Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu
Khóa luận tốt nghiệp đại học chuyên ngành Trồng trọt của tác giả Giáp Văn Hoàng (Khoa Nông học, Trường Đại học Nông Lâm – Đại học Thái Nguyên, năm 2018) tập trung giải quyết bài toán cân đối dinh dưỡng và hoàn thiện quy trình bón phân cho cây rau ăn lá thông qua việc khảo nghiệm hiệu lực của hai sản phẩm phân hữu cơ khoáng mới NTR1 và NTR2.
Lý do chọn đề tài và bối cảnh thực tiễn
Phân hữu cơ khoáng NTR1 và NTR2 là hai sản phẩm khoa học công nghệ do Trường Đại học Nông Lâm – Đại học Thái Nguyên nghiên cứu, sản xuất từ nguồn nguyên liệu phân lợn nái và phân gà kết hợp với chế phẩm sinh học EMINA. Khác với phần lớn phân hữu cơ khoáng trên thị trường chủ yếu sử dụng than bùn làm nguồn hữu cơ với hàm lượng chỉ đạt khoảng 15%, phân NTR1 và NTR2 đạt hàm lượng hữu cơ cao trên 20% và có giá thành cạnh tranh. Trong đó, phân NTR1 có tỷ lệ lân cao chuyên dùng bón lót, còn phân NTR2 có hàm lượng đạm và kali cao chuyên dùng bón thúc. Năm 2017, Trường Đại học Nông Lâm được Bộ Khoa học và Công nghệ giao nhiệm vụ thương mại hóa công nghệ sản xuất phân hữu cơ khoáng NTR1 và NTR2 cho các tỉnh Trung du miền núi phía Bắc và cả nước. Để thương mại hóa sản phẩm, yêu cầu đặt ra là phải xây dựng được quy trình kỹ thuật bón phân đạt hiệu quả cho từng loại cây trồng, đặc biệt là cây rau.
Tại thị xã Phổ Yên (tỉnh Thái Nguyên), xã Đông Cao là vùng sản xuất rau an toàn tập trung có quy mô lớn nhất tỉnh. Tuy nhiên, tập quán canh tác của nông dân địa phương còn bộc lộ nhiều hạn chế: sản xuất chưa tuân thủ chặt chẽ quy trình VietGAP, lạm dụng phân chuồng tươi và phân khoáng vô cơ đơn lẻ. Nông dân thường bón phân mất cân đối, bón quá nhiều đạm urê và kéo dài thời gian bón thúc sát ngày thu hoạch. Tình trạng này khiến cây mất cân đối dinh dưỡng, dễ nhiễm sâu bệnh hại, làm giảm năng suất và phẩm chất thương phẩm. Nghiêm trọng hơn, việc bón thừa đạm làm dư lượng nitrat ($NO_3^-$) tích lũy trong cây rau cải xanh vượt ngưỡng an toàn thực phẩm, ảnh hưởng tiêu cực đến sức khỏe người tiêu dùng. Trước thời điểm nghiên cứu, chưa có công trình nào đánh giá cụ thể tác động của tổ hợp phân NTR1 và NTR2 trên cây rau cải xanh tại vùng rau này.
Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu
Mục tiêu tổng quát của đề tài là xác định khối lượng tổ hợp phân hữu cơ khoáng NTR1 và NTR2 thích hợp cho cây rau cải xanh đạt hiệu quả kinh tế cao trồng tại xã Đông Cao, thị xã Phổ Yên, tỉnh Thái Nguyên.
Để đạt được mục tiêu trên, đề tài thực hiện 4 nhiệm vụ/yêu cầu cụ thể theo văn bản:
- Đánh giá được khả năng sinh trưởng và phát triển của rau cải xanh ở các mức bón phân khác nhau.
- Đánh giá được mức độ biểu hiện sâu bệnh hại trên cây rau cải xanh.
- Đánh giá các yếu tố cấu thành năng suất và chất lượng của giống cải xanh ở các mức bón phân khác nhau.
- Xác định được liều lượng bón phân hữu cơ khoáng NTR1 và NTR2 hợp lý cho sản xuất rau cải xanh an toàn và hiệu quả.
Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu: Giống cải xanh (Brassica juncea) có nguồn gốc tại Việt Nam, hạt giống đạt độ sạch trên 98%, độ ẩm dưới 10%, tỷ lệ nảy mầm trên 80%. Các loại phân bón khảo nghiệm gồm: phân hữu cơ khoáng NTR1, phân hữu cơ khoáng NTR2, phân đạm Urê Hà Bắc (44–48% N), phân Supe Lân Lâm Thao ($P_2O_5$ hữu hiệu > 16%), phân Kali KCl (50–60% K nguyên chất) và phân chuồng hoai mục.
- Phạm vi không gian: Xóm Trại, xã Đông Cao, thị xã Phổ Yên, tỉnh Thái Nguyên, thực hiện trên chân đất chuyên màu có thành phần cơ giới là đất thịt nhẹ.
- Phạm vi thời gian: Vụ Hè Thu năm 2017, tiến hành từ tháng 7 đến tháng 9 năm 2017.
Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu
Cơ sở khoa học và khung khái niệm
Đề tài dựa trên cơ sở khoa học về vai trò cân đối của dinh dưỡng vô cơ và hữu cơ đối với cây trồng. Phân vô cơ cung cấp dưỡng chất khoáng trực tiếp cho cây sinh trưởng nhanh, nhưng nếu lạm dụng sẽ gây thoái hóa đất, chai cứng bề mặt, giảm độ đệm mùn và tiêu diệt hệ vi sinh vật có ích. Ngược lại, phân hữu cơ cung cấp mùn, cải tạo kết cấu đất, tăng khả năng giữ nước và điều hòa dinh dưỡng. Theo tổng kết của Tổ chức Nông – Lương Quốc tế (FAO), việc bón phân không cân đối có thể làm giảm hiệu suất sử dụng phân bón từ 20% đến 50%.
Đề tài cũng đặt nền tảng trên cơ chế tích lũy nitrat ($NO_3^-$) trong rau ăn lá. Khi bón đạm quá mức hoặc bón sát ngày thu hoạch, lượng nitrat chưa kịp chuyển hóa thành axit amin sẽ tích tụ lại trong mô thực vật, đặc biệt là cuống và phiến lá. Khi người tiêu dùng ăn phải, nitrat chuyển hóa thành nitrit ($NO_2^-$), cạnh tranh liên kết với hemoglobin trong hồng cầu gây cản trở vận chuyển oxy (hội chứng methemoglobin), đồng thời là tiền chất kết hợp với amin tạo thành nitrosamine gây ung thư đường tiêu hóa. Đề tài đối chiếu các ngưỡng giới hạn $NO_3^-$ theo tiêu chuẩn quốc tế của WHO, FAOSTAT, Cộng đồng Kinh tế Châu Âu (EC) và Quyết định số 03/2007/QĐ-BNN của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn về quản lý sản xuất và chứng nhận rau an toàn.
Về mặt công nghệ, phân hữu cơ khoáng NTR1 và NTR2 được sản xuất theo quy trình khép kín: phân lợn nái và phân gà quy mô công nghiệp được xử lý sơ chế, phun chế phẩm sinh học EMINA (nhân sinh khối từ mật rỉ đường), nghiền thô, ủ háo khí (nhiệt độ tăng trên 50°C), sàng hạt nhỏ dưới 5 mm, ủ hoạt hóa (60–65°C), ủ nguội thành cơ chất hữu cơ đạt tiêu chuẩn vi sinh, sau đó phân tích thành phần rồi phối trộn bổ sung khoáng N-P-K. Sản phẩm thành phẩm có độ ẩm 20%, chất hữu cơ $\ge 20%$. Tỷ lệ dinh dưỡng nguyên chất $N : P_2O_5 : K_2O$ của phân NTR1 là $2,5 : 5,5 : 0,5$ (hoặc $2,5 : 5,5 : 1,5$) và của phân NTR2 là $5,5 : 1,5 : 4$.
Phương pháp nghiên cứu thực nghiệm
Thí nghiệm được thiết kế và triển khai tuân thủ các quy chuẩn kỹ thuật quốc gia:
- Quy phạm khảo nghiệm: Áp dụng theo Phụ lục IX, Mục II, Điều 4, Khoản 4.1 của Thông tư số 41/2014/TT-BNNPTNT về diện tích ô khảo nghiệm đối với cây trồng hàng năm.
