Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA VIỆC XÁC ĐỊNH ÁP LỰC TÂM LÝ TRONG HỌC TẠP Ở HỌC SINH THPT.1 Lịch sử nghiên cứu vẫn đề.1 lịch sử nghiên cứu van dé trên thể giới. Đề đáp ứng tình hình kinh tế xã hội trên toan thé giới, hệ thẳng giáo dục đã thường xuyên tiễn hành những cuộc cải cách về nội dung chương trình, phương pháp day học. Do đó yêu cau đặt ra doi với người học ngày cảng cao, Theo ý kiến của nhiều nhà nghiên cửu cần phải xem xét, đánh giá lại việc học tập theo các chương trình cải cách giảo dục trong mỗi tương quan với sự phát triển hình thái tâm sinh lý của học sinh để từ đó đưa ra chương trình giáo dục phủ hợp, tránh tỉnh trạng quá tải gây áp lực học tập cho học sinh, ảnh hưởng không tốt đến sự phát triển tâm ly của các em. Vẫn dé nảy từ lâu đã được nhiều nước trên thé giới quan tâm nghiên cứu với nhiều góc độ khác nhau để đưa ra các phương pháp học tận phù hợp với học sinh.
O Liên Xö cũ các nha nghiên cứu đã tìm cách phát hiện va đánh giá hiện tượng quá tải trong học tập dẫn đến căng thăng ở hoc sinh, từ do chuẩn hoá khỏi lượng và cách tổ chức hoạt động học tập phi hợp với sự biến đổi chức nang tâm sinh ly của học sinh, ngăn ngừa sự tiéu hao năng lượng quả mức cho phép. Trong vòng 40 năm trở lại đây,củng với việc cải cách giáo dục trong nước, van dé nghiên cửu tải học của học sinh đã được các nhà giáo dục như V.Antropova và các nha nghiên cứu của viện han lam Liên X6 cũ rất quan tâm. Các nha giáo dục học, y tế học đường các nhà nước Liên x6 cũ,CHDC Đức cũ, Tiếp Khắc cũ va Hunggar. quan tâm các biểu hiện về sợ hãi, mệt mdi, căng thang, lo au,.
do tinh trạng học tap qua mức ở học sinh. Trong thời gian gan đây van dé sức ép học tập cũng dang trở nên bao động ở một số nước có nên kinh tế phát triển như ở Nhật Ban, An Độ, Trung Quốc, Han Quốc .Những câu chuyện kinh hoàng về các vụ học sinh tự tử do áp lực thi thường xuyên xuất hiện trên các bảo chỉ Án Độ. Các nghiên cứu cho thay ngảy cảng có nhiều thanh thiểu niên An Độ bi tram cảm hoặc dự định tự tử. Hiện nay ở nước này đang nỗ ra nhiều cuộc tranh luận về các “ky thi giết người”.
Theo điều tra của trung tâm sức khoẻ tâm lý VIMHANS với 150 cơ sở giáo dục ở New Dehli cho thay có 40% học sinh luôn cảm thấy căng thăng trong thi cử.Cũng theo một nghiên cửu của các tô chức phi chỉnh phủ SAHYOY năm 2005 có 57% trong số 850 trẻ mới lớn cho biết ho bị tram cảm, 9% có ý định tự tử. [27] Ở Trung Quốc Theo trung tâm nghiên cứu và ngăn ngừa tự tử Bắc Kinh đã tiễn hành điều tra trên 15.431 nạn nhân của chứng tram cảm trong vòng hai năm, kết qua cho thay những người từ độ tuổi từ 18-25 chiếm 37,6%. Theo HiuLong, nhà tâm lý ở Trung tâm nghiên cứu và ngăn ngừa tự tử Bắc Kinh nhận định “Xã hội đây rẫy ap lực và cạnh tranh, vi vậy những người trẻ tuoi von thiểu kinh nghiệm giải quyết khỏ khan thường có xu hướng chan nắn, thất vong"[29] Nhu vậy tỉnh trạng tai học va áp lực học tập của học sinh tử lau đã được các nước trên thé giới quan tâm và nghiên cứu, hiện nay van dé này đang trở nên cap bách hơn.2 Lịch sử nghiên cứu van dé trong nước © Việt Nam van dé tìm hiểu áp lực học tập của học sinh từ lâu cũng đã được quan tâm nghiên cứu, nhưng chủ yêu la các nghiên cứu vẻ sự biến déi các chức nang tâm sinh lý dưới ảnh hưởng của hoạt động học tập. Nghiên cửu về van dé nảy có các nha sinh lý như Lé Quang Long,Võ Thị Minh Chi, Tran Trọng Thuy, Nguyễn Công Khanh.
