Nghiên cứu rối nhiễu tâm lý của sinh viên đại học Y Dược TP.HCM

Tổng hợp kiến thức Rối nhiễu tâm lý ở sinh viên đại học Y Dược TP.HCM, tiếp cận khoa học, hỗ trợ học tập và nghiên cứu hiệu quả trong chuyên ngành

Chuyên ngành

Tâm lý học

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

luận văn thạc sĩ

2011

119
1
0

Phí lưu trữ

35 Point

Tóm tắt

I. Giới thiệu về rối nhiễu tâm lý

Rối nhiễu tâm lý ở sinh viên đại học Y Dược TP.HCM là một vấn đề nghiêm trọng, ảnh hưởng đến sức khỏe và hiệu suất học tập của sinh viên. Rối nhiễu tâm lý bao gồm các tình trạng như trầm cảm, lo âu và stress, thường gặp trong môi trường học tập căng thẳng. Theo Tổ chức Y tế Thế giới, rối nhiễu tâm lý có thể dẫn đến nhiều hệ lụy nghiêm trọng, bao gồm cả tự tử. Nghiên cứu cho thấy rằng sinh viên y khoa có tỷ lệ rối nhiễu tâm lý cao hơn so với các nhóm sinh viên khác. Điều này có thể do áp lực học tập, kỳ vọng từ gia đình và xã hội, cũng như sự thiếu hụt các dịch vụ hỗ trợ tâm lý. Việc nhận diện và can thiệp kịp thời là rất cần thiết để cải thiện sức khỏe tâm lý của sinh viên.

1.1. Tình trạng rối nhiễu tâm lý

Tình trạng rối nhiễu tâm lý ở sinh viên đại học Y Dược TP.HCM đang gia tăng. Nghiên cứu cho thấy rằng tỷ lệ sinh viên gặp phải các triệu chứng trầm cảm, lo âu và stress là rất cao. Cụ thể, một nghiên cứu gần đây cho thấy khoảng 65% sinh viên có dấu hiệu của rối nhiễu tâm lý. Các yếu tố như áp lực học tập, thiếu thời gian nghỉ ngơi và sự cạnh tranh trong học tập là những nguyên nhân chính dẫn đến tình trạng này. Việc thiếu các chương trình hỗ trợ tâm lý trong trường học cũng góp phần làm trầm trọng thêm vấn đề. Cần có các biện pháp can thiệp hiệu quả để giảm thiểu rối nhiễu tâm lý và nâng cao chất lượng cuộc sống cho sinh viên.

II. Nguyên nhân gây rối nhiễu tâm lý

Có nhiều nguyên nhân dẫn đến rối nhiễu tâm lý ở sinh viên đại học Y Dược TP.HCM. Một trong những nguyên nhân chính là áp lực học tập. Sinh viên thường phải đối mặt với khối lượng kiến thức lớn và yêu cầu cao từ giảng viên. Ngoài ra, sự kỳ vọng từ gia đình và xã hội cũng tạo ra áp lực tâm lý lớn. Một nghiên cứu cho thấy rằng sinh viên có xu hướng cảm thấy cô đơn và thiếu hỗ trợ xã hội, điều này làm tăng nguy cơ mắc các rối nhiễu tâm lý. Các yếu tố khác như thói quen sinh hoạt không lành mạnh, thiếu ngủ và lạm dụng chất kích thích cũng góp phần vào tình trạng này. Việc nhận diện và hiểu rõ các nguyên nhân này là rất quan trọng để có thể xây dựng các chương trình can thiệp hiệu quả.

2.1. Áp lực học tập

Áp lực học tập là một trong những nguyên nhân chính gây ra rối nhiễu tâm lý ở sinh viên. Nhiều sinh viên cảm thấy bị áp lực bởi khối lượng bài vở và kỳ vọng từ giảng viên. Theo một khảo sát, khoảng 70% sinh viên cho biết họ cảm thấy căng thẳng do yêu cầu học tập. Điều này dẫn đến tình trạng stress, lo âu và trầm cảm. Việc thiếu thời gian để thư giãn và tham gia các hoạt động giải trí cũng làm tăng mức độ căng thẳng. Cần có các biện pháp hỗ trợ như tư vấn tâm lý và các hoạt động ngoại khóa để giúp sinh viên giảm bớt áp lực học tập.