- Bố trí thí nghiệm: Thiết kế thí nghiệm đồng ruộng 1 nhân tố theo khối ngẫu nhiên hoàn chỉnh (RCBD) với 3 lần nhắc lại. Thí nghiệm gồm 4 công thức, tổng cộng 12 ô thí nghiệm. Diện tích mỗi ô khảo nghiệm là $20\text{ m}^2$, tổng diện tích mặt bằng thí nghiệm là $240\text{ m}^2$.
Bảng tổng hợp liều lượng bón phân theo các công thức thí nghiệm:
| Công thức |
Liều lượng bón cho 1.000 $\text{m}^2$ |
Liều lượng bón cho 1 sào Bắc Bộ (360 $\text{m}^2$) |
Liều lượng bón cho 1 ô thí nghiệm (20 $\text{m}^2$) |
| CT1 (Đối chứng) |
20 kg Urê + 20 kg Supe Lân + 20 kg KCl + 2.000 kg phân chuồng |
7,2 kg Urê + 7,2 kg Supe Lân + 7,2 kg KCl + 720 kg phân chuồng |
0,4 kg Urê + 0,4 kg Supe Lân + 0,4 kg KCl + 40 kg phân chuồng |
| CT2 |
300 kg NTR1 + 100 kg NTR2 |
108 kg NTR1 + 36 kg NTR2 |
6 kg NTR1 + 2 kg NTR2 |
| CT3 |
300 kg NTR1 + 150 kg NTR2 |
108 kg NTR1 + 54 kg NTR2 |
6 kg NTR1 + 3 kg NTR2 |
| CT4 |
300 kg NTR1 + 200 kg NTR2 |
108 kg NTR1 + 72 kg NTR2 |
6 kg NTR1 + 4 kg NTR2 |
- Kỹ thuật canh tác và phương thức bón: Đất được làm tơi xốp, lên luống cao 25–30 cm, rộng 1,2–1,3 m, giữ ẩm đồng ruộng 70–80%. Cải xanh được gieo vãi, sau đó tỉa định cây tạo khoảng cách trung bình $10 \times 10\text{ cm}$, tương ứng mật độ 100 cây/$\text{m}^2$ (1.000.000 cây/ha). Đối với CT1: bón lót toàn bộ phân chuồng, supe lân, 1/3 urê và 1/3 KCl; bón thúc đợt 1 (10–15 ngày sau gieo) 1/3 urê và 1/3 KCl; bón thúc đợt 2 (sau đợt 1 từ 10–12 ngày) lượng urê và KCl còn lại. Đối với CT2, CT3, CT4: bón lót 3/4 tổng lượng phân NTR1 và NTR2; bón thúc toàn bộ 1/4 lượng phân còn lại khi cây vươn lá mạnh (10–15 ngày sau gieo).
- Quy chuẩn và phương pháp điều tra:
- Theo dõi sinh trưởng theo QCVN 01-120:2013/BNNPTNT: định kỳ 10 ngày/lần trên 30 cây cố định/công thức qua 3 lần nhắc lại. Các chỉ tiêu đo gồm: ngày nảy mầm, ngày ra 1–2 lá thật, ngày thu hoạch, chiều cao cây (thước đo từ mặt đất đến mút lá cao nhất), số lá thật/cây, chiều dài và chiều rộng của 3 lá đầu tiên sát gốc.
- Điều tra sâu bệnh hại theo QCVN 01-169:2014/BNNPTNT: định kỳ 7 ngày/lần. Bọ nhảy (Phyllotreta striolata) được điều tra 10 điểm, mỗi điểm 1 khung kích thước $40 \times 50\text{ cm}$, đánh giá tỷ lệ hại (%) và phân cấp hại theo thang 3 cấp (cấp 1: < 1/3 diện tích lá; cấp 2: 1/3–1/2 diện tích lá; cấp 3: > 1/2 diện tích lá). Bệnh thối nhũn vi khuẩn (Erwinia carotovora) điều tra 10 điểm, mỗi điểm 30 cây, phân cấp bệnh theo thang 9 cấp của Bộ Nông nghiệp.
