CHƯƠNG 1. TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1. Trên thế giới 1. Nghiên cứu cơ sở khoa học cho việc bảo vệ nguồn giống Nghiên cứu giai đoạn phát triển sớm của cá có vị trí quan trọng trong ngư loại học, từ những tài liệu về thành phần và số lượng của chúng có thể tìm hiểu được thành phần khu hệ, xác định bãi đẻ, mùa vụ sinh sản và biến động số lượng đàn bổ sung.
Mặt khác nó còn là nhân tố quan trọng cho việc phát hiện nguồn giống, quy hoạch và bảo vệ nguồn lợi thuỷ sản. Khá nhiều lĩnh vực liên quan đến giai đoạn phát triển sớm của cá đang được quan tâm nghiên cứu như đa dạng loài, đánh giá nguồn lợi, phân loại học, đa dạng nguồn gen; đặc điểm sinh thái học như vòng đời, các đặc điểm sinh sản, dinh dưỡng, sự di cư, sự phát triển của cá thể; cấu trúc quần thể, chuỗi thức ăn, mối quan hệ giữa chúng với các quần xã khác; môi trường sống và sự ảnh hưởng của các yếu tối môi trường tới sự phát triển của chúng; nghiên cứu chuyên sâu về những loài đặc sản và sinh sản nhân tạo nhằm hỗ trợ cho việc khôi phục số lượng các loài thủy sản có giá trị về khoa học và kinh tế. Ngay từ đầu thế kỷ XX các nước có biển ở châu Âu và Liên Xô (cũ) đã có nhiều công trình nghiên cứu về trứng cá, cá con. Tiêu biểu là các công trình của Belyanina (1974) [79], Rass (1972) [167], Gorbunova (1965, 1972, 1974, 1977) [108, 109, 110, 111], Kovalevskaja (1964, 1965, 1972) [132, 133, 134], Parin (1964, 1972, 1974) [160, 161, 162], Mukhacheva (1964, 1972, 1974) [149, 150, 151]… Ở vùng nước Ấn Độ Dương có nghiên cứu của Jones và cộng sự (1978) [128]; Gorbunova 1965) [108].
Ở Nhật Bản có nghiên cứu của Mito (1960,1961) [146, 147]; Nakai (1962) [154]; Nishikawa và cộng sự (2007) [157]. Ở Philippin có nghiên cứu của Wade (1949, 1950) [193, 194]; Duray (1990) [100]. Ở Trung Quốc có nghiên cứu của Trần Chân Nhiên và Trương Hiếu Uy (1965) [44]… Công trình của Delsman (1922-1938) với các nghiên cứu về trứng cá, cá con của một số giống ở biển Java (Indonesia) như Clupea, Dorosoma, Engraulis, 15 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Pellona, Stolephorus, Cybium, Septibinna… [91, 92, 93, 94, 95, 96, 97]. Nhiều nhà khoa học cũng tiến hành khảo sát ở vùng đại dương này.
Phần lớn các công trình mới chỉ tập trung mô tả đặc điểm hình thái trong các giai đoạn phát triển trứng cá, cá con, điển hình là các nghiên cứu của Bensam (1971, 1981) [80, 81], với đối tượng là từng loài cá cụ thể. Mặt khác, năm 1981, ông cũng công bố báo cáo mang tính chất tổng hợp “Những vấn đề về mặt phân loại học trong việc định dạng trứng cá, cá con của cá Trích ở vùng biển Ấn Độ Dương” [80, 81]. Năm 1986, Victor [191] đã ước tính thời gian sinh trưởng của giai đoạn cá con của 100 loài thuộc họ cá Bàng chài - Labridae ở cả Thái Bình Dương và Đại Tây Dương dựa trên phương pháp đọc tuổi bằng nhĩ thạch. Nghiên cứu cho thấy, thời kỳ tăng trưởng này khác nhau ngay cả trong cùng một loài, nhất là các loài có pha sinh trưởng kéo dài.
