ĐẶT VẤN ĐỀ Chăn nuôi gia súc, gia cầm từ lâu đã trở thành một vị trí quan trọng trong ngành chăn nuôi của nước ta. Trong những năm gần đây ngành chăn nuôi đã có những thay đổi đáng kể và góp phần không nhỏ trong quá trình phát triển của ngành nông nghiệp Việt Nam, góp phần vào việc nâng cao mức sống cho người nông dân ở nông thôn cũng như thành thị. Ngành chăn nuôi của nước ta đang chuyển dịch theo hướng công nghiệp hóa, ngày càng chuyên sâu góp phần nâng cao thu nhập, đời sống người nông dân và toàn xã hội. Đặc biệt ngành chăn nuôi gà ngày càng phát triển mạnh với quy mô lớn.
Tuy nhiên, cùng với sự phát triển thì tình hình dịch bệnh cũng diễn biến phức tạp. Trong đó bệnh đậu gà là một trong những bệnh truyền nhiễm nan giải tuy không gây chết ồ ạt trong một thời gian ngắn nhưng nó làm chết rải rác, kéo dài gây tổn thất khá lớn cho đàn gà. Bệnh gây ra bởi virus DNA thuộc nhóm Avipoxvirus, họ Poxviridae. Bệnh phân bố rộng khắp trên toàn thế giới, gây ảnh hưởng nghiêm trọng đến kinh tế đối với các đàn gia cầm vì nó gây giảm sản lượng trứng đối với đàn gà đẻ, gây giảm sự tăng trưởng đối với gia cầm non và gây tỷ lệ chết đáng kể đối với tổng đàn (Isa et al., 2002; Ariyshi et al.
Bệnh lây lan nhanh với những đặc trưng của bệnh là hình thành những nốt đậu hoặc vẩy ở những vùng da không có lông (gọi là thể ngoài da) hoặc hoại tử fibrin và các bệnh tích tăng sinh ở lớp màng nhầy của đường hô hấp trên, miệng, thực quản (gọi là thể thực quản). Gia cầm bị bệnh đậu có thể bị ở thể ngoài da hoặc thể bạch hầu hoặc có thể bị cả hai thể cùng lúc dẫn đến giảm sức đề kháng nên dễ kế phát với các bệnh khác cuối cùng gà chết. Đối với các nước tiên tiến, bệnh đậu gà vẫn được coi là bệnh nguy hiểm gây nhiều thiệt hại cho nền kinh tế. Ở nước ta thì bệnh đã và đang gây thiệt hại về nền kinh tế rất lớn cho người chăn nuôi như: thiệt hại về số lượng đầu con, giảm tốc độ tăng trưởng của gà, giảm sản lượng trứng ở gà đẻ, tiêu tốn nhiều thức ăn… Đứng trước thực tế trên thì yêu cầu tìm hiểu về bệnh cũng như chẩn đoán chính xác để ngăn chặn hạn chế dịch bệnh xảy ra là vô cùng cần thiết.
Trong các phương pháp chẩn đoán hiện nay thì PCR là phương pháp chẩn đoán nhanh, có độ chính xác cao. Phương pháp này có thể chẩn đoán chính xác khi lượng virus 1 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com trong con vật mắc bệnh rất nhỏ. Đây là ứng dụng to lớn của ngành công nghệ sinh học vào công tác chẩn đoán bệnh. Để khống chế, phòng và trị bệnh hiệu quả thì những kiến thức về đặc điểm bệnh lý cũng rất quan trọng.
Từ thực tế đó chúng tôi tiến hành nghiên cứu đề tài: “Nghiên cứu một số đặc điểm bệnh lý của bệnh đậu gà trên gà thả vườn tại huyện Kim Sơn - Ninh Bình”. MỤC ĐÍCH CỦA ĐỀ TÀI - Xác định các đặc điểm bệnh lý chủ yếu của bệnh đậu gà trên gà thả vườn từ đó đề xuất biện pháp phòng và điều trị bệnh có hiệu quả. 2 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail. TỔNG QUAN TÀI LIỆU 2.