Tác giả Võ Thị Minh Chi đã nghiên cửu tác động qua lại giữa sự bien đổi các chỉ số chức năng cơ thé với hoạt động học tập của học sinh. Tác giả nêu ra một so hậu qua ma tình trạng quả tải trong hoạt động học tập mang lại như chất lượng học tập, khả năng ghi nhớ, chủ ý của học sinh giảm sút sau mỗi tiết học kéo dai. Từ đó tác gia đi đến kết luận "việc xác định khỏi lượng kiến thức nhiều hay it,đến đâu, cho học sinh tiếp cận bang cách nao phải xuất phát từ đặc điểm tâm sinh lý của học sinh, tìm ra mỗi tương quan đặc điểm đỏ va kha năng chịu tải của học sinh.|4] Trong một số công trình khác liên quan đến van đẻ nay, tac giả đã xây dựng cơ sở cho chương trình dạy học phủ hợp với đặc điểm tâm sinh lý cuả học sinh.[ 5] Giáo su Tran Trọng Thủy cũng đã dé cập đến những cơ sở dé xây dựng chương trình dạy học phù hợp với đặc điểm tâm sinh lý của học sinh.[ 21] Những nghiên cứu vẻ sự tác động qua lại giữa sự biến đổi các chỉ số chức nang cơ thé với hoạt động học tập của học sinh là bước đi đầu tiên xây dựng cơ sở, tiên để vật chất cho việc cho việc nghiên cứu tỉnh trạng quả tải của học sinh trong giai đoạn tiếp theo. -Nghiên cứu vẻ một số hậu quả áp lực trong hoạt động học tập của học sinh bude dau đã có một số công trình nghiên cửu như : “Tién sĩ Nguyễn Ba Đạt với dé tải "Rồi nhiều tram cảm ở học sinh THPT hiện nay” đã công bo kết quả nghiên cứu với 8,8 % học sinh THPT Ha Nội 10 trong năm học 2001-2002 bị tram cảm.
Nguyên nhân do kết quả hoc tập không như mong muốn, sức ép từ phia gia đỉnh, cha mẹ lên các em that lả to lớn, sự ky vọng của cha mẹ vào con đã hình thành nên tinh than trách nhiệm trong học tập. Khi kết quả học tập không vừa ý trẻ sẽ thất vọng, buồn chán, khong tự tin vao ban than, từ đỏ cảm thay việc học nặng né va mệt mỏi, Ngoài sức ép từ phía gia đình trẻ phải chịu sức ép từ phía nha trường, ban học củng trang lửa [6] Tác giả Nguyễn Hãng Phương nghiên cứu tinh hình lo âu của một số học sinh lớp 12 các trường THPT Ha Nội. Bảo cáo cho biết có 7,12% học sinh nam va 5, 459% học sinh nữ cỏ biểu hiện lo âu, Dé giải thích điều này tác giả đưa ra nguyên nhân chính gây ra lo âu cho các em lớp 12 là áp lực vẻ cường độ học tập và kết qua thi tốt nghiệp PTTH sắp tới. Tác giả rút ra nhận xét ở lớp học có học lực khá hơn thì áp lực về kết qủa học tập và kỳ vọng của gia đình, nha trường nhiều hơn nên cũng có biểu hiện lo âu nhiều hơn.
