đặt vấn đề nghiên cứu nền tảng văn hóa, truyền thống, kinh tế - xã hội và pháp lý cho việc xác định thứ tự ưu tiên áp dụng tập quán phù hợp với hoàn cảnh của Việt Nam hiện nay. Vấn đề chứng minh tập quán được tác giả Ngô Huy Cương đề cập với đầy đủ các chi tiết như: nghĩa vụ chứng minh tập quán; phản chứng minh tập quán; các chi tiết cần chứng minh; các trường hợp chứng minh; thẩm tra tập quán; nhầm lẫn liên quan tới tập quán. Các vấn đề này có ý nghĩa rất lớn trong việc áp dụng tập quán. Tuy nhiên, tác giả Ngô Huy Cương chỉ dừng lại ở mức độ xây dựng tiền đề cho các hoạt động nghiên cứu tiếp theo.
Ý đồ này của tác giả Ngô Huy Cương đã được nêu rõ trong công trình nghiên cứu đang nói của mình. Mối liên hệ cơ bản của việc áp dụng tập quán theo tác giả Ngô Huy Cương là việc áp dụng tập quán có thể tạo ra tiền lệ pháp. Tuy nhiên trong tác phẩm của mình, tác giả này đã không có sự luận giải sâu về vấn đề này 13 z mà chỉ gắn việc nhận định với vụ "Cây chà 19 tiếng" do tác giả đưa ra để bình luận. Tác giả Ngô Huy Cương đã có công lớn đưa ra các câu hỏi nghiên cứu về tập quán chứa đựng các định hướng phát triển tập quán, đồng thời vạch ra các vấn đề liên quan tới đề tài nghiên cứu áp dụng tập quán.
Các câu hỏi bao gồm: Ai phải chứng minh qui tắc tập quán và chứng minh như thế nào? Nếu có sự khác nhau trong việc chứng minh qui tắc tập quán giữa các bên liên quan, thì giải quyết như thế nào? Trong trường hợp có sự nhầm lẫn về tập quán pháp thì nhầm lẫn như vậy có được chấp nhận không và giải pháp cho các trường hợp nhầm lẫn là gì? Cần nhìn nhận như thế nào về tiền lệ được tạo ra từ việc áp dụng qui tắc tập quán để giải quyết một vụ tranh chấp? và Tập quán có thứ tự ưu tiên như thế nào trong các loại nguồn của pháp luật? Tác giả Ngô Huy Cương nhận định sự phát triển của tập quán rất đáng lưu tâm bởi sự gắn bó của nó với dân chủ và gần gũi với đời sống con người. Thứ hai, công trình "Luật hợp đồng Việt Nam - Bản án và bình luận bản án". Đây là một cuốn sách chuyên khảo của PGS.TS Đỗ Văn Đại được ấn hành bởi Nxb Chính trị quốc gia vào năm 2008. Cuốn sách này nêu rõ nội dung của các vụ tranh chấp trong lĩnh vực hợp đồng và đưa ra những bình luận xuất phát từ lý luận, luật thực định, cũng như thực tiễn đời sống.
Trong các vụ việc đưa ra bình luận, có hai vụ được giải quyết thông qua áp dụng các qui tắc tập quán. Tại vụ "Cây chà 19 tiếng", tác giả Đỗ Văn Đại đề cập tới quan niệm về tập quán, thực trạng áp dụng tập quán, và các điều kiện áp dụng tập quán. Không phản biện các qui tắc của luật thành văn, tác giả Đỗ Văn Đại đã thừa nhận không bình luận định nghĩa khái niệm tập quán của Nghị 14 z quyết số 04/2005/NQ-HĐTP ngày 17/09/2005 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao. Tác giả này đã phân chia tập quán thành tập quán chưa được ghi nhận bởi pháp luật, và tập quán đã được chuyển hóa thành pháp luật.
