lan và cs (1999) [3]. Bệnh giun đũa rất phổ biến gây thiệt hại nhiều ở gia súc non giai đoạn bú sữa, đặc biệt từ sơ sinh đến 3 tháng tuổi.
+ Giun đũa bê, nghé có màu vàng óng hình ống 2 đầu hơi nhọn có 3 môi bao quanh miệng( một môi phía lưng, hai môi phía bụng). Trên rìa môi có một hàm răng cửa rất rõ. Giun đực dài từ 13 đến 15cm, rộng nhất là 0,35cm, đuôi dài 0,21 - 0,46mm thon tròn. Giun cái dài 19 đến 23cm đường kính 0,5cm, đuôi thẳng.
+ Giun đực có hai gai giao hợp dài bằng nhau 0,95mm và không có túi giao hợp, trứng giun đũa hình bầu dục, hơi ngắn, kích thước 0,08 - 0,09mm x 0,7 - 0,75mm vỏ dày gồm 4 lớp, lớp ngoài là protit, màu vàng cánh gián nhấp nhô. Theo những nghiên cứu của Taira và Fujita (1991) [27] từ năm 1982 - 1988, về giun tròn ở hai huyện Kyushu và Okinawa, Nhật bản. Hai tác giả đã nghiên cứu 7 giun đũa đực và 21 giun đũa cái về hình thái học, cho thấy độ dài trung bình của giun đực là 15,64cm ( 14,0 - 18,0cm), giun cái 25,75cm ( 16,5 - 34,0cm). Thân trắng đục và mềm.
Trứng giun dài 81,6µm và rộng 71,8µm, bề mặt vỏ trứng trơn nhẵn, không nhăn nheo. Theo mô tả của Urquhart G. và cs (1996) [28] thì giun đũa T.viturlorum là ký sinh trùng đường ruột lớn nhất của ở bê nghé, giun cái dài có thể đến 30cm. Giun đũa có thân dày, màu hơi hồng khi còn sống, và lớp biểu bì khá trong suốt nên có thể nhìn thấy được các cơ quan nội tạng.
Trứng giun đũa có một lớp vỏ dày và trong suốt.1: Cấu tạo giun đũa bê, nghe Neoascaris vitulorum. a) Miệng: 1- Đỉnh đầu; 2- Môi phía lưng; 3- Môi phía cạnh giáp bụng. b) Đầu, đuôi: 1- Đoạn đầu; 2- Gai giao hợp; 3- Đoạn đuôi con cái( phía cạnh). c) 1- Đoạn thân trước; 2.3 Đặc điểm vòng đời của Neoascaris vitulorum.
Giun đũa bê, nghé có tên là Neoascaris vitulorum thuộc họ Anisakidae, phát triển trực tiếp không qua ký chủ trung gian, giun trưởng thành sống trong ruột non của bê, nghé giun đẻ trứng theo phân ra ngoài phát triển phôi thai trong trứng. Sau đó lại vào cơ thể bê, nghé và phát triển qua 2 giai đoạn: + Giai đoạn ngoài môi trường: Giun cái trưởng thành đẻ trứng, trứng theo phân ra ngoài ( trứng có phôi không phân chia) gặp điều kiện ngoại cảnh thích hợp như ( nhiệt độ, độ ẩm, oxy…). Phôi bắt đầu phân chia và phát triển thành trứng có sức miễn cảm ( trứng có ấu trùng). Theo dõi quá trình hình thành phôi thai ta thấy quá trình phát triển của trứng ngoài môi trường, đến giai đoạn cảm nhiễm phụ thuộc vào điều kiện nhiệt độ.
Ở nhiệt độ từ 15oC đến 17oC quá trình cần 38 ngày Ở nhiệt độ từ 18oC đến 20oC quá trình cần 20 ngày Ở nhiệt độ từ 21oC đến 25oC quá trình cần 10 đến 12 ngày Ở nhiệt độ từ 28oC đến 30oC quá trình cần 7 ngày Ở nhiệt độ từ 31oC đến 32oC quá trình cần 6 ngày Ở nhiệt độ cao hơn 32oC trứng không phát triển. Qua thực nghiệm trứng bị phân hủy ở nhiệt độ cao hay dưới tác dụng của các chất sát trùng. Còn ở điều kiện khô hanh thì trứng phát triển kém và có khả năng bị tiêu diệt, khi trứng phát triển đến giai đoạn cảm nhiễm ( trứng có ấu trùng) nó có khả năng sống ở nhiệt độ từ 0oC đến 62oC. Ở điều kiện ngoại cảnh thích hợp, nó có thể tồn tại 1 năm.
Trứng có sức cảm nhiễm bị phân hủy dưới tác dụng của nước sôi. + Giai đoạn trong cơ thể: Bệnh giun đũa bê, nghé có 2 hình thức gây nhiễm đó là hình thức nhiễm qua bào thai và nhiễm trực tiếp nhưng chủ yếu nhiễm qua bào thai. Sau khi trứng giun đũa có sức cảm nhiễm, nhiễm vào cơ thể trâu, bò me do 7 ăn phải, dưới tác dụng của dịch vị và ruột non làm tăng sự phát triển của trứng. Vỏ trứng bị phân hủy và ấu trung thoát ra ngoài ( nếu ở lâu trong môi trường dịch vị ấu trùng sẽ bị chết) di chuyển xuống ruột non và sau đó chui qua thành ruột vào các mạch máu tới gan, tim và theo vòng tuần hoàn lên phổi.
Nếu ở bê, nghé ấu trùng sẽ từ phổi qua khí quản về yết hầu rồi trở lại đường tiêu hóa. Đến ruột non ấu trung qua nhiều bến đổi phát triển thành giun trưởng thành. Thời gian từ khi bê, nghé nuốt phải trứng giun có sức cảm nhiễm đến khi phát triển thành giun trưởng thành ít nhất là 43 ngày. Đối với gia súc lớn ấu trùng tự phá vỡ các mao mạch và phế nang phổi sau đó theo tĩnh mạch về tim trái và theo vòng tuần hoàn lớn đi khắp cơ thể.
Phần lớn các ấu trùng đến các mô và phủ tạng như: Cơ, thận, gan, não ở đó chúng đóng kén và tồn tại 5 đến 6 tháng.