Đặt vấn đề Nông nghiệp chiếm một vị trí quan trọng trong nền kinh tế quốc dân của nước ta. Để phát triển nền nông nghiệp toàn diện, ngoài trồng trọt, chăn nuôi chiếm vị trí không nhỏ trong sự nghiệp phát triển nông nghiệp và nâng cao đời sống của người dân. Chăn nuôi không những góp phần làm tăng thu nhập, tận dụng nguồn lao động thừa, còn là một nguồn lợi không nhỏ cho bất cứ một quốc gia nông nghiệp nào. Ở Việt Nam ngành chăn nuôi nói chung và chăn nuôi gia cầm nói riêng đã có từ lâu nhưng quy mô còn nhỏ lẻ.
Trong những năm gần đây, ngành chăn nuôi gia cầm phát triển mạnh cả về số lượng và chất lượng. Nó không những đáp ứng được nhu cầu trong nước, mà còn xuất khẩu sang nước ngoài. Chăn nuôi gia cầm có ý nghĩa kinh tế lớn vì nó có khả năng đáp ứng nhanh nhu cầu về các loại sản phẩm như trứng, thịt có giá trị dinh dưỡng cao (có tỷ lệ protein cao và đầy đủ các axit amin thiết yếu). Ngoài ra nó còn cung cấp phân bón cho ngành trồng trọt và cung cấp một số sản phẩm phụ như lông cho ngành công nghiệp nhẹ.
Giống gà Isa brown là giống gà chuyên trứng, cao sản của thế giới, được nhập vào Việt Nam năm 1998 từ Cộng hoà Pháp, hiện nay đang được nuôi nhiều ở trang trại, gà có năng suất trứng cao, trứng có vỏ màu nâu, được thị trường ưa chuộng. Để đánh giá yếu tố môi trường trong chuồng kín đến sức sản xuất của giống gà này, chúng tôi đã tiến hành đề tài:“Nghiên cứu ảnh hưởng tiểu khí hậu chuồng nuôi tới khả năng sản xuất của gà Isa brown giai đoạn hậu bị tại Thái Nguyên” 2. Mục tiêu của đề tài - Đánh giá khả năng sản xuất của gà Isa brown giai đoạn hậu bị. - Ảnh hưởng của tiểu khí hậu chuồng nuôi tới khả năng sản xuất của gà Isa brown giai đoạn hậu bị.
Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài - Kết quả của đề tài có thể làm tài liệu tham khảo trong các nghiên cứu tiếp theo. - Cơ sở khoa học để khuyến cáo người dân cách nuôi dưỡng và chăm sóc gà có hiệu quả. - Bản thân tập làm quen với công tác nghiên cứu khoa học. Tổng quan tài liệu 2.
Cơ sở khoa học của đề tài 2. Đặc điểm sinh học về gia cầm Sinh trưởng Sinh trưởng là quá trình tăng kích thước, khối lượng của cùng một loại tế bào, mô, cơ quan giúp cho cơ thể lớn lên. Theo Trần Đình Miên và cs, (1975) [11] sinh trưởng là quá trình tích lũy chất hữu cơ cho quá trình đồng hóa và dị hóa, sự tăng về chiều cao, chiều dài bề ngang, khối lượng các bộ phận, toàn bộ cơ thể con vật trên cơ sở tính di truyền từ đời trước. Chambers, (1990) [21] định nghĩa: sinh trưởng là quá trình tích lũy các bộ phận trên cơ thể như thịt, xương, da những bộ phận này không những khác nhau về tốc độ sinh trưởng mà còn phụ thuộc vào chế độ dinh dưỡng.
Sinh trưởng gắn liền với phát dục. Đó là quá trình thay đổi về chất lượng, là sự tăng và hoàn chỉnh thêm về chức năng hoạt động các bộ phận, cơ quan. Sinh trưởng và phát dục có mối quan hệ mật thiết, không tách rời nhau mà ảnh hưởng lẫn nhau, là quá trình diễn ra trên cùng một cơ thể làm cho con vật ngày càng hoàn chỉnh. Sự sinh trưởng, phát dục của gia súc, gia cầm luôn tuân theo quy luật nhất định , đó là quy luật sinh trưởng phát dục theo giai đoạn, quy luật sinh trưởng phát dục không đều và quy luật tính chu kỳ.
