Đặt vấn đề Những nghiên cứu chung về phát triển cây ăn quả trên thế giới khẳng định: sản xuất cây ăn quả nhìn chung có xu hướng gia tăng và ngày càng được chú trọng trong cơ cấu nông nghiệp ở nhiều nước. Vai trò quan trọng của cây ăn quả cà ng được khẳng định trong sản xuất nông sản hàng hoá, tạo thu nhập của người dân. Ổi là là loại quả có hàm lượng dinh dưỡng cao, đặc biệt có nhiều loại vitamin và khoáng chất, có thể ăn tươi, làm đồ hộp, nước ổi, mứt ổi,. quả non, búp ổi, vỏ cây và rễ có thể sử dụng làm thuốc chữa bệnh.
Ở nước ta, cây ổi được đánh giá là loại cây dễ trồng, thích hợp nhiều loại đất, có khả năng chịu hạn, chịu úng tốt, cho năng suất cao nếu được chăm sóc tốt. Tại Việt Nam, ổi là loại cây ăn quả không phổ biến, chưa được đầu tư các đề tài nghiên cứu cũng như thống kê về diện tích, năng suất, sản lượng mang tính chính thức, tuy nhiên, cây ổi vẫn được trồng trong vườn gia đình tại mọi vùng sinh thái trong cả nước, với các giống được kể đến như: ổi Bo Thái Bình, ổi Đông Dư, ổi đào, ổi mỡ, ổi găng, ổi xá lị, ổi trâu,. Tại các tỉnh đồng bằng sông Cửu Long, và một số tỉnh thuộc đồng bằng sông Hồng như Hà Nội, Hải Dương…, cây ổi hiện nay được xếp vào loại cây mang lại hiệu quả khá cao cho người trồng. Cùng với nhiều loại cây ăn trái khác, ổi đã thực sự trở thành nông sản hàng hoá.
Diện tích ổi tăng theo từng năm và thị trường tiêu thụ cũng rất rộng mở. Ở đồng bằng sông Cửu Long, từ nhiều năm nay, sản lượng ổi không chỉ đáp ứng nhu cầu trong vùng sản xuất mà còn được tiêu thụ ở nhiều tỉnh, thành khác trong cả nước. Thành phố Hồ Chí Minh là một trong những nơi sản xuất và cũng là thị trường lớn nhất với 1.197 ha (sản lượng 27. Tiền Giang cũng là địa phương có diện tích ổi lớn với nhiều giống khác nhau: ổi sẻ, ổi bôm, ổi xá lị, ổi Đài Loan, ổi không hạt Thái Lan,… c 2 Tại các tỉnh miền Bắc, cây ổi từ lâu đã đã đem lại thu nhập không nhỏ cho người sản xuất tại một số vùng như Thái Bình (ổi Bo), Hà Nội (ổi Đông Dư) với giá mua của các thương lái tại ruộng từ 4-5 ngàn đồng/kg, tương đương thu nhập 7-8 triệu /sào Bắc Bộ, được đánh giá là tương đối cao so với nhiều loại cây ăn quả khác.
Thời gian gần đây, một số giống ổi có nguồn gốc Trung Quốc, Đài Loan với những đặc điểm hình thái là quả to (150-200 gr/quả), ngọt, hạt mềm đã được người nông dân mua và trồng thử. Kết quả bước đầu đã cho thấy các giống sinh trưởng và phát triển tốt, cho năng suất cao, đem lại thu nhập rất lớn cho người sản xuất (từ 8 - 10 triệu/sào/năm). Những giống này đã phát triển mạnh tại một số địa phương, có nơi diện tích lên tới hàng ngàn ha (Thanh Hà - Hải Dương). Trước đây, ở nước ta ổi thường mọc hoang hoặc trồng vườn nhà để lấy quả ăn.
Ngày nay, do nhận thấy giá trị của cây ổi mang lại nên nó được trồng nhiều và phổ biến hơn ở hầu khắp các vùng trong trong cả nước. Ở các tỉnh phía bắc, cây ổi đã đem lại thu nhập không nhỏ cho cho người sản xuất tại một số vùng như Hải Dương, Thái Bình, Hà Nội, phần lớn là các giống ổi địa phương như: ổi Đào, ổi Mỡ, ổi Đông Dư, ổi Bo, ổi Trắng… tuy nhiên các giống ổi địa phương đều là giống nhiều hạt, chất lượng quả không cao. Để giống ổi có được năng suất cao, chất lượng tốt ngoài chất lượng giống còn chú ý các biện pháp kỹ thuật thâm canh ổi, đặc biệt dinh dưỡng phân bón. Hiện nay đa số người dân trồng ổi sử dụng phân bón không theo quy trình cụ thể và không riêng cho từng giống.
