ĐẶT VẤN ĐỀ Vƣờn Quốc gia Cát Bà đƣợc thành lập theo Quyết định số 79-CT, ngày 31 tháng 3 năm 1986 của Chủ tịch Hội đồng Bộ trƣởng (nay là Thủ tƣớng Chính phủ). Vƣờn có tổng diện tích là 17.362,96 ha (trong đó, diện tích phần đảo là 10.912,51 ha, diện tích phần biển là 6. Là khu bảo tồn đầu tiên của Việt Nam có phân khu bảo tồn biển, gồm các hệ sinh thái biển, hệ sinh thái rừng trên cạn và hệ sinh thái rừng ngập mặn với các sinh cảnh rừng ngập mặn, bãi triều, đầm phá, karst đá vôi,… là một trong những địa điểm có đa dạng sinh học cao nhất Việt Nam. Đây là nơi có tầm quan trọng đặc biệt về bảo tồn đa dạng sinh học.
Năm 2004, quần đảo Cát Bà tổ chức UNESCO công nhận là Khu Dự trữ sinh quyển của thế giới. Vƣờn Quốc gia Cát Bà là một trong những Vƣờn Quốc gia ở Việt Nam rất đa dạng với các hệ sinh thái chủ yếu gồm: Hệ sinh thái trên cạn; hệ sinh thái đất ngập nƣớc và hệ sinh thái biển. Đây là các hệ sinh thái có tính đại diện cao về đa dạng sinh học và chứa đựng nhiều nguồn gen quý hiếm, nhiều loài có giá trị kinh tế cao. Tuy nhiên, Vƣờn Quốc gia Cát Bà đã và đang phải đối mặt với những khó khăn nhất định trong công tác quản lý bảo vệ tài nguyên đa dạng sinh học.
Tình trạng chuyển mục đích sử dụng rừng, khai thác lâm sản trái phép, thu hái dƣợc liệu, săn bắt động vật trái phép vẫn còn xảy ra, đặc biệt là các hoạt động thu hái cây dƣợc liệu của ngƣời dân sống gần rừng nhằm mục đích thƣơng mại ngày càng gia tăng. Cùng với đó là các thông tin liên quan đến thực trạng phân bố và các giải pháp quản lý, bảo tồn hiệu quả các loài cây thuốc quý hiếm trên đảo hiện đang còn thiếu, dẫn đến nguy cơ bị khai thác cạn kiệt. Loài Bình vôi (Stephania rotunda Lour) là một trong những cây thuốc quí đƣợc phát hiện ở Cát Bà. Bình vôi đƣợc coi là cây dƣợc liệu quí hiếm đƣợc xếp trong Sách Đỏ thực vật Việt Nam 2007 và trong Nghị định 32 của Chính phủ năm 2006.
Về giá trị sử dụng củ của cây có tác dụng an thần, gây ngủ và chống co quắp, hạ huyết áp; tác dụng rõ rệt nhất là gây ngủ và an thần. Trong dân gian, củ bình vôi thƣờng đƣợc dùng dƣới dạng sắc, ngâm rƣợu chữa mất ngủ, ho, hen, kiết lỵ, sốt, 2 đau bụng… Tuy phân bố nhiều nơi nhƣng thƣờng bị khai thác với số lƣợng lớn nên dẫn đến cạn kiệt. Mặt khác, những nơi có cây con mọc lại bị ảnh hƣởng do nạn khai thác, phá rừng dẫn đến có thể tuyệt chủng vì không còn môi trƣờng sống thích hợp. Do vậy, việc gây trồng và phát triển cây dƣợc liệu nói chung và với loài Bình vôi nói riêng đã và đang đƣợc Vƣờn Quốc gia Cát Bà quan tâm nhiều trong những năm gần đây.
Nghiên cứu sẽ góp phần triển khai nhiệm vụ bảo tồn nguồn gen loài cây thuốc quý cũng nhƣ khai thác phát triển nguồn gen sau này. Chính vì vậy, cần triển khai đề tài: “Nghiên cứu đặc điểm lâm học loài Bình vôi (Stephania rotunda Lour.) làm cơ sở để bảo tồn tại Vườn Quốc gia Cát Bà” nhằm đánh giá thực trạng phân bố, xác định đƣợc một số đặc điểm lâm học của loài làm cơ sở cho công tác bảo tồn cũng nhƣ mở ra hƣớng nghiên cứu tiếp theo nhằm gây trồng phát triển, tạo sinh kế cho ngƣời dân địa phƣơng, cung cấp các sản phẩm cho khách du lịch theo hƣớng bền vững. 3 Chƣơng 1 TỔNG QUAN VỀ VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1. Tình hình nghiên cứu và bảo tồn cây thuốc trên thế giới Loài ngƣời từ khi ra đời đã biết dựa vào rừng để sống.