- Chỉ tiêu năng suất: Đo đếm trên 10 cây/công thức/lần nhắc lại để tính số lá thương phẩm, khối lượng trung bình cây (g), năng suất cá thể (g), năng suất lý thuyết và năng suất thực thu của ô quy ra đơn vị tấn/ha.
- Hạch toán kinh tế: Tính tổng chi phí (chi phí chung gồm giống, thuốc BVTV, công lao động, điện + chi phí mua phân bón), tổng thu nhập và lãi ròng.
- Phương pháp xử lý số liệu: Số liệu thực nghiệm được tổng hợp sơ bộ bằng Microsoft Excel và xử lý thống kê sinh học (phân tích phương sai ANOVA, trắc nghiệm so sánh Duncan, kiểm định LSD ở mức ý nghĩa 0,05 và 0,01, xác định hệ số biến động CV%) bằng phần mềm chuyên dụng SAS phiên bản 9.0.
Nội dung chính theo từng chương
PHẦN 1: MỞ ĐẦU
Chương mở đầu tập trung luận giải tính cấp thiết của việc thương mại hóa sản phẩm khoa học công nghệ phân hữu cơ khoáng NTR1 và NTR2 của Trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên. Văn bản phân tích thực trạng mất cân đối dinh dưỡng trong canh tác rau cải xanh tại vùng sản xuất rau an toàn xã Đông Cao (Phổ Yên), chỉ rõ hiện tượng lạm dụng đạm khoáng và phân chuồng tươi gây ô nhiễm môi trường đất, tăng nguy cơ sâu bệnh và làm tích tụ nitrat độc hại trong nông sản. Từ đó, tác giả xác lập mục đích nghiên cứu, 4 yêu cầu chuyên môn cần đạt, cùng ý nghĩa khoa học trong việc hoàn thiện quy trình kỹ thuật bón phân và ý nghĩa thực tiễn đối với kỹ thuật canh tác rau an toàn tại địa phương.
PHẦN 2: TỔNG QUAN TÀI LIỆU
Chương tổng quan tài liệu gồm 6 nội dung lớn:
- Cơ sở lý luận và thực tiễn: Khẳng định vai trò của phân bón đối với năng suất cây trồng, hiện trạng thiếu hụt phân hữu cơ hoai mục tại nông hộ và nguy cơ đất bị chai cứng, suy giảm tính đệm khi sử dụng phân hóa học đơn thuần.
- Tình hình sản xuất rau trên thế giới và Việt Nam: Trích dẫn số liệu FAOSTAT giai đoạn 2010–2016 về biến động diện tích, năng suất, sản lượng rau của các châu lục (châu Á chiếm trên 80% diện tích thế giới; châu Âu có năng suất cao nhất đạt 178,66 tạ/ha năm 2014). Tại Việt Nam, diện tích rau đạt 907,771 nghìn ha năm 2016, tập trung chủ yếu ở Đồng bằng sông Hồng (chiếm 29% sản lượng) và Đồng bằng sông Cửu Long (chiếm 23% sản lượng); giá trị sản xuất rau cao gấp 2–3 lần trồng lúa.
- Tình hình sản xuất và sử dụng phân bón: Nêu số liệu tiêu thụ phân khoáng toàn cầu, thực trạng sử dụng phân bón NPK ở các nước Đông Nam Á năm 2016 (Indonesia đạt 5,5 triệu tấn, Việt Nam là nước sử dụng phân khoáng cao trong khu vực); lịch sử dùng phân hữu cơ, bèo dâu, phân ủ mục từ thời Lê Quý Đôn (1773).
- Tổng quan về phân NTR1 và NTR2: Giới thiệu sơ đồ công nghệ sản xuất phân từ phân lợn nái, phân gà và chế phẩm EMINA; phân tích ưu thế hàm lượng hữu cơ vượt trội (> 20%) so với phân than bùn trên thị trường.
- Vấn đề tồn dư nitrat ($NO_3^-$): Phân tích độc tính của nitrit, ngưỡng giới hạn $NO_3^-$ trong nước uống và rau tươi theo chuẩn WHO, EC và LB Nga; dẫn chứng các nghiên cứu trong nước (Vũ Thị Đào, Trần Khắc Thi, Nguyễn Văn Hiền) cho thấy rau ăn lá ngoại thành Hà Nội thường xuyên vượt ngưỡng giới hạn nitrat từ 1,5 đến 9 lần.