[ 18] Một nghiên cứu khác của Tiên Sĩ Nguyễn Công Khanh cùng nhóm sinh viên khoa tâm lý Đại học KHXH&NV cho thấy có it nhất 17, 4 % -18,81 % học sinh có biểu hiện rỗi nhiễu lo âu [12, tr27] Ở Thanh Phố Hỗ Chí Minh có một số cuộc khảo sát nhỏ nhằm tim hiểu thực trạng của van dé nảy như “Khảo sát hảnh vi có hại cho sức khoẻ vả các yêu tổ nguy cơ /yéu tổ bảo vệ ở học sinh nội thành Thanh Pho Hỗ Chi Minh * của trung tâm truyền thông Giáo Dục Sức Khoẻ va trung tâm dao tạo cán bộ ytế TPHCM thực hiện ở học sinh 27 trường trong thành phố cho thấy có 27% nữ sinh va 16 % nam sinh có dau hiệu trầm cảm, nguyễn nhân chủ yêu la ap lực học tap[28 ] Bác Sĩ Lam Xuân Điển, Giám Đốc Bệnh Viện Tâm Than TP HCM: báo động “Trong thời gian gan đây số lượng học sinh đến khám bệnh đông nhất là gan mùa thí và sau mùa thi tir thang 4- thang 9, trung bình khoảng 80-100 bệnh nhan/ngay.Nguyeén nhân là do học sinh bị ép học hành quả mức, không được quan tâm vẻ mặt tinh than, thiêu thời gian vui chơi giải trí [26]. Trên đây là một số nghiên cứu ban đầu vẻ sự biến đổi chức năng tâm sinh ly va hậu quả của việc học tập quá sức. Con nghiên cửu về van để áp lực học tập của học sinh do đâu? như thé nảo? hau như chưa được quan tâm nghiên cứu ngoai công trình nghiên cửu của tác giả Hoang Gia Trang (Viện Chiến Lược và Chương Trình Giáo Dục) với dé tai “Ap Lực tâm lý trong hoạt động học tập của học sinh THCS”(22]. Tác giả nghiên cứu trên 598 học sinh tại 4 trường THCS tại Ha Nội cho thấy: Học sinh chịu áp lực học tập lớn từ phía gia đình va nha trường, tac giả nêu lên tinh trạng quả tải vẻ nội dung chương trình, thời gian học tập, căn bệnh thành tích ở trường học cùng với sự mong muon ky vọng của cha mẹ khiến tinh trạng học tap của các em trở nên căng thắng.
Ngoài ra còn có một sé nghiên cứu nhỏ như cuộc khảo sat của nhóm tác giả viện nghiên cứu giáo dục trường Đại Học Sư Phạm Thành Pho Hè Chi Minh vào cuỗi năm 2004 trên 205 can bộ giáo viên ban đầu đưa ra một số kết quả có 43, 9% số này đánh giá lượng kiến thức trong sách giáo khoa quá nhiều học sinh không thé tiếp thu hết ở tiết học chính khoá, 23,9 % nhận xét lượng bai tập quá nhiều học sinh không đủ thời gian dé làm, 86,4 % trong số 485 phụ huynh xác nhận cho con em học thêm, điều nảy tạo áp lực lớn cho các em trong học tập. [30] Những nghiên cứu trên đây là cơ sở khoa học để chúng tôi tiên hành thực hiện dé tải tim hiểu áp lực tâm lý trong hoạt động học tập ở bac phỏ thông hiện nay.3LÝ LUẬN VỀ ÁP LỰC TÂM LÝ TRÔNG HOẠT ĐỘNG HỌC _ TẠP 1.1 KHÁI NIỆM ÁP LỰC TÂM LÝ Theo từ điển Tieng Việt (NXB Da Nang -1998 }áp lực là sức ép, sức ép o đây có thé vẻ mặt thé chat,vé mặt tâm lý. Áp lực vẻ mặt tam lý sẽ tạo ra những căng thang trong tâm lý. Khái niệm nay tương đương với khải niệm stress trong tâm ly học, Lan đầu tiên thuật ngữ stress trong vật lý dùng dé chi sức nén ma vật liệu phải chịu đựng.
Theo bác sĩ Nguyễn Khắc Viện stress tiếng Anh có hai nghĩa.