Chương 1: Một số vấn đề lý luận cơ bản về áp dụng pháp luật bảo đảm tiền vay bằng tài sản thế chấp của bên thứ ba tại ngân hàng thƣơng mại Chương 2: Thực tiễn áp dụng pháp luật về bảo đảm tiền vay bằng tài sản thế chấp của bên thứ ba tại ngân hàng thƣơng mại ở Việt Nam Chương 3: Kiến nghị hoàn thiện và nâng cao hiệu quả áp dụng pháp luật về bảo đảm tiền vay bằng tài sản thế chấp của bên thứ ba tại ngân hàng thƣơng mại ở Việt Nam 4 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com CHƢƠNG 1: MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ ÁP DỤNG PHÁP LUẬT BẢO ĐẢM TIỀN VAY BẰNG TÀI SẢN THẾ CHẤP CỦA BÊN THỨ BA TẠI NGÂN HÀNG THƢƠNG MẠI 1.1 Khái quát chung về bảo đảm tiền vay bằng tài sản thế chấp của bên thứ ba 1. Khái niệm và đặc điểm bảo đảm tiền vay bằng tài sản Hoạt động tín dụng nói chung và hoạt động cho vay của các ngân hàng thƣơng mại (NHTM) nói riêng là một loại hình kinh doanh tiền tệ phức tạp. Cho vay là một hình thức cấp tín dụng, vay mƣợn tiền tệ có hoàn trả cả gốc và lãi giữa NHTM và khách hàng vay. Rủi ro trong hoạt động cho vay của NHTM cũng rất phức tạp và đa dạng.
Pháp luật của hầu hết các nƣớc đều có quy định cụ thể về an toàn trong hoạt động tín dụng, trong đó bảo đảm tiền vay đƣợc xem là quan trọng nhất. Bảo đảm tiền vay là vấn đề trọng tâm và có vai trò to lớn trong hoạt động cho vay của các NHTM hiện nay. Trong hoạt động cho vay của NHTM, bảo đảm tiền vay đƣợc hiểu là những biện pháp bảo đảm việc trả nợ vốn vay. Nói cách khác, bảo đảm tiền vay là sự thỏa thuận của ngƣời đi vay và NHTM trên cơ sở quy định của pháp luật nhằm thiết lập các biện pháp tác động mang tính chất dự phòng để đảm bảo việc trả nợ vốn vay, ngăn ngừa vi phạm và tạo khả năng khắc phục hậu quả do vi phạm nghĩa vụ trả nợ tiền vay gây ra.
Khoản 1 Điều 2 Nghị định 178/1999/NĐ-CP định nghĩa “ Bảo đảm tiền vay là việc TCTD áp dụng các biện pháp nhằm phòng ngừa rủi ro, tạo cơ sở kinh tế và pháp lý để thu hồi được các khoản nợ đã cho khách hàng vay”. Có thể chia bảo đảm tiền vay thành hai loại: bảo đảm tiền vay bằng tài sản và bảo đảm tiền vay không bằng tài sản; trong đó bảo đảm tiền vay bằng 5 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com tài sản bao gồm: cầm cố, thế chấp tài sản của khách hàng vay hoặc của bên thứ ba, có thể bằng tài sản hiện hữu hoặc tài sản hình thành từ vốn vay. Bảo đảm tiền vay bằng tài sản là loại bảo đảm tiền vay mà theo đó nghĩa vụ trả nợ của khách hàng vay đƣợc cam kết bảo đảm thực hiện bằng tài sản cầm cố, thế chấp của khách hàng vay hoặc của bên thứ ba. Trong trƣờng hợp khách hàng vi phạm nghĩa vụ trả nợ hoặc bên thứ ba không thực hiện nghĩa vụ thì tài sản bảo đảm tiền vay sẽ đƣợc xử lý để thu hồi nợ cho NHTM.