LỊCH SỬ VÀ TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU BỆNH ĐẬU GÀ 2. Tình hình nghiên cứu bệnh đậu gà trên thế giới Bệnh đậu mùa đã có từ trước công nguyên, ở Ấn Độ, Trung Quốc các nhà khảo cổ đã tìm thấy những bức tranh mặt rỗ mà người xưa để lại. Vào thế kỷ thứ IV dịch đậu mùa khẩn cấp xảy ra ở La Mã, Ả-rập. Năm 572 quân đội La Mã xâm lược Châu Âu kéo theo ca bệnh đậu mùa lan tràn sang, thế kỷ thứ VII các dịch đậu mùa lớn xảy ra ở Châu Âu cùng với cuộc chinh chiến của quân đội ả rập.
Năm 1796 Jenner người đầu tiên nghiên cứu về vaccine phòng bệnh đậu mùa, ông lấy nốt đậu của người vắt sữa bò bị bệnh đậu bò chủng cho con ông và người con gái đã qua khỏi bệnh đậu mùa nguy hiểm này. Để ghi nhớ Jenner người đầu tiên tìm ra thuốc phòng, các nhà khoa học gọi các chất mang tính chất phòng bệnh sinh học tương tự là vaccine (xuất phát từ chữ vacca: con bò). Đậu gà đã được phát hiện từ lâu trên nhiều loại gia cầm. Ban đầu thuật ngữ đậu gà bao gồm tất cả các bệnh đậu virus của chim, nhưng ngày nay tiêu chí được sử dụng cho các bệnh ở đàn gia cầm thương phẩm.
Lúc đầu Woodruff và Goadpasture chứng minh rằng các tiểu phần virus trong thể ẩn là tác nhân gây bệnh đậu gà. Sau này người ta chứng minh rằng kháng huyết thanh kháng virus đậu gà hình thành sau miễn dịch hoặc sau khi khỏi bệnh đã ngưng kết một huyễn dịch các thể cơ bản của virus đậu gà. Năm 1805 luật chủng để phòng bệnh đậu bắt đầu thực hiện ở Tây Ban Nha. Năm 1869 Rivolta mô tả về thể vùi tế bào trong bệnh đậu gia cầm.
Năm 1873 Bollinger và năm 1874 Weighrtt đã phát hiện những tiến thể nội bào trong tế bào biểu bì của nốt đậu người mà Michaelis coi đó là những thể vùi đặc hiệu của bệnh đậu và mô tả kỹ tiểu thể nội bào trong bệnh đậu gà mà ngày nay được gọi là thể bao hàm Bollinger để nghi nhớ công người phát hiện. Năm 1887 Buist lần đầu tiên thấy virus đậu gà bằng kính hiển vi quang học. Năm 1904 Borrel khám phá ra các tiểu thể nhỏ (0,25nm) nằm rải rác trong các nguyên sinh chất tế bào hoặc kết lại thành đám gọi là tiểu thể bao hàm Bollinger, sự phát hiện này dẫn đến hàng loạt những nghiên cứu về bản chất của chúng (Lipschutz 1908, Vou. Prowazer và De.
Beaurepaire 1909; Sanfelice 1914; 3 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Eberbeckl 1927 Uoodrucff và Good Pasture 1929 – 1930, Ledingham 1931,1935, Herz – herg 1933, 1934, 1936; Baumann và Weissmann 1943.) và rất nhiều công trình nghiên bằng phương pháp hóa tổ chức học, nghiên cứu trên kính hiển vi điển tử. và ngày nay người ta đã xác đinh rõ bản chất sinh học của thể vùi tế bào này. Năm 1906 Paschen mô tả tiểu thể nội bào của bệnh đậu mùa trên tiêu bản phết.Blieck và Augbergen đã tiến hành tiêm chủng vaccine phòng bệnh đậu gà từ chủng giảm độc lực (chủng virus H ở Đức). Năm 1925 Parker đã nhân giống virus vacxinia trên tế bào nuôi.
Năm 1931 Woodruff và Good Pasture đã sử dụng phôi gà để nuôi cấy virus đậu gà và phát triển kỹ thuật nuôi cấy virus và màng niệu đệm của phôi trứng. Năm 1932 Bagle và Ledingham, Ebjozd và Andrewes đã xác định khả năng gây nhiễm của chất qua lọc và ly tâm tiểu thể nội bào của virus đậu. Năm 1954 Frennh và Reeves mô tả bệnh giống như bệnh đậu ở muỗi. Năm 1962 Nigelli mô tả bệnh đậu cá.