Không chỉ lấy ra từ rừng lƣơng thực, thực phẩm cho cuộc sống hàng ngày, con ngƣời còn biết lấy cây rừng làm rau ăn, nƣớc uống, lấy cây rừng làm thuốc chữa bệnh. Từ những kinh nghiệm dân gian qua nhiều thế kỷ, các cộng đồng ngƣời trên khắp thế giới đã phát triển những phƣơng thuốc cổ truyền của họ, làm cho các loài cây thuốc và công dụng của chúng trở nên có ý nghĩa. Việc sử dụng cây thuốc chữa bệnh đƣợc nghiên cứu ở các mức độ khác nhau tuỳ thuộc vào sự phát triển của từng quốc gia. Và cũng từ đó, mỗi châu lục, mỗi dân tộc hình thành nên một nền Y học cổ truyền mang nét đặc trƣng riêng.(1960) dựa trên những bằng chứng khảo cổ đã chỉ ra rằng, vào khoảng 5.000 năm TCN, cây thuốc đã đƣợc sử dụng rộng rãi và vì vậy là mục tiêu chiếm đoạt (cùng với phụ nữ, các cây lƣơng thực, cây có hoa đẹp) trong các cuộc chiến tranh giữa các bộ tộc [11].
Nhƣ vậy, tầm quan trọng của các cây làm thuốc đƣợc loài ngƣời nhận thức rất sớm. Với sự đa dạng của ngành dƣợc thảo, từ thời xa xƣa Châu Phi đã sử dụng liệu pháp điều trị bệnh bằng cây thuốc. Những bản viết tay đã có từ thời Ai Cập cổ đại (1950 TCN) đã liệt kê hàng chục loài cây thuốc và công dụng của chúng. Trong bản giấy cói của dân tộc Ebers (khoảng 1500 TCN) ghi lại hơn 870 toa thuốc và công thức, 700 loài dƣợc thảo và các chứng bệnh, từ bệnh phổi cho đến các vết thƣơng do cá Sấu cắn.
Việc buôn bán dƣợc thảo giữa các vùng Trung Đông, Ấn Độ và Đông Bắc châu Phi đã có ít nhất từ 3000 năm trƣớc. Vào giữa thế kỷ XIII, nhà thực vật học Ibn El Beitar đã xuất bản cuốn “Các vấn đề y khoa” thống kê chủng loại cây thuốc ở Bắc Phi [1]. Một số nhà nghiên cứu cho rằng, các thổ dân Châu Úc đã định cƣ ở đây từ hơn 60.000 năm về trƣớc và hình thành nên những kiến thức thực tiễn về các loài cây thuốc bản xứ. Nhiều loài trong số này nhƣ cây Bạch đàn xanh (Eucalyptus 4 globulus) duy nhất chỉ có ở châu Úc, vốn đƣợc sử dụng rất hữu hiệu trong việc chữa bệnh.
Tuy nhiên, phần lớn kiến thức về dƣợc thảo của thổ dân đã bị mất đi khi ngƣời châu Âu đến định cƣ. Ngày nay, đa phần các dƣợc thảo ở châu Úc bắt nguồn từ phƣơng Tây, Ấn Độ, Trung Quốc và các nƣớc vùng ven Thái Bình Dƣơng. Dựa trên nền tảng y học truyền thống cổ điển, do đó phần lớn cây thuốc ở Châu Âu rất đa dạng. Galen (131-200 SCN), một thầy thuốc của Hoàng đế La Mã Marcus Aurelius, có ảnh hƣởng sâu sắc đến sự phát triển của các vị thuốc bào chế từ thảo mộc.
Ông đã viết cuốn sách và đã đƣợc áp dụng trong ngành Y châu Âu hơn 1500 năm [1]. Ở thế kỷ I SCN, một thầy thuốc Hy Lạp tên là Dioscorides đã viết một cuốn sách dƣợc thảo có tên “De material Medica”. Quyển sách này bao gồm 600 loại thảo mộc, gây ảnh hƣởng mạnh mẽ đến y học phƣơng Tây và là sách tham khảo chính đƣợc dùng ở châu Âu cho đến thế kỷ XVII. Cuốn sách còn đƣợc dịch ra nhiều ngôn ngữ nhƣ: Tiếng Anh cổ, tiếng Ba Tƣ và tiếng Hebrew [9].