Bộ luật dân sự (BLDS) Việt Nam 2005 quy định 7 biện pháp bảo đảm thực hiện nghĩa vụ dân sự bao gồm: cầm cố tài sản, thế chấp tài sản, đặt cọc, ký cƣợc, ký quỹ, bảo lãnh và tín chấp. Biện pháp cầm giữ tài sản, hàng hóa đƣợc quy định trong Bộ luật hàng hải. Khoản 1 Điều 94 Luật các TCTD 2010 quy định: “Tổ chức tín dụng phải yêu cầu khách hàng cung cấp tài liệu chứng minh phương án sử dụng vốn khả thi, khả năng tài chính của mình, mục đích sử dụng vốn hợp pháp, biện pháp bảo đảm tiền vay trước khi quyết định cấp tín dụng”. Nghị định 178/1999/NĐ-CP về bảo đảm tiền vay của các TCTD quy định về các biện pháp bảo đảm tiền vay bằng tài sản bao gồm: cầm cố, thế chấp tài sản của khách hàng vay hoặc của bên thứ ba, bảo đảm tiền vay bằng tài sản hình thành từ vốn vay.
Nghị định 163/2006/NĐ-CP về giao dịch bảo đảm quy định 7 biện pháp bảo đảm thực hiện nghĩa vụ nhƣ trong Bộ luật dân sự 2005. Trên thực tế, số lƣợng các biện pháp bảo đảm đƣợc sử dụng trong hoạt động cho vay của các NHTM ít hơn so với các biện pháp bảo đảm đƣợc quy định trong BLDS và Nghị định 163. Các biện pháp bảo đảm thực hiện nghĩa vụ dân sự và bảo đảm tiền vay có chung đặc điểm là sử dụng tài sản cụ thể để bảo đảm thi hành nghĩa vụ. Bảo đảm tiền vay bằng tài sản là việc bên có nghĩa vụ (khách hàng vay vốn) hoặc bên thứ ba dùng tài sản thuộc quyền sở hữu của mình để bảo đảm cho nghĩa vụ xác lập đƣợc thực hiện.
Thực chất, ở loại biện pháp này, bên bảo 6 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com đảm xác nhận cho bên nhận bảo đảm có quyền năng chi phối đối với tài sản thuộc quyền sở hữu của mình. Để quyền đó đƣợc vẹn toàn, pháp luật phải tính đến việc dựa vào đâu để xác định quyền sở hữu của ngƣời bảo đảm (giấy tờ gốc, bản gốc, bản sao có công chứng, trƣờng hợp không có giấy chứng nhận quyền sở hữu thì nhƣ thế nào?), hay là việc công khai hóa quyền của ngƣời nhận bảo đảm đối với tài sản của ngƣời bảo đảm (đăng ký giao dịch bảo đảm). Tài sản bảo đảm có thể là bất động sản, động sản, quyền tài sản. Khi nghĩa vụ bị vi phạm - khách hàng không trả nợ theo thỏa thuận trong hợp đồng tín dụng ngân hàng hoặc bên thứ ba thực hiện không đúng nghĩa vụ trả nợ thì tài sản dùng để bảo đảm nghĩa vụ trả nợ tại NHTM đƣợc xử lý để thu hồi nợ, bảo đảm quyền lợi cho bên có quyền.
Biện pháp bảo đảm tiền vay bằng cầm cố, thế chấp tài sản của khách hàng vay có đối tƣợng trực tiếp là tài sản bảo đảm thuộc sở hữu của ngƣời bảo đảm đƣợc đem ra bảo đảm cho chính nghĩa vụ của ngƣời đó. Trong biện pháp bảo đảm tiền vay bằng cầm cố, thế chấp tài sản của bên thứ ba thì đối tƣợng trực tiếp đƣợc đƣa ra bảo đảm là tài sản thuộc quyền sở hữu hợp pháp của bên thứ ba để đảm bảo cho nghĩa vụ trả nợ tiền vay của bên có nghĩa vụ. Vậy trong bảo đảm bằng cầm cố, thế chấp tài sản của khách hàng vay chỉ có hai bên chủ thể mang quyền và nghĩa vụ quan hệ với nhau; nghĩa vụ có đƣợc thực hiện, thực hiện đúng hay không chỉ phụ thuộc vào bên có nghĩa vụ. Nếu có ngƣời thứ ba xuất hiện làm nhiệm vụ quản lý tài sản thì ngƣời này không đóng vai trò quyết định trong thực hiện nghĩa vụ chính.