Thời kỳ này ở những cá thể sống trong vùng Hawaii và Đông Thái Bình Dương dài hơn so với các cá thể cùng loài khác sống ở biển Carribe và Tây Thái Bình Dương. Ước tính tuổi bằng phương pháp nhĩ thạch tiếp tục được Victor sử dụng với đối tượng là họ cá Thia - Pomacentridae vào năm 1989, với kết quả rất khả quan. Phân loại cá con họ cá Mối (Synodontidae) đã được Norman (1935) nghiên cứu và xác định 6 loài hiện đang lưu giữ ở Viện Bảo tàng Tự nhiên Luân Đôn [159]. Cũng với đối tượng cá Mối, Delsman (1938) đã mô tả trứng cá, cá con của hai loài cá Mối thường (Saurida tumbil) và Mối vện (Synodus variegatus) thu được ở vùng biển Java (Indonesia) [91].
Các nhà khoa học Nhật Bản đã tiến hành nghiên cứu trứng cá, cá con của các loài có giá trị kinh tế như cá Trích Nhật. Từ năm 1962 đến 1966, Nakai đã công bố nhiều công trình về loài cá này như “Nghiên cứu các yếu tố môi trường ảnh hưởng tới sự thụ tinh và phát triển của trứng cá Trích - số liệu định lượng trứng” (1962); “Biến động số lượng của trứng cá, cá con cá Trích từ 1949 - 1951” (1962); “Ảnh hưởng của độ muối tới giai đoạn phát triển sớm của cá Trích” (1966) [154]. Việc nghiên cứu trứng cá, cá con để phục vụ cho việc sản xuất cá giống của các loài cá thương phẩm cũng rất phát triển ở Nhật Bản, Trung Quốc, Thái Lan từ những năm 16 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 70 của thế kỷ XX. Đây được coi là cơ sở quan trọng cho việc phát triển nghề nuôi cá biển cũng như hạn chế sự suy giảm nguồn lợi hải sản.
Với đối tượng trứng cá, cá con ngoài khơi vùng biển nhiệt đới ở Đại Tây Dương, Kazanova (1974) [27] đã mô tả chi tiết về đặc điểm hình thái và nhận dạng trứng cá, cá con của nhóm cá Ngừ. Tác giả đã chia thành các nhóm đối tượng theo kích thước cơ thể, trong đó ấu trùng cá Ngừ vằn - Katsuwonus pelamis, cá Ngừ chù - Auxis tharazd, cá Ngừ ồ - Auxis rochei được xếp vào nhóm cá Ngừ nhỏ; ấu trùng cá Ngừ vây vàng - Thunnus albaceres và cá Ngừ mắt to - Thunnus obesus được xếp vào nhóm cá Ngừ đại dương. Nhìn chung, các nghiên cứu về trứng cá, cá con chủ yếu tập trung vào thành phần khu hệ, đặc điểm hình thái và các đặc trưng sinh thái của mỗi nhóm loài. Điển hình là các nghiên cứu về đặc điểm phân loại và đặc trưng sinh thái của các loài cá trên các rạn san hô ở vùng biển Ấn Độ - Thái Bình Dương của Leis và Rennis (1983) [139].
Năm 1989, Leis và Trnski [138] đã nghiên cứu sự biến động, phân bố thành phần loài và số lượng cá con ở vùng biển ven bờ. Tại các vùng cửa sông ở Nam Phi, Whitfield (1989) [202] đã nghiên cứu sự biến động về số lượng của cá theo độ cao mực thuỷ triều của kỳ con nước. Trong đó, sự biến động số lượng cá liên quan chặt chẽ tới sự biến đổi của độ cao thuỷ triều, tốc độ dòng chảy, nhiệt độ và độ muối của khối nước triều… Không những thế, số lượng cá con thu được còn phụ thuộc vào thời gian ngày - đêm và mùa. Tổng kết từ nhiều công trình nghiên cứu về cá con, Campos (2005) [205], đã chia cá con thành 18 nhóm theo hình dạng cơ thể, độ dài ống ruột, đặc điểm vây lưng, độ cao thân, đầu, sắc tố trên cơ thể, số lượng đốt cơ.