III. Hệ quả của rối nhiễu tâm lý

Rối nhiễu tâm lý không chỉ ảnh hưởng đến sức khỏe tinh thần mà còn tác động tiêu cực đến hiệu suất học tập của sinh viên. Nghiên cứu cho thấy rằng sinh viên mắc rối nhiễu tâm lý thường có điểm số thấp hơn và khó khăn trong việc tập trung. Họ cũng có nguy cơ cao hơn trong việc bỏ học hoặc không hoàn thành chương trình học. Hệ quả lâu dài của rối nhiễu tâm lý có thể dẫn đến các vấn đề sức khỏe nghiêm trọng hơn, bao gồm cả các bệnh lý tâm thần. Việc can thiệp sớm và cung cấp hỗ trợ tâm lý là rất cần thiết để giúp sinh viên vượt qua những khó khăn này.

3.1. Ảnh hưởng đến học tập

Rối nhiễu tâm lý có ảnh hưởng nghiêm trọng đến hiệu suất học tập của sinh viên. Sinh viên mắc rối nhiễu tâm lý thường gặp khó khăn trong việc tập trung và ghi nhớ kiến thức. Một nghiên cứu cho thấy rằng khoảng 60% sinh viên có điểm số thấp hơn mức trung bình do ảnh hưởng của các triệu chứng tâm lý. Điều này không chỉ ảnh hưởng đến kết quả học tập mà còn làm giảm động lực học tập của sinh viên. Cần có các chương trình hỗ trợ học tập và tư vấn tâm lý để giúp sinh viên cải thiện tình trạng này.

09/02/2025
Luận văn thạc sĩ tâm lý học một số rối nhiễu tâm lý của sinh viên đại học y dược tp hồ chí minh

Trích đoạn nội dung tài liệu

Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN 1. LỊCH SỬ NGHIÊN CỨU VẤN ĐỀ. Những nghiên cứu ở nước ngoài. Vào những năm 1955, một số tác giả đã quan tâm đến việc nghiên cứu yếu tố tâm lý ảnh hưởng đến sức khỏe [86], [89].

Năm 2007, nhóm tác giả Naiemeh Seyedfatemi, Maryam Tafreshi1 và Hamid Hagani, kết quả nghiên cứu cho thấy, rối nhiễu tâm lý sinh viên năm nhất là 65,8% tăng khối lượng công việc lớp học tỉ lệ 66,9% và thường xuyên nhất là sự stress trong môi trường tình huống không quen thuộc là 64,2% và chờ đợi lâu dài tỉ lệ là 60,4%. Sự stress nhiều hơn đáng kể trong năm đầu tiên so với các sinh viên năm thứ tư. Trong số các chiến lược đối phó trong 12 lĩnh vực, vấn đề gia đình cố gắng giải thích với cha mẹ và thỏa hiệp tỉ lệ 73%, đi cùng với các quy tắc trong gia đình tỉ lệ 68% đã được sử dụng thường xuyên bởi hầu hết sinh viên. Để đối phó với yêu cầu tham gia vào hoạt động, sinh viên thường xuyên cố gắng tìm ra cách đối phó với vấn đề có tỉ lệ 66,4% và cố gắng để cải thiện bản thân có tỉ lệ 64,5%.

