MỞ ĐẦU 1. Tính cấp thiết của đề tài Rau họ hoa thập tự (họ cải - Brassicas), có vai trò quan trọng đối với đời sống hàng ngày của nhân dân ta. Họ này có thành phần khá phong phú nhƣ: rau cải xanh, cải bắp, su hào,. giữ vai trò quan trọng trong vụ Đông Xuân.
So với năng suất rau của nhiều nƣớc trên thế giới, năng suất rau ở nƣớc ta còn thấp, một trong những nguyên nhân chủ yếu là do sâu bệnh hại. Theo thống kê chƣa đầy đủ, hàng năm sâu hại làm giảm năng suất rau 15 – 20%. Trong các loài sâu hại cải, sâu (Brevicoryne brasicae và Myzus persicae) là một trong những đối tƣợng gây hại nguy hiểm vì sâu không chỉ chích hút nhựa cây, gây tổn thƣơng cho cây, mà sâu còn là môi giới (vật chủ trung gian) truyền 17 loại bệnh virus cho cây nhƣ: Cauliflower Mosaic Virus (CaMV), Turnip Mosaic Virus (TuMV), Blue white yellows Virus (BWYR),. Đây là một loại bệnh cực kỳ nguy hiểm nhất đối với cây trồng nói chung và rau họ hoa thập tự nói riêng, vì khi cây bị bệnh không có biện pháp nào để trừ, lúc đó cách duy nhất là nhổ bỏ cây bị bệnh và vệ sinh ngay vùng đó để bệnh khỏi lan truyền sang diện rộng.
Cho nên, để phòng ngừa bệnh virus hại rau họ hoa thập tự, việc quan trọng là phải diệt trừ môi giới truyền bệnh virus đó là sâu. Ở những nƣớc phát triển nhƣ: Mỹ, Đức, Thụy Sỹ, Thụy Điển, Pháp, Nhật,. để phòng trừ sâu hại cải, có nhiều biện pháp nhƣ: Sử dụng thiên địch nhƣ: Bọ rùa chữ nhân Coclinella repanda, bọ rùa 4 vạch, Chilomenes quadriplahiata, bọ rùa 6 vạch Chilomenes sexmaemlatu, bọ rùa 2 đốm đỏ Coelophora liplagiata, bọ rùa 8 vạch Synharmonia octomaculuta và ấu trùng ruồi Sirphus sp, bọ mắt vàng Chrysopa carnae; các chế phẩm sinh học (chế phẩm có nguồn gốc từ virus, vi khuẩn, nấm); thuốc trừ sâu thảo mộc,. Đặc biệt không sử dụng thuốc hóa học phun cho rau vì nó là cây trồng có chu kỳ sinh trƣởng ngắn [37], [38], [39].
Ở Việt Nam, ngƣời nông dân ở miền xuôi, các quận, huyện gần khu đô thị không áp dụng biện pháp phòng trừ sâu (Brevicoryne brasicae và Myzus 2 persicae) hại rau họ hoa thập tự nhƣ trên, theo họ thuốc hóa học vừa rẻ tiền hơn so với các chế phẩm sinh học và thiên địch, lại vừa có hiệu quả cao và nhanh. Còn đối với nông dân là các dân tộc vùng sâu, vùng xa thuộc các tỉnh miền núi phía Bắc, có điều kiện kinh tế khó khăn, đƣờng xá, giao thông đi lại vất vả, cho nên cuộc sống của họ chủ yếu là tự cung tự cấp. Song, chính cuộc sống đó đã gắn bó họ với tự nhiên, họ có những kinh nghiệm, những hiểu biết rất tốt về môi trƣờng xung quanh, họ biết khai thác và sử dụng thiên nhiên để phục vụ cho sự tồn tại, phát triển ổn định cuộc sống của mình nhƣ: Dùng các loài thực vật (củ ấu tàu, quả bồ kết, lá vông, gừng, lá rận trâu,.) để chữa bệnh cho ngƣời và gia súc; dùng quả thàn mát, bồ hòn, mã tiền, sừng dê, thiên thông,. để phòng trừ các loài sâu, bệnh hại cây trồng.
