Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu
Áp lực học tập và tình trạng quá tải trong nhà trường phổ thông là thực trạng nổi cộm của nền giáo dục Việt Nam trong giai đoạn đổi mới chương trình và phương pháp dạy học. Trong thực tế, chất lượng giáo dục thường bị đồng nhất với kết quả thi cử, lấy tỷ lệ đỗ đạt làm thước đo thành tích của nhà trường và địa phương. Điều này làm phát sinh tình trạng dạy thêm, học thêm tràn lan, dồn sức ép học tập nặng nề lên học sinh trung học phổ thông (THPT). Cùng với chương trình học phân ban thí điểm chứa khối lượng tri thức lớn và tính hàn lâm cao, sự kỳ vọng quá mức của gia đình cùng định kiến xã hội coi đại học là con đường tiến thân duy nhất đã đẩy học sinh vào trạng thái căng thẳng tâm lý thường trực, kéo theo nhiều hệ lụy về sức khỏe thể chất và tâm thần (cận thị, vẹo cột sống, lo âu, trầm cảm, suy nhược thần kinh).
Khóa luận tốt nghiệp chuyên ngành Tâm lý học của tác giả Nguyễn Thị Sông Lam (Trường Đại học Sư phạm TP. Hồ Chí Minh, thực hiện tháng 4/2006 dưới sự hướng dẫn của ThS. Nguyễn Thị Bích Hồng) được triển khai nhằm làm rõ thực trạng này. Mục đích tổng quát của đề tài là xác định thực trạng áp lực tâm lý trong hoạt động học tập của học sinh THPT tại TP. Hồ Chí Minh, làm rõ nguyên nhân, hậu quả và đề xuất giải pháp giảm thiểu. Đề tài xác định 4 nhiệm vụ nghiên cứu cụ thể:
- Tìm hiểu những vấn đề lý luận liên quan đến áp lực học tập và hậu quả của nó đối với học sinh THPT.
- Khảo sát thực trạng áp lực học tập ở học sinh THPT trên địa bàn TP. Hồ Chí Minh.
- Tìm hiểu các nhóm nguyên nhân và hậu quả của áp lực tâm lý trong học tập ở học sinh.
- Đề xuất một số giải pháp sư phạm và tâm lý nhằm giảm thiểu áp lực học tập cho học sinh.
Khóa luận xác định:
- Đối tượng nghiên cứu: Áp lực tâm lý trong hoạt động học tập của học sinh THPT tại TP. Hồ Chí Minh.
- Khách thể nghiên cứu: Học sinh khối 10, 11, 12, phụ huynh học sinh và giáo viên tại Trường THPT Mạc Đĩnh Chi (công lập) và Trường THPT Dân lập Thanh Bình (dân lập, có hệ nội trú).
- Phạm vi và thời gian nghiên cứu: Dữ liệu được thu thập trên địa bàn TP. Hồ Chí Minh từ tháng 11/2005 đến tháng 4/2006 (giai đoạn chuẩn bị công cụ và khảo sát chính thức từ tháng 1 đến tháng 3/2006).
Đề tài đặt ra 4 giả thiết nghiên cứu:
- Đa số học sinh THPT trên địa bàn TP. Hồ Chí Minh hiện nay đang chịu nhiều áp lực về học tập.
- Có sự khác biệt về mức độ áp lực học tập giữa học sinh trường công lập với trường dân lập, cũng như giữa các khối lớp 10, 11 và 12.
- Có mối tương quan giữa mức độ áp lực học tập của học sinh và sự kỳ vọng từ phía phụ huynh.
- Áp lực học tập quá mức dẫn đến các hậu quả tiêu cực đối với sức khỏe thể chất, trạng thái tâm lý và hành vi của học sinh.
Cơ sở lý thuyết và phương pháp
Về cơ sở lý luận, khóa luận tiếp cận khái niệm áp lực tâm lý thông qua khái niệm "stress" trong tâm lý học và y học:
- Định nghĩa của BS. Nguyễn Khắc Viện: Stress bao gồm kích động đánh mạnh vào con người (tác nhân) và phản ứng sinh lý - tâm lý của cá nhân đó nhằm huy động tiềm năng thích ứng.