Chủng loại phân bón cũng như liều lượng phân bón khác nhau tùy theo từng địa phương và từng nông hộ. Các biện pháp kỹ thuật bón phân chỉ áp dụng với các giống có diện tích sản suất lớn còn trồng nhỏ lẻ tại các hộ gia đình hầu như không bón hoặc bón phân theo cảm tính, dựa vào kinh nghiệm là chủ yếu gây lãng phí mà hiệu quả đạt được không cao. Chính vì vậy nhằm góp phần giúp người dân có được công thức bón phân hợp lý, tiết kiệm chi phí, nâng cao năng suất và chất c 3 lượng, tôi tiến hành nghiên cứu đề tài: “Nghiên cứu ảnh hưởng của một số tổ hợp phân bón đến sinh trưởngvà phát triển giống ổi Đài Loan tại trường Đại Học Nông Lâm Thái Nguyên”. Mục đích và yêu cầu 1.
Mục Tiêu Trên cơ sở kết quả nghiên cứu ảnh hưởng của tổ hơ ̣p phân bón đến khả năng sinh trưởng và phát triển của cây ổi Đài Loan tại Đại học Nông Lâm Thái Nguyên, từ đó đề xuất tổ hơ ̣p phân bón phù hợp góp phần xây dựng quy trình bón phân cho cây ổi Đài Loan tại Thái Nguyên. Yêu cầu của đề tài + Đánh giá được ảnh hưởng của tổ hợp phân bón đế n các chỉ tiêu sinh trưởng và phát triển giố ng ổi Đài Loan. + Đánh giá được ảnh hưởng tổ hợp phân bón đến năng suất và các yếu tố cấu thành năng suất giố ng ổi Đài Loan. + Đánh giá được ảnh hưởng của tổ hợp phân bón đến mức độ biểu hiện sâu bệnh hại giố ng ổi Đài Loan.
Cơ sở khoa ho ̣c và thƣc̣ tiễn của đề tài 1. Cơ sở khoa học - Kết quả nghiên cứu của đề tài sẽ cung cấp các dẫn liệu khoa học, làm cơ sở cho việc nghiên cứu, xây dựng các biện pháp kỹ thuật thâm canh, sử dụng các loại phân bón thích hợp cho cây ổi trên địa bàn Thái Nguyên. - Kết quả nghiên cứu của đề tài bổ sung tài liệu cho công tác nghiên cứu khoa học của sinh viên, làm tài liệu tham khảo cho việc giảng dạy về cây ổi tại Trường. Cơ sở thực tiễn Kế t quả nghiên cứu của đề tài sẽ cung cấ p những thông tin đáng tin câ ̣y cho thực tiễn sản xuấ t trong viê ̣c xây dựng tổ hợp phân bón , chỉ đạo thực hiện quy trin ̀ h canh tác cho giố ng ổi Đài Loan , đồng thời giúp nâng cao năng suất, chất lượng và tiết kiệm chi phí sản xuất cho người dân.
c 4 PHẦN 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 2. Tổng quan tình hình nghiên cứu trong và ngoài nƣớc 2. Những nghiên cứu ở nước ngoài 2. Những nghiên cứu về giống Ổi là (PSIDIUM GUAJAVA L.) là cây ăn quả nhiệt đới thuộc họ Myrtaceae, tên tiếng Anh là Guava.
Theo Ortho (1985), chương trình nghiên cứu cải thiện giống ổi được bắt đầu từ năm 1961 ở Columbia và tại Brazin. [12] Tại Mexico, ổi là một trong những cây trồng hàng đầu có diện tích lớn hàng năm với 14.700 ha, sản lượng quả 192. Chỉ trong những năm gần đây mới có các chương trình nghiên cứu để xác định những giống ổi năng suất phục vụ cho canh tác và một số lĩnh vực khác có liên quan. Tại một số nước trên thế giới, các giống ổi có nguồn gốc hoang dại được gọi là Guayabales và được trồng nhiều tại Hawaii, Malaysia, New Caledo nia, Fiji, Puetorico, Cuba và bắc Florida.