Với biện pháp đơn giản, dễ làm này, họ hoàn toàn chủ động trong việc bảo vệ cây trồng trƣớc các loài dịch hại; đồng thời an toàn đối với con ngƣời và không gây ô nhiễm môi trƣờng. Xuất phát từ thực tế đó, để khai thác, sử dụng có hiệu quả nguồn tài nguyên thực vật đa dạng, phong phú ở Việt Nam và kiến thức bản địa của đồng bào dân tộc miền núi trong việc phòng trừ dịch hại cây trồng nói chung và sâu hại cải nói riêng, chúng tôi tiến hành nghiên cứu đề tài: “Nghiên cứu ảnh hưởng của một số thuốc trừ sâu thảo mộc đến sinh trưởng, phát triển rau cải bắp vụ Đông Xuân muộn 2016 – 2017 tại huyện Quản Bạ tỉnh Hà Giang“ từ đó phát huy tích cực kiến thức bản địa và có sự kết hợp với những kiến thức khoa học sẽ góp phần quan trọng trong việc khai thác, sử dụng tài nguyên thực vật trong việc quản lý dịch hại cây trồng; đồng thời an toàn với con ngƣời và không gây ô nhiễm môi trƣờng. Mục tiêu và yêu cầu của đề tài 1. Mục tiêu Xác định đƣợc loại thuốc trừ sâu thảo mộc thích hợp nhất trong phòng trừ những loại sâu hại chính cho sản xuất rau cải bắp 1.
Yêu cầu - Đánh giá ảnh hƣởng của thuốc thảo mộc sinh học đến sinh trƣởng và phát triển của rau cải bắp - Đánh giá hiệu quả của thuốc trừ sâu thảo mộc trong phòng trừ sâu hại rau cải bắp vụ Đông Xuân muộn năm 2016 – 2017 3 - Đánh giá ảnh hƣởng của thuốc trừ sâu thảo mộc đến năng suất và các yếu tố cấu thành năng suất của rau cải bắp vụ Đông Xuân muôn năm 2016-2017 1. Ý nghĩa của đề tài 1. Ý nghĩa khoa học - Kết quả nghiên cứu của đề tài đã xác định đƣợc hiệu quả trừ sâu của 03 loại thuốc trừ sâu thảo mộc và của 01 dung dịch ngâm hỗn hợp thực vật, góp phần làm sáng tỏ hơn về mối quan hệ đối kháng giữa những loài thực vật với một số dịch hại cây trồng; - Cung cấp một số dẫn liệu khoa học mới về hiệu lực của một số thuốc trừ sâu thảo mộc và của hỗn hợp dung dịch ngâm thực vật (tỏi, ớt, gừng) trong phòng trừ những loài sâu phổ biến hại rau họ hoa thập tự (sâu xanh bƣớm trắng, sâu khoang, sâu tơ, bọ nhảy, rệp muội). Từ đó, làm cơ sở cho việc nghiên cứu xác định các hoạt chất, cơ chế tác động của các hoạt chất đó lên dịch hại cây trồng.
- Kết quả nghiên cứu đã hoàn thiện đƣợc quy trình sản xuất rau cải bắp vừa đạt đƣợc năng suất, vừa an toàn với ngƣời sử dụng. Kết quả này góp phần thay đổi thói quen của ngƣời nông dân trong việc sử dụng hóa chất BVTV có nguồn gốc hóa học để sản xuất nông nghiệp nói nói chung và rau cải bắp nói riêng; đồng thời góp phần giảm thiểu việc sử dụng và nhập khẩu hóa chất bảo vệ thực vật để phát triển nông nghiệp theo hƣớng an toàn bền vững. - Kết quả nghiên cứu là tài liệu tham khảo phục vụ cho công tác giảng dạy và nghiên cứu trong các lĩnh vực: Trồng trọt, nông nghiệp hữu cơ, cây rau, bảo vệ thực vật, côn trùng, sinh thái nông nghiệp và lĩnh vực hóa học các hợp chất tự nhiên. Ý nghĩa thực tiễn Đã hoàn thiện quy trình sản xuất rau cải bắp bằng việc sử dụng một số loại thuốc trừ sâu thảo mộc và của dung dịch ngâm hỗn hợp thực vật.
Từ đó, ứng dụng kết quả này trong sản xuất rau an toàn tại tỉnh Hà Giang và các vùng lân cận, góp phần giảm thiểu việc sử dụng hóa chất bảo vệ thực vật, cải tạo tạo sinh cảnh và môi trƣờng sống; đồng thời nâng cao ý thức của mọi ngƣời ngƣời (đặc biệt là ngƣời nông dân) về nền nông nghiệp sinh thái bền vững. 4 Phần 2 TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU 2. Cơ sở khoa học của đề tài Rau họ hoa thập tự Brassicae (Cruistacae) là loài cây trồng phổ biến ở nhiều nƣớc trên thế giới, nó không chỉ là nguồn thực phẩm bổ dƣỡng cho con ngƣời mà còn là dƣợc phẩm quý trong y học. Thời kỳ Hypocates đã sử dụng món rau bắp cải luộc với muối để chữa bệnh tiêu chảy.