- Định nghĩa của GS. Ferredi (qua bản dịch của GS. Nguyễn Việt): Stress là mối liên quan tương tác giữa con người và môi trường xung quanh, vừa chỉ tác nhân công kích vừa chỉ phản ứng của cơ thể.
- Phân loại áp lực: Khóa luận chia áp lực tâm lý thành áp lực thông tin (quá tải về lượng khi khối lượng kiến thức quá nhiều trong thời gian ngắn; quá tải về chất khi kiến thức quá khó so với năng lực) và áp lực cảm xúc (nảy sinh khi cá nhân bị đe dọa, kỳ vọng quá mức, hoặc tự đặt ra mục tiêu vượt quá khả năng theo lý thuyết "cái tôi" của William James).
- Tính vừa sức và sinh lý thần kinh trong hoạt động học: Khóa luận vận dụng quan điểm của các nhà giáo dục cổ điển và hiện đại (Aristote, J.A. Komenxky, John Locke, J.H. Pestalozzi, A. Diesterweg, L.N. Tolstoi, Hồ Ngọc Đại) kết hợp với các quy luật sinh lý học thần kinh cấp cao (sự luân phiên giữa hai trạng thái hưng phấn và ức chế của 14-17 tỷ tế bào nơron não bộ, hiện tượng "đói oxy" khi nhịp tim tăng từ 70 lên 85-88 nhịp/phút lúc căng thẳng trí óc, nguyên tắc tổ chức lao động khoa học của Taylor và quy luật hiệu suất lao động của N. Vvedensky).
Khóa luận sử dụng hệ thống các phương pháp nghiên cứu thực tiễn sau:
- Phương pháp nghiên cứu tài liệu: Phân tích, tổng hợp các công trình nghiên cứu trong và ngoài nước liên quan đến biến đổi tâm sinh lý, tải học tập và các rối nhiễu lo âu, trầm cảm học đường.
- Phương pháp điều tra xã hội học:
- Khảo sát thử nghiệm bằng phiếu câu hỏi mở (10 câu) trên 30 học sinh Trường THPT Dân lập Thanh Bình để hoàn thiện bộ công cụ.
- Khảo sát chính thức bằng 3 bộ bảng hỏi đóng: Phiếu dành cho học sinh (30 câu hỏi chia làm 4 phần), phiếu dành cho phụ huynh (10 câu hỏi), phiếu dành cho giáo viên (5 câu hỏi).
- Quy mô mẫu thực tế: Phát 300 phiếu học sinh, thu về 281 phiếu, số phiếu hợp lệ đưa vào xử lý là 276 phiếu; khảo sát 150 phụ huynh, thu về 115 phiếu hợp lệ; khảo sát 34-35 giáo viên ở cả 2 trường.
- Phương pháp quan sát: Ghi nhận biểu hiện hành vi, thái độ, mức độ tập trung của học sinh trong tiết học và trạng thái trong giờ ra chơi.
- Phương pháp phỏng vấn sâu: Trao đổi trực tiếp với giáo viên và học sinh về thời gian biểu, việc học thêm, áp lực bài tập và thời gian nghỉ ngơi.
- Phương pháp toán thống kê: Nhập và xử lý dữ liệu bằng phần mềm SPSS 11.5 để tính tần số ($F$), tỷ lệ phần trăm ($%$), kiểm nghiệm $T$-test, kiểm nghiệm phương sai ANOVA ($F$) và kiểm nghiệm mối liên hệ Khi bình phương ($\chi^2$).