Ngƣợc lại, trong biện pháp bảo đảm có tài sản của bên thứ ba, có ba bên chủ thể và xét cho cùng bên thứ ba đóng vai trò quyết định trong việc thực hiện nghĩa vụ khi nó phát sinh.] Bảo đảm tiền vay bằng tài sản có những đặc điểm cơ bản sau: 7 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Thứ nhất, các biện pháp bảo đảm tiền vay bằng tài sản tồn tại bên cạnh nghĩa vụ trả nợ của hợp đồng tín dụng mà nó bảo đảm. Điều 15 Nghị định số 163/2006/NĐ-CP ngày 29/12/2006 quy định: “1. Hợp đồng có nghĩa vụ đƣợc bảo đảm bị vô hiệu mà các bên chƣa thực hiện hợp đồng đó thì giao dịch bảo đảm chấm dứt; nếu đã thực hiện một phần hoặc toàn bộ hợp đồng có nghĩa vụ đƣợc bảo đảm thì giao dịch bảo đảm không chấm dứt, trừ trƣờng hợp có thoả thuận khác. Giao dịch bảo đảm vô hiệu không làm chấm dứt hợp đồng có nghĩa vụ đƣợc bảo đảm, trừ trƣờng hợp có thoả thuận khác.
Hợp đồng có nghĩa vụ đƣợc bảo đảm bị huỷ bỏ hoặc đơn phƣơng chấm dứt thực hiện mà các bên chƣa thực hiện hợp đồng đó thì giao dịch bảo đảm chấm dứt; nếu đã thực hiện một phần hoặc toàn bộ hợp đồng có nghĩa vụ đƣợc bảo đảm thì giao dịch bảo đảm không chấm dứt, trừ trƣờng hợp có thoả thuận khác. Giao dịch bảo đảm bị huỷ bỏ hoặc đơn phƣơng chấm dứt thực hiện không làm chấm dứt hợp đồng có nghĩa vụ đƣợc bảo đảm, trừ trƣờng hợp có thoả thuận khác. Trong trƣờng hợp giao dịch bảo đảm không chấm dứt theo quy định tại khoản 1 và khoản 3 Điều này thì bên nhận bảo đảm có quyền xử lý tài sản bảo đảm để thanh toán nghĩa vụ hoàn trả của bên có nghĩa vụ đối với mình.” Theo quy định tại Điều 15 nói trên, nếu áp dụng cho hợp đồng tín dụng có bảo đảm bằng thế chấp tài sản thì có thể hình dung mối tƣơng quan về hiệu lực giữa hai hợp đồng này (hợp đồng tín dụng và hợp đồng thế chấp) nhƣ sau: 8 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Trường hợp thứ nhất, có hai khả năng xảy ra: - Nếu hợp đồng tín dụng có bảo đảm bằng thế chấp bị vô hiệu hoặc đã có hiệu lực nhƣng bị hủy bỏ bởi thỏa thuận của các bên hoặc bởi ý chí đơn phƣơng của một bên nhƣng chƣa đƣợc thực hiện thì hợp đồng thế chấp bị chấm dứt. Cần lƣu ý rằng theo quy định của điều luật nêu trên thì trong trƣờng hợp này, hợp đồng thế chấp bị chấm dứt, nghĩa là đã có hiệu lực rồi sau đó mới chấm dứt hiệu lực do không cần thiết duy trì hiệu lực của hợp đồng thế chấp nữa, chứ không phải là hợp đồng thế chấp bị vô hiệu ngay từ khi ký kết.
- Nếu hợp đồng tín dụng có bảo đảm bằng thế chấp bị vô hiệu hoặc đã có hiệu lực nhƣng bị hủy bỏ bởi thỏa thuận của các bên hoặc bởi ý chí đơn phƣơng của một bên và đã đƣợc thực hiện một phần hoặc toàn bộ thì hợp đồng thế chấp không bị đƣơng nhiên chấm dứt, trừ trƣờng hợp các bên có thỏa thuận chấm dứt hợp đồng thế chấp này vì thấy không cần thiết phải tiếp tục thực hiện hợp đồng nữa. Trong trƣờng hợp này, nếu hợp đồng thế chấp không bị chấm dứt trong khi tổ chức tín dụng đã giải ngân cho khách hàng thì bên nhận thế chấp (tổ chức tín dụng) có quyền xử lý tài sản thế chấp để thu hồi số tiền đã giải ngân cho khách hàng.