Vào thời Trung cổ, học thuyết “Dấu hiệu” khẳng định có một sự kết nối giữa vẻ bề ngoài của một loài cây – “dấu hiệu của thần thánh”- và công dụng y học của chúng. Chẳng hạn, những chiếc lá lốm đốm của cây Cỏ phổi (Pulmonaria officinalis) giống nhƣ các mô của phổi, chữa rất hiệu quả các bệnh về phổi. Cũng trong thời gian này, khoảng thế kỷ XI SCN, tại Scotlan các thầy tu đã sử dụng cây thuốc Phiện (Papaver omnirierum) và cây Cần sa (Cannabis sativa) để làm thuốc giảm đau và thuốc gây mê. Sau này, Nicholas Culpeper (1616-1654) đã kế thừa một số kiến thức từ Dioscorides, Paracelus và kinh nghiệm chữa bệnh của thầy thuốc địa phƣơng, ông đã cho xuất bản cuốn dƣợc thảo “The English Physitian”.
Đây là cuốn sách bán chạy nhất và đƣợc tái bản nhiều lần [1]. Ở Châu Âu đi đầu trong việc nghiên cứu về thực vật Đông Nam Á là các nhà thực vật ngƣời Pháp, với họ sau những cánh rừng nhiệt đới còn tiềm ẩn rất nhiều giá trị. Vào những năm đầu thế kỷ XX, trong chƣơng trình nghiên cứu về thực vật Đông Dƣơng, Perry công bố 1.000 loài cây và dƣợc liệu tại Đông Nam Á đã đƣợc kiểm chứng và gần đây (1985) tổng hợp thành cuốn sách “Medicinal Plants of Eats and Southeast Asia” [32]. 5 Trung Quốc và Ấn Độ là hai quốc gia ở Châu Á có nền y học cổ truyền lâu đời.
Lịch sử nền Y học Trung Quốc đầu thế kỷ thứ II, ngƣời ta đã biết dùng thuốc là các loài cây cỏ để chữa bệnh nhƣ: sử dụng nƣớc cây Chè (camellia sinensis) đặc để rửa vết thƣơng và tắm ghẻ [25]. Trong cuốn sách “Cây thuốc Trung Quốc” xuất bản 1985 đã liệt kê một loạt các cây cỏ chữa bệnh nhƣ: Rễ gấc (Momordica cochinchinensis) chữa nọc độc, viêm tuyến hạch, hạt gấc trị sƣng tấy, đau khớp, sốt rét, vết thƣơng tụ máu; Cải Xoong (Nasturtium officinale) giải nhiệt, chữa lở mồm, chảy máu chân răng, bƣớu cổ. Từ những kinh nghiệm dân gian, các nhà khoa học đã có nhiều công trình nghiên cứu về các loài cây thuốc, về các sản phẩm chiết từ cây cỏ để chữa trị và đã đúc rút thành những cuốn sách có giá trị. Từ đời nhà Hán (168 năm TCN) tại Trung Quốc trong cuốn sách “Thủ hậu bị cấp phƣơng” tác giả đã kê 52 đơn thuốc chữa bệnh từ các loài cây cỏ [25].
Vào giữa thế kỷ XVI Lý Thời Trân đã thống kê đƣợc 12000 vị thuốc trong tập “Bản thảo cƣơng mục” đƣợc NXB Y học trích dẫn 1963 [26]. Và gần đây nhất cuốn sách “Cây thuốc Trung Quốc” xuất bản năm 1985 đã liệt kê hầu hết các loài cây cỏ chữa bệnh có ở Trung Quốc đƣợc biết từ trƣớc tới nay [25].000 năm văn minh của ngƣời Ấn Độ cổ đại đã phát triển dọc theo bờ sông Indus ở miền Nam Ấn Độ [1]. Trong bộ sử thi Vedas đƣợc viết vào năm 1500 TCN, chứa đựng những kiến thức phong phú về dƣợc thảo thời kỳ đó. Trong đó, nhiều loài cây đƣợc xem là những “cây thiêng” dành cho những vị thần đặc biệt, chẳng hạn nhƣ cây Trái nấm (Aegle marmelos) là cây dành cho thánh thần của ngƣời Hindu, thánh Lakshmi (Thánh mang lại sự giàu có và may mắn), thánh Samhita (Vị thánh của sức khoẻ) và cây đƣợc trồng gần các đền thờ.
Những công dụng của cây thuốc này đƣợc ghi lại trong cuốn sách dƣợc thảo “Charaka Samhita”, viết năm 400 TCN.