Nội dung chính theo từng chương
Chương 1: Cơ sở lý luận của việc xác định áp lực tâm lý trong hoạt động học tập ở học sinh THPT
Chương 1 hệ thống hóa lịch sử nghiên cứu vấn đề trên thế giới (các công trình của Viện Hàn lâm Liên Xô cũ, V. Antropova, nghiên cứu tại CHDC Đức, Tiệp Khắc, Hungary; các số liệu cảnh báo về tỷ lệ 40% học sinh căng thẳng thi cử của Viện VIMHANS New Delhi, 57% trẻ trầm cảm theo tổ chức SAHYOG tại Ấn Độ; số liệu tự tử và trầm cảm thanh thiếu niên của Trung tâm Bắc Kinh - Trung Quốc) và tại Việt Nam (Lê Quang Long, Võ Thị Minh Chi, Trần Trọng Thủy, Nguyễn Công Khanh, Nguyễn Bá Đạt, Nguyễn Hằng Phương, Hoàng Gia Trang, số liệu bệnh nhân học sinh mùa thi của BV Tâm thần TP.HCM do BS. Lâm Xuân Điền công bố).
Tiếp đó, chương làm rõ bản chất của áp lực tâm lý trong học tập và phân tích 4 nhóm yếu tố căn nguyên:
- Yếu tố nhà trường: Nội dung chương trình nặng tính hàn lâm, phương pháp giảng dạy nhồi nhét, đọc chép, áp lực thi cử dày đặc, hình thức học 2-3 buổi/ngày và căn bệnh thành tích.
- Yếu tố gia đình: Kỳ vọng thái quá vào việc con phải đỗ đại học danh tiếng, sự đầu tư kèm theo thúc ép học thêm, phương thức quản lý gò bó thông qua việc gửi học bán trú/nội trú.
- Yếu tố xã hội: Quan niệm đại học là con đường lập thân duy nhất, tính cạnh tranh nghề nghiệp gay gắt và xu hướng chạy đua vào các trường điểm, trường chuyên.
- Yếu tố bản thân học sinh: Đặc điểm lứa tuổi đầu thanh niên (15-19 tuổi) với sự phát triển tư duy trừu tượng (theo Jean Piaget), nhu cầu khẳng định "cái tôi" và định hướng tương lai, nhưng thiếu hụt kỹ năng ứng phó với khó khăn và xung đột.
Chương 1 cũng phân tích sâu quỹ thời gian tối ưu cho 4 loại hoạt động của học sinh (học tập ~8 giờ/ngày; vui chơi giải trí 1-2 giờ/ngày; ngủ/nghỉ ngơi 8-10 giờ/ngày; lao động làm việc nhà) và chỉ ra rằng việc phá vỡ tỷ lệ này sẽ làm suy nhược hệ thần kinh trung ương, cản trở sự phát triển nhân cách toàn diện.
Chương 2: Kết quả nghiên cứu về thực trạng áp lực học tập của học sinh
Chương 2 trình bày toàn bộ kết quả khảo sát thực nghiệm trên mẫu học sinh, phụ huynh và giáo viên tại Trường THPT Mạc Đĩnh Chi và THPT Dân lập Thanh Bình. Dữ liệu tập trung vào các khía cạnh phân bố thời gian biểu, gánh nặng bài tập, học thêm, kỳ vọng gia đình và biểu hiện sức khỏe.