Năm 1963 Muller và Peter nghiên cứu về siêu cấu trúc của virus đậu bằng phương pháp nhuộm âm bản và soi kính hiển vi điện tử. Ngoài ra hàng loạt công trình nghiên cứu về đặc tính sinh học của virus đậu nói chung và đậu gà nói riêng, về cơ chế sinh bệnh, về chẩn đoán bệnh và về vaccine phòng bệnh. của nhiều tác giả như Likhatrep, 1970; Makanop Xergheep và Rubobenxki, 1970; Sirinop and Pharzaliep 1972; Palatka Zotan and Olanpal, 1970 đã làm sáng tỏ về bệnh đậu. Bệnh xảy ra nhiều nơi trên thế giới, gây thiệt hại đáng kể (Isa et al., 2002; Tripathy and Reed, 2003; Pledger, 2005).
Trong hơn 40 năm nay thiệt hại do bệnh đã giảm rất nhiều do hiệu quả của việc phòng bệnh bằng vaccine, ở các nước chăn nuôi gia cầm tiên tiến hầu như không còn thấy bệnh đậu. Bệnh xảy ra nhiều ở các nước có khí hậu nhiệt đới và cận nhiệt đới hơn các nước vùng ôn đới và hàn đới (Beytut and Haligur, 2007). Tình hình nghiên cứu bệnh đậu trong nước Ở Việt Nam có rất nhiều công trình nghiên cứu về bệnh đậu gà đặc biệt là công trình nghiên cứu của GS.TS Nguyễn Như Thanh trong việc nghiên cứu ra vaccine nhược độc đậu gà chủng C cho việc phòng bệnh có hiệu quả. 4 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Năm 1975, kết quả bước đầu nghiên cứu vaccine nhược độc đậu gà chế từ chủng C” đăng trong tạp chí Khoa học kỹ thuật nông nghiệp - Bộ Nông nghiệp.
Năm 1976, kết quả bước đầu nghiên cứu vaccine nhược độc đậu gà chế từ chủng C” đăng trong tạp chí Khoa học kỹ thuật nông nghiệp - Bộ Nông nghiệp. Năm 1978, kết quả bước đầu nghiên cứu vaccine nhược độc đậu gà chế từ chủng C - Bảo quản và thực nghiệm trong sản xuất đăng trong tạp chí Khoa học kỹ thuật nông nghiệp-Bộ Nông nghiệp. Năm 1979, quan sát bằng kính hiển vi điện tử sự nhân lên của virus nhược độc đậu gà chủng C trong nuôi cấy tế bào đăng trong tạp chí Khoa học kỹ thuật nông nghiệp - Bộ Nông nghiệp. Năm 1980, xác định hiệu giá virus trong hỗn dịch tế bào nuôi phôi gà sau khi gây nhiễm virus đậu gà đăng trong tạp chí Khoa học kỹ thuật nông nghiệp - Bộ Nông nghiệp.
Năm 1981, nghiên cứu một số đặc tính của virus nhược độc đậu gà trên môi trường nuôi tế bào. Báo cáo Khoa học kỹ thuật Nông nghiêp. Nhà xuất bản Nông nghiệp. Và một vài công trình nghiên cứu khác.
Xí nghiệp thuốc thú y trung ương cũng đã nghiên cứu thành công sản xuất vaccine nhược độc đông khô phòng bệnh đậu gà bằng công nghệ nuôi cấy tế bào. Đây là một bệnh lây lan chậm với những đặc trưng của bệnh là hình thành những nốt đậu hoặc vẩy ở những vùng da không có lông (gọi là thể ngoài da) hoặc hoại tử fibrin và các bệnh tích tăng sinh ở lớp màng nhầy của đường hô hấp trên, miệng, thực quản (gọi là thể thực quản). Ở nước ta, đặc biệt miền Bắc bệnh thường xảy ra ở vụ Đông xuân lúc thời tiết khô hanh, ở miền Nam bệnh xuất hiện vào mùa khô và lạnh. Bệnh phổ biến ở gà chăn nuôi gia đình, chăn nuôi nhỏ lẻ, phân tán không tiêm vaccine phòng bệnh nên khi đàn gà mắc bệnh mới đi tìm thuốc về chữa trị.
ĐẶC ĐIỂM CĂN BỆNH 2. Phân loại Virus đậu gia cầm (gà, gà tây, chim bồ câu, chim yến, vẹt, chim cút, chim sẻ, quạ, công, chim cánh cụt, kền kền, sáo) thuộc giống Avipoxvirus, họ 5 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail. Virus đậu gà (fowpox virus - FPV) là phân loại theo loài của giống. Theo các tác giả Bolte, A.
và Kaleta thì có khoảng 9.