Các chiến lược tự chủ, cố gắng để làm theo quyết định của mình tỉ lệ 62%, các chiến lược hỗ trợ xã hội tỉ lệ 59,6%, cố gắng để giúp bạn khác giải quyết vấn đề của họ tỉ lệ 56,3%, và cố gắng để theo kịp bạn bè hoặc những người bạn mới tỉ lệ 54,4%, các chiến lược tinh thần như cầu nguyện/suy niệm tỉ lệ 65,8%, các chiến lược chuyển hướng tìm kiếm nghe nhạc tỉ lệ 57,7%, chiến lược thư giãn tỉ lệ 52,5%, và nỗ lực để được gần gũi với quan tâm đến một người nào đó về bạn tỉ lệ 50,5% đã từng sử dụng thường xuyên theo đa số sinh viên. Hầu hết sinh viên cho rằng các chiến lược tránh hút thuốc lá tỉ lệ 93,7% và uống bia hoặc rượu vang tỉ lệ 92,9%, chửi thề tỉ lệ 85,8%, chiến lược nhận được tư vấn chuyên nghiệp tỉ lệ 74,6% và nói chuyện với một giáo viên hoặc nhân viên tư vấn tỉ lệ 67,2% và chiến lược hài hước đùa và giữ một cảm giác hài hước tỉ lệ 51,9% [73]. Một nghiên cứu tại Tehran, hầu hết các sinh viên là nữ tỉ lệ 87,2% độ từ 18 đến 24 tuổi, khoảng 57% sinh viên sống trong ký túc xá trường đại học (đến từ các thành phố khác). Kết quả cho thấy sinh viên gặp khó khăn khi stress thì mới tìm kiếm bạn bè tỉ lệ 76,2% và làm việc với những người họ không biết tỉ lệ 63,4%, làm việc với những người họ không biết và thay đổi mối quan hệ trong hoạt động xã hội thì thường xuyên bị stress hơn so với sinh viên nhóm khác, những khác biệt này là ý nghĩa thống kê.

Phổ biến nhất của các yếu tố ảnh hưởng hưởng đến stress là trách nhiệm mới (tỉ lệ 72,1%, p<0,001), yếu tố bắt đầu học đại học và bắt đầu vào môi trường mới (tỉ lệ 65,8%), và thay đổi trong thói quen ngủ làm tăng stress nhiều hơn đáng kể so với những sinh viên khác. Bắt đầu có sự quan tâm và nghiên cứu về sức khỏe tâm lý ở thanh thiếu niên ở các nước như Trung Quốc, Hồng Kông, Thái Lan và các nước châu Á khác [103], chưa có nghiên cứu về sức khỏe tâm lý sinh viên Việt Nam từ năm 2010 trở về trước. Kết quả của một nghiên cứu định tính của nhóm tác giả H.G Van der Hooft-Leemans (2010), siên sinh viên Điều Dưỡng năm nhất về nhận thức đối với các bệnh nhân tâm thần và chăm sóc sức khỏe tâm thần ảnh hưởng đến sự lựa chọn của họ về chuyên môn trong việc chăm sóc sức khỏe tâm thần và tương lai làm việc trong lĩnh vực này, phương pháp phỏng vấn bán cấu trúc sinh viên học tại một trường học của Hà Lan [54], kết quả sinh viên Điều Dưỡng năm nhất có ấn tượng, chủ yếu là nhận thức tiêu cực đối với người bệnh là bệnh tâm thần và chăm sóc sức khỏe tâm thần. Những nhận thức mạnh mẽ ảnh hưởng sự lựa chọn tương lai nghề nghiệp của mình.

Khảo sát mối quan hệ giữa cách đối phó, lòng tự trọng, các yếu tố cá nhân và sức khỏe tâm lý trong 515 sinh viên Điều Dưỡng được lựa chọn từ bốn Viện Công cộng và các trường Cao Đẳng tại Tây An của Trung Quốc bằng một phương pháp lấy mẫu ngẫu nhiên, nhóm tác giả C.Liu và cộng sự 2010, họ đã sử dụng thang đo tự đánh giá SCL-90. Trên cơ sở tổng số điểm của thang đo SCL-90 đạt được trong cuộc khảo sát, gồm điểm nhóm thấp (100 SV) và nhóm điểm cao (100 SV). Sau đó thiết kế nghiên trường hợp bắt cặp được kiểm soát được thực hiện để xác định những mối quan hệ giữa cách đối phó, lòng tự trọng, các yếu tố cá nhân và sức khỏe tâm thần. Ngoài ra thống kê mô tả, phân tích Chi bình phương, t-test và phân tích hồi quy logistic đa biến cũng được sử dụng.