Về phân bố thời gian hoạt động trong ngày, kết quả khảo sát phản ánh tình trạng quá tải nghiêm trọng:
| Chỉ số khảo sát |
Phân loại |
Tỷ lệ chung (%) |
THPT Mạc Đĩnh Chi (%) |
THPT DL Thanh Bình (%) |
Khối 10 (%) |
Khối 11 (%) |
Khối 12 (%) |
| Số buổi học/ngày |
1 buổi/ngày |
1,1% |
- |
- |
- |
- |
- |
|
2 buổi/ngày |
62,3% |
96,2% |
29,8% |
- |
- |
- |
|
3 buổi/ngày |
36,6% |
3,8% |
69,5% |
- |
- |
- |
| Tổng thời gian học |
Dưới 4h/ngày |
0,7% |
- |
- |
- |
- |
- |
|
4 - 8h/ngày |
21,0% |
35,6% |
8,5% |
23,5% |
27,5% |
13,0% |
|
Trên 8h/ngày |
78,3% |
64,4% |
91,5% |
76,5% |
72,5% |
87,0% |
| Thời gian ngủ |
Dưới 5h/ngày |
8,7% |
- |
- |
- |
- |
- |
|
5 - 6h/ngày |
43,8% |
- |
- |
- |
- |
63,4% |
|
7 - 8h/ngày |
41,7% |
- |
- |
- |
- |
- |
|
Trên 8h/ngày |
5,8% |
- |
- |
8,6% |
7,0% |
0,0% |
| Thời gian giải trí |
Dưới 1h/ngày |
35,0% |
26,0% |
44,7% |
30,0% |
30,0% |
50,0% |
|
1 - 2h/ngày |
45,0% |
- |
- |
- |
- |
- |
|
Trên 2h/ngày |
20,0% |
- |
- |
29,0% |
21,0% |
7,0% |
Dữ liệu cho thấy:
- Áp lực thời lượng học tập: Có 98,9% học sinh học từ 2 đến 3 buổi/ngày tại trường. Đáng chú ý, 78,3% học sinh có tổng thời gian học trên 8 giờ/ngày, vượt quá mức giới hạn lao động trí óc cho phép. Học sinh trường dân lập Thanh Bình chịu áp lực thời gian học cao hơn đáng kể so với học sinh trường công lập Mạc Đĩnh Chi (91,5% so với 64,4% học trên 8h/ngày, $p < 0,001$). Khối 12 có tỷ lệ học trên 8h/ngày cao nhất (87,0%).
- Thiếu hụt thời gian ngủ và nghỉ ngơi: Có 52,5% học sinh ngủ từ 6 giờ trở xuống mỗi ngày (trong đó 8,7% ngủ dưới 5 giờ). Ở khối 12, tỷ lệ học sinh chỉ ngủ 5-6 giờ/ngày lên tới 63,4% và hoàn toàn không có học sinh nào ngủ đủ trên 8 giờ/ngày (0,0%), do phải dồn thời gian ôn thi tốt nghiệp và đại học.
- Hạn chế hoạt động vui chơi, giải trí: 35% học sinh chỉ có dưới 1 giờ giải trí mỗi ngày. Học sinh khối 12 có 50% dành dưới 1 giờ/ngày cho vui chơi và chỉ 7% có trên 2 giờ giải trí (thấp hơn nhiều so với mức 29% ở khối 10 và 21% ở khối 11). Tại trường dân lập Thanh Bình, do quy chế quản lý nội trú nghiêm ngặt, tỷ lệ học sinh có dưới 1 giờ giải trí/ngày chiếm tới 44,7% (so với 26,0% ở trường Mạc Đĩnh Chi).
- Gánh nặng bài tập và học thêm: Khối lượng bài tập về nhà và bài học thuộc lòng quá tải khiến học sinh không thể tự giải quyết trong giờ chính khóa, buộc phải đi học thêm nhiều môn, dẫn đến trạng thái căng thẳng, mệt mỏi, uể oải trong giờ học và tâm lý lo sợ khi bị điểm kém.
Kết quả và đóng góp
Khóa luận đưa ra các kết quả nghiên cứu định lượng cụ thể:
- Xác nhận đa số học sinh THPT tại địa bàn khảo sát đang phải chịu áp lực học tập nặng nề, thể hiện rõ qua việc 78,3% học sinh học trên 8 giờ/ngày và 52,5% học sinh bị thiếu ngủ (ngủ $\le$ 6 giờ/ngày).
- Chứng minh sự khác biệt có ý nghĩa thống kê về mức độ áp lực thời gian giữa hai mô hình trường: Học sinh trường THPT dân lập học 3 buổi/ngày chiếm 69,5% và học trên 8 giờ/ngày chiếm 91,5%, cao hơn rõ rệt so với học sinh trường THPT công lập (tương ứng là 3,8% và 64,4%).