Việc phân loại này có thể có tác dụng trong việc xem xét áp dụng qui tắc tập quán. Tuy nhiên tác giả này chưa đưa ra được sự phân biệt nào trong việc áp dụng hai loại qui tắc tập quán này. Tác giả Đỗ Văn Đại đã đưa ra các đánh giá pháp lý đối với vụ "Cây chà 19 tiếng" để bình luận thực trạng áp dụng tập quán. Đây là phương pháp truyền thống đáng lưu ý liên quan tới áp dụng tập quán.
Tuy nhiên tác giả Đỗ Văn Đại chưa xem xét một cách thỏa đáng tới các điều kiện áp dụng tập quán trong trường hợp này. Việc đánh giá các điều kiện áp dụng tập quán trong vụ việc cụ thể này còn nhiều việc phải bàn.TS Ngô Huy Cương đã có lời bình luận sâu sắc về việc đánh giá các điều kiện áp dụng tập quán trong vụ việc này qua bài viết nói trên của mình. Tác giả Đỗ Văn Đại bình luận vụ án qua việc phân tích ba điều kiện là: Thứ nhất, tập quán không được áp dụng khi có pháp luật qui định; thứ hai, tập quán không được áp dụng khi các bên có thỏa thuận khác; và thứ ba, tập quán chỉ được áp dụng khi không trái với những nguyên tắc của pháp luật. Đáng tiếc là pháp luật Việt Nam cũng coi áp dụng tập quán là một nguyên tắc của pháp luật (Bộ luật Dân sự năm 2005, Luật Thương mại năm 2005…).
Tác giả này đã không nhắc nhở tới vấn đề "không chống lại trật tự công cộng" và "thuần phong mỹ tục" trong các điều kiện áp dụng tập quán. Về vụ tranh chấp giữa Công ty cổ phần xuất nhập khẩu thủy sản NT và Công ty SY, tác giả Đỗ Văn Đại đã đưa ra bình luận của mình về áp dụng tập quán thương mại quốc tế ở Việt Nam. Tác giả này đã bác bỏ cái gọi là "tập quán quốc tế về chọn luật áp dụng" được qui định tại Điều 4, Nghị định 15 z 60/CP ngày 06/6/1997, đồng thời xem UCP 500 là nơi tập hợp các tập quán quốc tế. Tác giả Đỗ Văn Đại đã xác định các điều kiện áp dụng tập quán quốc tế như sau: (1) Khi không có qui định của văn bản pháp luật của quốc gia hoặc điều ước quốc tế điều chỉnh; (2) việc áp dụng hoặc hậu quả của việc áp dụng không trái với các nguyên tắc cơ bản của pháp luật Việt Nam; và (3) chỉ khi vấn đề cần giải quyết không được hợp đồng giữa các bên điều chỉnh.
Khi sử dụng các điều kiện này để bình luận, Đỗ Văn Đại đã đi đến nhận định tòa án áp dụng UCP 500 cho tranh chấp này là không đúng. Đây là các bình luận gợi ý nghiên cứu quan trọng và rất đáng tham khảo bởi sự gắn liền với thực tiễn tư pháp của các vấn đề lý luận và giải thích pháp luật. Thứ ba, công trình "Luật tục, hương ước - Những giá trị văn hóa pháp luật cần được giữ gìn, kế thừa và phát triển". Tác phẩm này của GS.TS Hoàng Thị Kim Quế trong cuốn "Văn hóa pháp luật - Những vấn đề lý luận cơ bản và ứng dụng chuyên ngành" do GS.TS Hoàng Thị Kim Quế và PGS.TS Ngô Huy Cương đồng chủ biên được Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội ấn hành vào năm 2011.
Đây là một công trình nghiên cứu đầy chất lý luận chung về luật tục của đồng bào Ê Đê và M’nông. Tác giả Hoàng Thị Kim Quế cho rằng luật tục thuộc phạm trù tập quán tồn tại dưới dạng truyền khẩu và thành văn bao gồm các qui tắc xử sự điều chỉnh mọi mặt đời sống cộng đồng. Các qui tắc xử sự này bao gồm cả các qui tắc của luật nội dung và của luật thủ tục. Các luật tục này, theo sự liệt kê của tác giả Hoàng Thị Kim Quế, không có các qui tắc liên quan tới thương mại, tuy nhiên có liên quan tới tài sản, quản lý và sử dụng đất đai, bảo vệ sản xuất và môi trường.