Các hoạt động đối phó và lòng tự trọng điểm của các nhóm điểm số cao đã được tìm thấy là thấp hơn nhiều so với những người trong nhóm điểm thấp (p<0,05). Phân tích hồi quy Logistic đa biến cho rằng học tập stress gấp 10 lần, khoảng tin cậy 95% là từ 3,3 đến 30,7 trong năm qua. Tự hài lòng cao, tỉ số chênh là 3,7% (OR= 0,037, KTC 95% từ 1,4% đến 9,7% và lòng tự trọng tăng lên khoảng 35% dao động trong KTC 95% là từ 15,2 đến 83,8%, và nó được xem là các yếu tố phòng ngừa. Để cải thiện sức khỏe tâm lý của sinh viên Điều dưỡng, ngoài việc giảm stress học tập, tránh bị động trong đối phó, đó là điều rất cần thiết để sinh viên giảm thiểu stress, đẩy mạnh tự chủ, và phát triển lòng tự trọng [74].

Một yếu tố khác đó là sự kỳ thị của sinh viên đối với người bị rối nhiễu tâm lý- bệnh tâm thần, một khảo sát trên sinh viên Dược khoa tại Úc, Bỉ, Estonia, Phần Lan, Ấn Độ và Latvia, cho thấy sinh viên học tập trong bối cảnh này thường biểu lộ thái độ tiêu cực đối với người bị rối loạn tâm thần. Một vài nghiên cứu quốc tế đã tìm cách điều tra các yếu tố của sự kỳ thị. Để tiến hành so sánh quốc tế sự kỳ thị của sinh viên các nước đối với người có tâm thần phân liệt, và để xác định xem sự kỳ thị được liên kết với các thuộc tính khuôn mẫu nào của những người bị tâm thần phân liệt, tác giả M.Woods và cộng sự (2010) khảo sát 649 người tại 8 trường Đại học ở Australia, Bỉ, Ấn Độ, Phần Lan, Estonia và Latvia, bộ câu hỏi (SDS) được sử dụng, và sáu yếu tố liên quan đến các thuộc tính khuôn mẫu của những người tâm thần phân liệt. Kết quả cho thấy trung bình là 19,65 ± 3,97 điểm SDS ở Úc, 19,61 ± 2,92 ở Bỉ, 18,75 ± 3,57) ở Ấn Độ, 18,05 ± 3,12) ở Phần Lan, và 20,90 ± 4,04) ở Estonia và Latvia.

Mô hình tiên đoán là mạnh mẽ nhất có liên quan với việc có một khoảng cách xã hội cao tại Úc (beta= -1,29), quan niệm cho rằng mọi người sẽ không bao giờ phục hồi tại Ấn Độ (beta= -0,88), là nguy hiểm ở Phần Lan (beta=-1,47) và nhận thức được khó khăn để nói chuyện với người bệnh ở Estonia và Latvia (beta = -2,08), khoảng cách xã hội thấp hơn ở Bỉ (beta=0,839). Ngoài ra kết quả cũng chỉ ra rằng các mức độ mà học sinh có thái độ kỳ thị tương tự ở mỗi nước, tuy nhiên, các yếu tố của sự kỳ thị là khác nhau [102]. Kết quả về thái độ của sinh viên ngành Phục hồi Chức năng trong một nghiên cứu thực nghiệm có nhóm chứng. Dân số mục tiêu được chia thành 2 nhóm: sinh viên phục hồi chức năng là 219 người, nhóm 2 sinh viên khác (không thuộc ngành y) là 112 người.

Tuổi từ 17-28 tuổi. Trong nhóm sinh viên PHCN, cho học 65 giờ về phục hồi chức năng tâm thần. Kết quả so sánh giữa hai nhóm cho thấy thái độ đối với bệnh tâm thần được tích cực vừa phải 103,3±9,9 điểm. Có một sự khác biệt nhỏ nhưng đáng kể giữa các sinh viên PHCN, sinh viên nữ có thái độ tích cực hơn đối với bệnh tâm thần so với sinh viên nam (Cohen d=0,44).