Tính toàn giai đoạn của sinh trưởng biểu hiện dưới hình thức khác nhau. Theo Nguyễn Ân và cs, (1983) [2] thời gian của các giai đoạn dài hay 15 ngắn, số lượng giai đoạn sự đột biến trong sinh trưởng của từng giống từng cá thể có sự khác nhau. Sự sinh trưởng và phát dục không đồng đều được thể hiện sự thay đổi rõ rệt về tốc độ sinh trưởng và cường độ tăng trong của cơ thể con vật ở từng lứa tuổi. Sự sinh trưởng không đều con biểu hiện ở từng cơ quan bộ phận: mô cơ, xương… có bộ phận ở thời kỳ phát triển này nhanh nhưng ở thời kỳ khác lại phát triển chậm.
Đứng về phía cạnh sinh học các nhà khoa học cho rằng sự sinh trưởng được xem như là sự tổng hợp protein, nên người ta thường lấy việc tăng khối lượng cơ thể làm chỉ tiêu tăng trưởng. Tuy nhiên, tăng trưởng không đồng nghĩa với tăng khối lượng, sự tăng trưởng thực sự là sự tăng lên về khối lượng, số lượng và các chiều của các tế bào mô cơ (theo Nguyễn Thu Quyên, 2008 [14]). Theo Trần đình Miên và cs, (1975) [11] phát hiện ra quy luật ưu tiên các chất dinh dưỡng đối với sự phát triển của các cơ quan tiêu hóa, tổ chức cơ, tổ chức mỡ, sau khi thừa các chất dinh dưỡng mới cho tích lũy mỡ. Sinh trưởng là quá trình sinh lý phức tạp kéo dài từ lúc trứng được thụ tinh đến khi con vật trưởng thành.
Việc đánh giá chính xác toàn bộ quá trình sinh trưởng là một công việc khó khăn phức tạp. Ngày nay các nhà chọn giống vật nuôi có khuynh hướng sử dụng các phương pháp đơn giản và thực tế. Đó là, xác định khả năng sinh trưởng theo ba hướng: chiều cao, thể tích và khối lượng. Khối lượng cơ thể : Về mặt sinh học sinh trưởng được coi như là quá trình tổng hợp tích lũy dần các chất mà chủ yếu là protein.
Do vậy, có thể lấy việc tăng khối lượng làm chỉ tiêu đánh giá khả năng sinh trưởng của gia súc, gia cầm. Khối lượng cơ thể gia cầm là một tính trạng di truyền số lượng. Tính trạng này có hệ số di truyền khá cao và phụ thuộc nhiều vào đặc điểm của giống, loài. Còn theo Branch và Bilechel (1972) [18] thì hệ số di truyền là 40-60%.
Ngoài ra, tính trạng khối lượng cơ thể còn liên quan và phụ thuộc vào tính biệt, tuổi, hướng sản xuất, đồng thời biến đổi mạnh dưới tác động của ngoại cảnh, môi trường. 16 Khối lượng cơ thể còn tương quan với khối lượng trứng cũng như kích thước tất cả các phần của cơ thể ở 8 tuần tuổi. Giữa khối lượng cơ thể và sức đẻ có mối tương quan âm. - Các chỉ tiêu đánh giá sinh trưởng: Theo Trần Đình Miên và cs, (1975) [11] tốc độ sinh trưởng là cường độ tăng của các chiều của cơ thể trong khoảng thời gian nhất định.
Trong chăn nuôi gia cầm người ta thường sử dụng hai chỉ số để mô tả tốc độ sinh trưởng: sinh trưởng tuyệt đối và sinh trưởng tương đối. Sinh trưởng tuyệt đối là sự tăng lên về khối lượng kích thước và thể tích cơ thể lúc kết thúc khảo sát (Tiêu chuẩn Việt Nam 2 , 39. Sinh trưởng tuyệt đối thường được tính bằng gam/con/ngày. Đồ thị sinh trưởng tuyệt đối có dạng parabol, giá trị sinh trưởng tuyệt đối càng cao thì hiệu quả kinh tế càng lớn.