Tác giả cũng đưa ra các hạn chế là có nhiều loài trong cùng một họ nhưng có đặc điểm hình thái khác nhau, hoặc trong cùng một loài khi chúng ở các giai đoạn phát triển khác nhau. Đánh giá hiện trạng trứng cá, cá con là lĩnh vực nghiên cứu mang tính thực tiễn và phục vụ trực tiếp nhất cho các nhà quản lý, làm cơ sở cho việc quy hoạch và phát triển bền vững nguồn lợi thuỷ sản. Để đánh giá đúng mức hiện trạng trứng cá, cá con, các nước Úc, Thái Lan, Trung Quốc đã tổ chức điều tra nghiên cứu định kỳ 17 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com về giai đoạn sớm của cá, giúp cho việc điều tiết nghề nuôi, tổ chức khai thác hợp lý và bảo vệ tốt nguồn tài nguyên sinh vật biển nói chung và nguồn giống thuỷ sản nói riêng. Tuy nhiên, việc ước tính lượng bổ sung và trữ lượng cá từ trứng cá, cá con hiện nay đang gặp khó khăn về số liệu và phương pháp nghiên cứu.
Thời gian gần đây, với sự phát triển của khoa học kỹ thuật, việc sử dụng các phần mềm và trang thiết bị phòng thí nghiệm trở nên thuận lợi và đáng tin cậy hơn. Nhiều nước đã ứng dụng phương pháp ước tính trữ lượng trứng được sinh ra trong thời gian một ngày, để ước tính sinh khối và giám sát xu hướng thay đổi mật độ của đàn cá như Anh, Na-uy, Nam Phi… Hội nghị nghề cá khu vực Đông Nam Á do SEAFDEC và ASEAN phối hợp tổ chức vào tháng 11 năm 2001 tại Bangkok đã nêu ra kết luận chung cho khu vực, trong đó giải pháp tăng cường thời gian cấm khai thác nhằm bảo vệ các đàn sinh sản và chủng quần non của những loài có giá trị thương mại là một nội dung quan trọng. Việc này được thực hiện với nguyên tắc “Quản lý nghề cá trên cơ sở bền vững” (Right-based fisheries management). Từ đó tạo được sự ổn định, sức sản xuất cao và sự đa dạng của hệ sinh thái thuỷ sinh vật.
Nghiên cứu xác định khu vực tập trung của trứng cá, cá con Theo UNEP (2007), khu duy trì nguồn giống thủy sản được hiểu là một khu vực biển được xác định về không gian và thời gian mà ở đó các giải pháp quản lý được triển khai nhằm duy trì, bảo vệ sự quần tụ sinh sản, các bãi giống và đường di cư của sinh vật [188]. Những nghiên cứu đầu tiên về bãi đẻ của cá rạn san hô được thực hiện trong những năm 1970 ở vùng biển Bahamas, Cu Ba và khu vực trung tâm Châu Mỹ La tinh. Smith (1972) [181] đã đưa ra báo cáo chi tiết về việc hình thành các bãi đẻ của nhóm cá Mú, với sự tăng đột biến về số lượng cá thể tại khu vực sườn dốc của rạn san hô, vào thời điểm trước và sau trăng tròn để phục vụ cho quá trình sinh sản. Một số kết quả nghiên cứu về bãi đẻ của cá rạn đã được tiến hành ở quần đảo Marshall (Thái Bình Dương) đã xác định có bãi đẻ của loài cá Miền - Caesio teres 18 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com của Bell và Colin (1986) [78]; ở quần đảo Cayman (biển Carribe) có khoảng từ 60 đến 80 bãi đẻ có tính chất lịch sử và thường xuyên, với loài chiếm ưu thế là cá Mú vạch - Epinephelus striatus của Sadovy và Eklund (1999) [173]; ở đảo Ping Chau (phía Đông Bắc của Hồng Kông) đã bắt gặp sự hình thành các bãi đẻ ngay trong rạn san hô của loài cá Mú - Cephalopholis boenack của Liu và Sadovy (2005) [141]; ở khu vực Ningaloo (Úc) thấy cá xuất hiện trong vòng 6 ngày trước và sau trăng tròn, hiện tượng này xảy ra theo chu kỳ hàng năm và ở một số tháng nhất định của Mackie (2007) [143]; ở đảo Virgin (Mỹ) hình thành các bãi đẻ theo hai mùa sinh sản trong năm với thời điểm cuối mùa Đông là mùa đẻ rộ của Nemeth và cộng sự (2007) [155].