Những sinh viên có kinh nghiệm về bệnh nhân tâm thần thì có thái độ có liên quan với thái độ tích cực (Cohen d=0,68) hơn, nghĩa là thái độ tích cực tăng sau khi hoàn thành một khóa học tâm thần (Cohen d=0,72) [81]. Vấn đề sức khỏe tâm lý và hành vi tìm kiếm giúp đỡ giữa các sinh viên đại học. Theo nhóm tác giả Hunt.D rối loạn tâm thần phổ biến trong số các sinh viên đại học và các rối loạn này xuất hiện để được gia tăng về số lượng và mức độ nghiêm trọng [56]. Sức khỏe tâm lý của sinh viên Nữ Hộ sinh (Úc), tác giả Mc.E và cộng sự khảo sát Trường Đại học Victoria, Melbourne, Victoria 8001, Australia.

Phụ nữ mang thai và gặp vấn đề sức khỏe tâm lý sau sinh, có 38 SV được thăm dò, kết quả cho thấy rằng các sinh viên đã có một khái niệm chủ yếu là giáo dục sức khỏe cho phụ nữ và thông báo các can thiệp sức khỏe tâm lý cho phụ nữ sau khi sinh. Những phụ nữ có niềm tin tôn giáo thì mức độ rối loạn tâm lý sau khi sinh thấp hơn rất nhiều so với nhóm còn lại [69]. Yếu tố niềm tin trong bản thân của mỗi sinh viên, giúp cho họ giảm thấp tỉ lệ rối nhiễu tâm lý. Gần đây Úc cải cách chăm sóc sức khỏe, đã cố gắng để giải quyết giảm gánh nặng của bệnh mãn tính bằng cách áp dụng chăm sóc sức khỏe ban đầu.

Bằng cách này, các nhân viên sức khỏe cộng đồng được thử thách để chứng minh sự hiểu biết và năng lực của họ để thực hành theo nguyên tắc chăm sóc sức khỏe ban đầu. Mô hình này đặc biệt thích hợp cho tương lai phát triển chương trình đào tạo Cử nhân Điều dưỡng và Điều dưỡng y tế cộng đồng ở Úc [102]. Ngoài ra còn có bằng chứng về sức khỏe nghề nghiệp, can thiệp tại nơi làm việc có thể có hiệu quả những stress. Kompier đã chỉ ra rằng một số các can thiệp nhằm mục đích giảm bớt stress trong các trình điều khiển xe buýt đã có hiệu quả mang lại lợi ích cho nhân viên và các công ty xe buýt [61].

Là một cá nhân trở thành những người bị bệnh hoặc thương tích nghiêm trọng đối mặt với thực tế khác nhau rất nhiều stressors.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Tài liệu có tiêu đề "Rối nhiễu tâm lý ở sinh viên đại học Y Dược TP.HCM" khám phá những vấn đề tâm lý mà sinh viên trong lĩnh vực y dược đang phải đối mặt. Bài viết nêu bật các nguyên nhân gây ra rối nhiễu tâm lý, như áp lực học tập, kỳ vọng từ gia đình và xã hội, cũng như những ảnh hưởng tiêu cực đến sức khỏe tinh thần và thể chất của sinh viên. Đặc biệt, tài liệu cung cấp những giải pháp hữu ích để sinh viên có thể quản lý căng thẳng và cải thiện sức khỏe tâm lý của mình, từ đó nâng cao hiệu quả học tập và cuộc sống cá nhân.

Để mở rộng thêm kiến thức về tác động của căng thẳng trong học tập, bạn có thể tham khảo tài liệu "Tác động của các yếu tố gây ra căng thẳng trong học tập đến sinh viên trường học viện ngân hàng phân viện bắc ninh". Tài liệu này sẽ giúp bạn hiểu rõ hơn về các yếu tố gây căng thẳng và cách chúng ảnh hưởng đến sinh viên trong môi trường học tập. Mỗi liên kết là một cơ hội để bạn khám phá sâu hơn về chủ đề này và nâng cao hiểu biết của mình.