- Khẳng định học sinh khối 12 chịu sức ép học tập và thiếu hụt thời gian nghỉ ngơi nghiêm trọng nhất trong cả ba khối lớp (87% học $>8$h/ngày, 63,4% ngủ 5-6h/ngày, 0% ngủ $>8$h/ngày và 50% có thời gian giải trí $<1$h/ngày).
Trên cơ sở kết quả khảo sát, tác giả đề xuất các nhóm giải pháp:
- Đối với cơ quan quản lý và nhà trường: Giảm tải chương trình học, điều chỉnh nội dung sách giáo khoa theo hướng tinh giản, thiết thực; đổi mới phương pháp dạy học nhằm phát huy tính chủ động, giảm lối truyền thụ đọc chép và nhồi nhét lý thuyết; đổi mới hình thức kiểm tra đánh giá, xóa bỏ bệnh thành tích; xây dựng thời khóa biểu cân bằng giữa học tập, vận động thể chất và hoạt động ngoại khóa.
- Đối với giáo viên: Nắm vững đặc điểm tâm sinh lý lứa tuổi học sinh, cân đối lượng bài tập giao về nhà đảm bảo tính vừa sức; phối hợp linh hoạt các phương pháp dạy học tích cực nhằm tạo hứng thú học tập, tránh các biện pháp trừng phạt, khảo bài gây ức chế tâm lý cho học sinh.
- Đối với phụ huynh: Đánh giá đúng năng lực và sở thích thực tế của con cái; điều chỉnh kỳ vọng phù hợp, không biến kỳ thi đại học thành áp lực duy nhất; tạo điều kiện cho con có thời gian nghỉ ngơi, ngủ đủ giấc và tham gia việc nhà, hoạt động giải trí lành mạnh.
Đóng góp của khóa luận: Công trình cung cấp bức tranh thực nghiệm toàn diện về áp lực tâm lý trong học tập ở bậc THPT tại TP. Hồ Chí Minh thông qua việc đối chiếu đồng thời dữ liệu từ 3 chủ thể: Học sinh, Phụ huynh và Giáo viên.
Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp
Khóa luận có các giới hạn sau:
- Phạm vi mẫu khảo sát: Nghiên cứu mới được triển khai trên 2 trường THPT đại diện (Trường THPT Mạc Đĩnh Chi đại diện cho khối công lập và Trường THPT Dân lập Thanh Bình đại diện cho khối dân lập/nội trú) với dung lượng mẫu hợp lệ 276 học sinh, 115 phụ huynh và 34 giáo viên, chưa bao quát toàn bộ các loại hình trường chuyên, trường quốc tế hay các trường ở khu vực ngoại thành TP. Hồ Chí Minh.
- Phạm vi thời gian: Dữ liệu thực nghiệm được thu thập tập trung trong giai đoạn từ tháng 1 đến tháng 3/2006.
- Hướng nghiên cứu tiếp theo: Tác giả gợi mở việc mở rộng quy mô khảo sát trên nhiều địa bàn quận, huyện và các mô hình trường THPT khác nhau; đồng thời đi sâu nghiên cứu thực nghiệm các mô hình can thiệp tâm lý học đường nhằm hỗ trợ học sinh giải tỏa áp lực thi cử và thích ứng hiệu quả với hoạt động học tập.
Giá trị tham khảo
Khóa luận có giá trị tham khảo thiết thực cho các nhóm đối tượng:
- Sinh viên và học viên chuyên ngành Tâm lý học, Giáo dục học, Sư phạm: Cung cấp cơ sở lý luận chi tiết về tính vừa sức, sinh lý thần kinh của lao động trí óc và quy trình xây dựng công cụ khảo sát thực nghiệm (bảng hỏi mở, bảng hỏi đóng 3 đối tượng, kỹ thuật xử lý dữ liệu bằng SPSS 11.5).
- Cán bộ quản lý giáo dục và giáo viên THPT: Cung cấp số liệu thực tế về quỹ thời gian và các biểu hiện tâm lý của học sinh để tham khảo trong việc phân bổ thời khóa biểu, giao bài tập về nhà và tư vấn hướng nghiệp cho học sinh cuối cấp.