Sinh trưởng tương đối là tỷ lệ phần trăm tăng lên về khối lượng, kích thước và thể tích cơ thể lúc kết thúc kháo sát (Tiêu chuẩn Việt Nam 2,40, 1997) [17]. Đường biểu diễn sinh trưởng tương đối có dạng hypebol cao ở giai đoạn sau sơ sinh và giảm dần về giai đoạn trưởng thành. Sinh trưởng tương đối tính bằng đơn vị %. Khả năng chuyển hóa thức ăn Trong chăn nuôi nói chung và chăn nuôi gia cầm nói riêng, việc tạo ra giống mới có năng suất cao thì chưa đủ, mà còn phải tạo ra nguồn thức ăn giàu chất dinh dưỡng phù hợp với đặc tính sinh lý, phù hợp với mục đích sản xuất của từng giống, dòng và phù hợp với từng giai đoạn phát triển của vật nuôi.
Tiêu tốn thức ăn/tăng khối lượng là hệ số chuyển hoá thức ăn, với gà nuôi thịt, tiêu tốn thức ăn chủ yếu dùng cho việc tăng khối lượng. Nếu tăng khối lượng càng nhanh thì cơ thể đồng hoá tốt, khả năng trao đổi chất cao, do vậy hiệu quả sử dụng thức ăn cao dẫn đến tiêu tốn thức ăn thấp. Bằng thực nghiệm đã chứng minh tiêu tốn thức ăn cho tăng khối lượng phụ thuộc vào rất nhiều yếu tố như: Giống, tuổi, tính biệt, mùa vụ, chế độ chăm sóc nuôi dưỡng cũng như tình hình sức khỏe của đàn gia cầm. 17 Hệ số tương quan di truyền giữa khối lượng cơ thể và tăng khối lượng với tiêu tốn thức ăn thường rất cao được xác định là (0,5 - 0,9).
Tương quan giữa sinh trưởng và chuyển hoá thức ăn là tương quan âm từ (-0,2 đến -0,8). Theo Phan Sỹ Điệt (1990), [8] khi nuôi gà broiler Ross - 208 ở 6 tuần tuổi với các mức năng lượng khác nhau cho tiêu tốn thức ăn 1,88 - 2,2 kg. Sinh trưởng nhanh và tiêu tốn thức ăn thấp luôn là mục tiêu của nhiều công trình nghiên cứu về lai tạo giống gia cầm Đối với gia cầm sinh sản, thường tính tiêu tốn thức ăn cho 10 quả trứng hay 1 kg trứng. Hiện nay nhiều cơ sở chăn nuôi trên thế giới đã áp dụng phương pháp tính mức tiêu tốn thức ăn bằng lượng chi phí thức ăn cho gia cầm từ lúc 1 ngày tuổi cho đến 1 năm đẻ.
Theo Phùng Đức Tiến và cs (1999) [16], gà Ai Cập tiêu tốn 2,33 kg thức ăn/10 quả trứng trong 43 tuần đẻ. Nguyễn Huy Đạt, Trần Long và cộng sự (1996) [7] cho biết, tiêu tốn thức ăn/ 10 trứng trong 12 tháng của gà Goldline – 54 thương phẩm đạt 1,65 – 1,84 kg. Nguyễn Huy Đạt và cs (2000) [6] cho biết, tiêu tốn thức ăn/10 trứng của gà BE43, ISA – MPK, AA lần lượt là: 3,3, 3,45, 3,66 kg. Gà mái Goldline 54 bố mẹ: Thức ăn tiêu thụ cho 1 gà nuôi: 7,8 kg.
Gà mái Hy-line Brown bố mẹ: 7,65 kg, thương phẩm là 5,7 - 6,0 kg. Gà Brown Nick: + Hạn chế thức ăn: 6,1 - 6,4 kg + Cho ăn tự do: 6,4 - 6,7 kg Gà Babcock B - 380 Thức ăn tiêu thụ/mái: 6,9 kg (gà mái bố mẹ), 6,6 kg (gà mái TP). Các yếu tố ảnh hưởng đến khả năng sản xuất của gia cầm Sức sản xuất trứng là đặc điểm phức tạp và biến động, nó chịu ảnh hưởng bởi tổng hợp các yếu tố bên trong và bên ngoài: - Giống, dòng: Ảnh hưởng đến sức sản xuất một cách trực tiếp. Cụ thể giống Leghorn trung bình có sản lượng 250 - 270 trứng/năm.
Về sản lượng 18 trứng, những dòng chọn lọc kỹ thường đạt chỉ tiêu cao hơn những dòng chưa được chọn lọc kỹ khoảng 15% - 30% về sản lượng. - Tuổi gia cầm: có liên quan chặt trẽ tới sự đẻ trứng của nó.