Năm 1972, sản lượng ổi của Hawaii phục vụ nội tiêu và xuất khẩu đạt hơn 2.500 tấn trong số đó là 90% thuộc về các giống hoang dại. Trong suốt thế chiến thứ 2, việc thu hoạch ổi có nguồn gốc hoang dã ở Cuba chỉ đạt 10.000 tấn và trong đó, có hơn 6.500 tấn phục vụ xuất khẩu. Một số giống và thực liệu quan trọng là: LUCKNOW - 49: Được tuyển chọn từ Poona (Cheema và Desmuk, 1927). Cây bán lùn cao từ 2,3 - 3,3 m, cây mạnh khỏe, cành điển hình mang nhiều quả.
Quả hơi tròn hình ô van, vỏ quả màu vàng thi thoảng điểm chấm đỏ trên vỏ quả, ngọt và có hương vị rất thượng hạng ALLAHABAD SAFEDA: Được trồng phổ biến ở Uttar Pradesh. Cây khỏe mạnh chiều cao trung bình 5,8-6,2m cành cho sai quả cùng với bộ tán lá c 5 dày đặc. Quả nhỏ trung bình 180g hình hơi tròn vỏ quả hơi vàng trắng, có chất lượng tốt. BANARASI: Là loại ổi rất ngọt, vị chua ít.
Cây nhỏ cao 4,2 đến 5,4 m. Quả tròn màu vàng, có chất lượng quả trung bình. HARIJHA: Được trồng nhiều vì mang nhiều quả. Cây trung bình 3,5 m cây khỏe, cành thưa, lá trung bình từ 8,2 - 8,6 cm rộng 3,2 cm hình mũi mác, đuôi lá tròn.
Quả tròn màu xanh nhạt hơi vàng, chất lượng quả thượng hạng. CHITTIDAR: Cây cao từ 5 - 5,8 m tán vòng tròn cành xòe, lá rộng, dài 12,2 - 12,8 cm rộng 5,72 cm hình elip - ovan chữ nhật thuôn dài - elip. Đuôi lá nhọn, tròn. Quả hình cầu nhỏ, màu vàng đặc trưng có vài chấm đỏ tách ra, ngọt có chất lượng tốt.
APPLE COLOUR: Cây nhỏ 4,0 - 5,2m tán rộng, phát triển rộng lá 10,4 cm rộng 5,7 cm hình elip, quả hình cầu điểm hồng sáng trên bề mặt quả, ngọt có chất lượng tốt. BARUIPUR: Là loại có tính chất thương mại ở tây Bengal Ấn Độ. Cây cao trung bình 4,2 - 5,4m, phát triển rộng, tán rậm rạp, chen chúc. Quả hình tròn màu vàng và trắng, có chất lượng quả trung bình.
BEHAT COCONUT: Cây cao 4,8 - 5,3m sức phát triển ở mức độ vừa phải, cành dày nặng chen chúc, vỏ cây màu nâu đen, lá rộng 12,8 - 6,4 cm, hình ô van - hình mũi mác, thỉnh thoảng xoắn. Quả hình tròn, trên bề mặt quả có chấm tròn, ngọt và chất lượng tốt. PEAR SHAPED RED FLESHED : Cây khỏe mạnh, chiều cao trung bình từ 3,5 - 4,8 m, cành trải dài tán dạng bình mở. Quả hơi tròn hình ovan, màu vàng nghệ có vài chấm đỏ trên bề mặt quả, cùi quả màu hồng rực chất lượng quả trung bình.
SEEDLESS: Cây cao thân dài 5,2 đến 5,8 m cành thẳng đứng lá dài 13,6 - 14 cm rộng 7,2 cm hình chữ nhật thuôn dài, quả dài hơn rộng tròn c 6 như quả cầu, quả màu vàng rơm, cùi quả dày màu trắng kem, chất lượng quả thượng hạng. ALLAHABAD SURKHA: Chọn từ gieo trồng bằng hạt, mang quả rộng, đồng loạt quả màu hồng, thịt quả màu hồng ở vùng Allahabad. Quả ngọt đậm nhiều người ưa thích, quả có vài hạt (Nand et al. SAFED JAM: Được tạo ra khi lai giữa Allahabad Safeda và Kohir (ở địa phương trồng ổi Hyderabad - Karnataka) và trung tâm nghiên cứu quả Sangareddy (Andhra Pradesh).
Được sản xuất vùng quả rộng có ít hạt, hạt mềm chất lượng quả tốt, ascorbic acid nhiều hơn bố mẹ.