Mặc dù có nhắc tới các qui tắc tố tụng trong luật tục, nhưng tác giả Hoàng Thị Kim Quế chỉ tập trung phân tích các qui tắc của luật vật chất chứ không nêu ra các qui tắc của luật tố tụng. 16 z Tác giả Hoàng Thị Kim Quế có công trong việc nghiên cứu luật tục dưới giác độ lý luận pháp luật và nêu bật được sự cần thiết phát triển luật tục. Thứ tư, công trình "Luật tục và phát triển nông thôn hiện nay ở Việt Nam". Tác phẩm nổi tiếng này của Viện Nghiên cứu văn hóa dân gian ở Việt Nam thuộc Viện Hàn lâm Khoa học Xã hội Việt Nam được xuất bản tại Nxb Chính trị Quốc gia vào năm 2000.
Đây là một tác phẩm tập hợp nhiều nhất các công trình nghiên cứu của các nhà khoa học trong và ngoài nước về tập quán pháp hay luật tục của nhiều dân tộc đang sinh sống tại Việt Nam. Phần lớn các công trình ở đây nhìn nhận tập quán (luật tục) dưới giác độ văn hóa, dân tộc học, hay lịch sử truyền thống. Tuy nhiên có những công trình xem xét luật tục của đồng bào Tây Nguyên khá toàn diện. Công trình nghiên cứu "Nguồn gốc và bản chất luật tục Tây Nguyên" của PGS.TSKH Phan Đăng Nhật giảng giải về khái niệm luật tục trong sự so sánh với quan niệm về pháp luật của phương Tây.
Có sự khác biệt giữa chúng bởi ông cho rằng: luật tục có phạm vi rộng hơn bao gồm cả các qui phạm luân lý, đạo đức, phép ứng xử mà không đi kèm theo các công cụ đàn áp như nhà tù, trại giam, cảnh sát, quan tòa. Việc thi hành luật tục do các thành viên cộng đồng tổ chức theo hình thức Hội đồng thi hành. Và các thành viên này cùng nhau kiểm soát việc thi hành. Công trình "Một số quan niệm và phương pháp tiếp cận luật tục" của Nguyễn Thị Hiền đã đề cập tới các quan niệm khác nhau về tập quán pháp trên bình diện thế giới và nhấn mạnh tới các phương pháp tiếp cận tập quán pháp khác nhau như: Nhân loại học pháp luật, phương pháp chức năng, phương pháp của các nhà duy thực Hoa Kỳ, phương pháp nghiên cứu trường hợp, vụ án cụ thể.
Đồng thời, tác giả này giới thiệu các nguồn tìm kiếm tập quán pháp như: Phỏng vấn người cung cấp thông tin, quan sát và tìm hiểu những tranh luận thực tế, thu thập văn 17 z bản, ghi chép các vụ án. Mặc dù chỉ tổng kết lại những thông tin, kiến thức từ các công trình nghiên cứu khác ở trong và ngoài nước, nhưng công trình này đã tích hợp được rất nhiều thông tin có giá trị tham khảo cao. Tuy nhiên công trình này chưa đưa ra được những thông tin hoặc kiến thức về vấn đề áp dụng tập quán pháp. Công trình "So sánh luật tục Êđê và luật tục M’nông với một số vấn đề trong pháp luật hiện hành" của Trần Đình Long (Giám đốc Sở Tư pháp tỉnh Đắc Lắc) và công trình "Luật tục và việc phát triển nông thôn hiện nay ở Kon Tum" của Sở Tư pháp tỉnh Kon Tum đã đề cập tới các tập tục cụ thể ở các tộc người này, bao gồm cả các chế tài liên quan tới sự vi phạm các qui tắc tập tục.