- Các nhà nghiên cứu về tâm lý học đường: Là tài liệu tham khảo có giá trị tư liệu về thực trạng áp lực học tập tại đô thị lớn (TP. Hồ Chí Minh) trong giai đoạn thí điểm chương trình phân ban THPT năm 2006.
Câu hỏi thường gặp
1. Khóa luận khảo sát trên những khách thể nào và thu được bao nhiêu mẫu hợp lệ?
Khóa luận khảo sát trên 3 nhóm khách thể thuộc Trường THPT Mạc Đĩnh Chi và THPT Dân lập Thanh Bình tại TP. Hồ Chí Minh. Mẫu hợp lệ thu về gồm: 276 phiếu học sinh (trên tổng số 300 phiếu phát ra, 281 phiếu thu về), 115 phiếu phụ huynh (trên 150 phiếu phát ra) và 34-35 phiếu giáo viên, cùng 30 học sinh tham gia khảo sát thử nghiệm bằng câu hỏi mở.
2. Tỷ lệ học sinh học trên 8 giờ mỗi ngày và số buổi học trong ngày được ghi nhận như thế nào?
Khảo sát cho thấy 98,9% học sinh học từ 2 đến 3 buổi/ngày (62,3% học 2 buổi/ngày và 36,6% học 3 buổi/ngày). Về tổng thời gian học, 78,3% học sinh có thời lượng học tập trên 8 giờ/ngày.
3. Có sự khác biệt nào về thời gian học và giải trí giữa học sinh trường công lập Mạc Đĩnh Chi và trường Dân lập Thanh Bình?
Tại trường Dân lập Thanh Bình, 69,5% học sinh học 3 buổi/ngày, 91,5% học trên 8 giờ/ngày và 44,7% có thời gian giải trí dưới 1 giờ/ngày. Trong khi đó, tại trường THPT Mạc Đĩnh Chi, 96,2% học sinh học 2 buổi/ngày, 64,4% học trên 8 giờ/ngày và 26,0% có thời gian giải trí dưới 1 giờ/ngày ($p < 0,001$).
4. Tình trạng thiếu ngủ và hạn chế vui chơi thể hiện rõ nhất ở khối lớp nào?
Học sinh khối 12 chịu áp lực lớn nhất: 87,0% học trên 8 giờ/ngày, 63,4% chỉ ngủ từ 5-6 giờ/ngày, 0% học sinh ngủ đủ trên 8 giờ/ngày và 50% chỉ có dưới 1 giờ giải trí mỗi ngày.
5. Khóa luận phân chia áp lực tâm lý trong học tập thành các dạng nào?
Căn cứ lý thuyết tâm lý học, khóa luận chia thành hai dạng chính: Áp lực thông tin (gồm áp lực về lượng do thông tin quá nhiều trong thời gian ngắn và áp lực về chất do kiến thức quá khó) và Áp lực cảm xúc (nảy sinh từ sự kỳ vọng quá mức của gia đình/bản thân hoặc khi gặp khó khăn mà không được chia sẻ).
Kết luận
Khóa luận tốt nghiệp của tác giả Nguyễn Thị Sông Lam đã làm rõ bức tranh thực trạng áp lực tâm lý trong học tập của học sinh THPT tại TP. Hồ Chí Minh thông qua phương pháp khảo sát thực nghiệm đa chiều kết hợp nền tảng lý luận tâm lý - giáo dục học và sinh lý học thần kinh. Kết quả nghiên cứu khẳng định phần lớn học sinh đang bị quá tải về thời gian học tập, thiếu hụt nghiêm trọng thời gian ngủ và vui chơi giải trí, trong đó học sinh trường dân lập nội trú và học sinh khối 12 chịu mức độ áp lực cao nhất. Công trình đã chỉ ra các nguyên nhân từ phía chương trình, nhà trường, gia đình và bản thân học sinh, từ đó đề xuất hệ thống kiến nghị đồng bộ nhằm xây dựng môi trường học tập vừa sức và bảo đảm sự phát triển nhân cách toàn diện cho người học.