Cổ sử La Mã và Hy Lạp đã dùng rau cải để chữa bệnh đau đầu, bệnh goute, chữa vết bầm, vết thƣơng, nhiễm trùng da, mụn nƣớc, nƣớc ăn chân, chữa sƣng, bệnh trĩ và tiêu độc. Binh sĩ Roman đã dùng lá bắp cải để chữa trị vết thƣơng bằng cách giã nhỏ lá bắp cải rồi đắp vào vết thƣơng, thay 1-3 lần/ngày. Ngày nay, ở các nƣớc phát triển đã dùng bắp cải để chữa bệnh đau cơ, đau thần kinh tọa, đau dây thần kinh, chữa bệnh viêm khớp bằng cách hơ nóng lá bắp cải rồi chƣờm lên chỗ bị đau; chữa bệnh viêm loét vì trong bắp cải có vitamin U. Ngoài ra, trong rau họ cải rất giàu thành phần beta carotene, canxi, tốt cho xƣơng, răng và chữa bệnh còi xƣơng ở trẻ nhỏ.
Vitamin C và vitamin A trong rau cải có tác dụng giải độc tố ra khỏi cơ thể, ngăn ngừa cảm cúm, tăng cƣờng khả năng trao đổi chất và tăng sức đề kháng, chữa cảm lạnh. Đặc biệt, trong rau cải có các chất có tác dụng giảm nguy cơ đau tim, giảm nguy cơ ung thƣ phổi của ngƣời hút thuốc lá 50- 70% và phòng chống các bệnh ung thƣ khác nhƣ: carotenoid, sulforaphane, isothiocyanates, indole 3 carbinol, glucosinolates indolyl, dihiolthines,…Nhiều tác giả đã khẳng định đƣợc, rau họ hoa thập tự có tác dụng ngăn ngừa 40-70% ung thƣ. Chính vì vậy, diện tích và chủng loại rau họ hoa thập tự ở Việt Nam ngày càng tăng lên mạnh mẽ. Theo FAOSAT (2012), năm 2006, diện tích rau họ hoa thập tự ở Việt Nam là 39.9000 ha; đến năm 2007 đạt 42.435 ha, tăng 6,35% so với năm 2006 và đến năm 2010 diện tích rau họ hoa thập tự đạt 44.800ha, tăng 4,48% so với năm 2009 (đạt 42.881 ha) và cao hơn diện tích trung bình 5 năm (2006 – 2010 đạt 42.
Chính sự gia tăng về diện tích, cùng với việc thâm canh tăng vụ, thay đổi cơ cấu cây trồng và quy hoạch vùng sản xuất rau chuyên canh làm cho tình hình sâu hại diễn biến phức tạp hơn, xuất hiện nhiều đối tƣợng sâu bệnh 5 hại mới. Để phòng trừ dịch hại, ngƣời nông dân ở miền xuôi, các quận huyện gần khu đô thị sử dụng nhiều loại thuốc hóa học có độ độc cao, thời gian cách ly dài. Các thuốc hóa học này không chỉ gây độc đối với ngƣời sử dụng mà còn ảnh hƣởng đến chất lƣợng sản phẩm, để lại dƣ lƣợng thuốc BVTV, làm giảm đa dạng sinh học, phá vỡ cân bằng sinh thái. Còn đối với ngƣời nông dân là các dân tộc vùng sâu, vùng xa thuộc các tỉnh miền núi phía Bắc, có điều kiện kinh tế khó khăn, đƣờng xá giao thông đi lại vất vả, cuộc sống của họ chủ yếu là tự cung, tự cấp thì họ có những kinh nghiệm, những hiểu biết rất tốt về môi trƣờng xung quanh, họ biết khai thác và sử dụng thiên nhiên để phục vụ cho sự tồn tại, phát triển và ổn định cuộc sống của mình nhƣ: Dùng các loài thực vật (củ ấu tàu, quả bồ kết, lá vông, gừng, lá rận trâu,…) để chữa bệnh cho ngƣời và gia súc; dùng hạt thàn mát, quả bồ hòn, mã tiền, sừng dê, thiên thông,… để phòng trừ các loài sâu, bệnh hại cây trồng.