- Đặc điểm sinh học cây cải xanh: Mô tả hình thái học thực vật của Brassica juncea (rễ trụ ăn nông 0–20 cm, thân lá có vị cay do hợp chất glucosinolate, số lượng nhiễm sắc thể $2n$), yêu cầu nhiệt độ tối thích 15–20°C (chịu tối đa 27°C), ẩm độ đất 70–75% và nhu cầu dinh dưỡng cao đối với đạm và lưu huỳnh.
PHẦN 3: ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Chương này quy định chi tiết vật liệu thí nghiệm (giống cải xanh bản địa, nguồn phân Urê Hà Bắc, Supe Lân Lâm Thao, KCl, phân hữu cơ khoáng NTR1 và NTR2); xác định địa điểm (xã Đông Cao) và thời gian thực hiện (tháng 7–9/2017). Tác giả mô tả chi tiết phương pháp bố trí khối ngẫu nhiên hoàn chỉnh RCBD (1 nhân tố, 4 công thức, 3 lần nhắc lại, diện tích $20\text{ m}^2$/ô); thiết kế quy trình bón lót, bón thúc; tiêu chuẩn hóa các phương pháp đo đếm chỉ tiêu sinh trưởng (QCVN 01-120:2013/BNNPTNT), chỉ tiêu sâu bệnh hại (QCVN 01-169:2014/BNNPTNT) và phương pháp phân tích thống kê trên SAS 9.0.
PHẦN 4: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN
Chương kết quả phản ánh toàn bộ dữ liệu thực nghiệm thu được từ vụ Hè Thu 2017:
- Thời gian qua các thời kỳ sinh trưởng: Thời gian nảy mầm đồng đều ở 3 ngày. Giai đoạn nảy mầm đến 1–2 lá thật rút ngắn dần từ CT1 (8 ngày) xuống CT4 (6 ngày). Tổng thời gian gieo đến thu hoạch của các công thức bón NTR1 và NTR2 đạt 29–30 ngày, sớm hơn đối chứng CT1 (31 ngày) từ 1 đến 2 ngày.
- Động thái và tốc độ tăng trưởng chiều cao: Chiều cao cây ở 10 ngày sau gieo chưa có sai khác thống kê ($P > 0,05$), dao động 5,39–5,79 cm. Đến 20 ngày sau gieo, chiều cao phân hóa rõ rệt: CT4 đạt 25,6 cm, vượt trội so với CT1 (19,4 cm) ở mức $P < 0,01$. Ở thời điểm 30 ngày sau gieo, CT4 đạt chiều cao cao nhất là 32,7 cm, tiếp theo là CT3 (30,5 cm), CT2 (29,2 cm) và thấp nhất là CT1 (26,0 cm). Tốc độ tăng trưởng chiều cao diễn ra mạnh nhất trong giai đoạn 10–20 ngày sau gieo.
- Động thái và tốc độ ra lá: Sau 10 ngày, số lá thật biến động từ 2,53 lá (CT1) đến 3,13 lá (CT4). Đến 30 ngày sau gieo, CT4 đạt số lá cao nhất (6,47 lá/cây), sai khác có ý nghĩa thống kê so với CT1 (5,73 lá/cây) ở mức $P < 0,05$. Tốc độ ra lá đạt đỉnh trong 10 ngày đầu sau gieo.
- Kích thước lá: Chiều dài và chiều rộng lá ở cả 3 giai đoạn (10, 20, 30 ngày) đều sai khác rất chắc chắn ở mức tin cậy 99% ($P < 0,01$). Đến thời điểm thu hoạch (30 ngày), CT4 đạt chiều dài lá 24,6 cm (so với 14,2 cm ở CT1) và chiều rộng lá 8,18 cm (so với 5,07 cm ở CT1).
- Tình hình sâu bệnh hại, cấu thành năng suất và hiệu quả kinh tế: Thể hiện qua các bảng theo dõi về mức độ gây hại của bọ nhảy, tỷ lệ bệnh thối nhũn vi khuẩn, các yếu tố cấu thành năng suất (khối lượng trung bình cây, năng suất lý thuyết, năng suất thực thu) và bảng hạch toán hiệu quả kinh tế so sánh giữa các công thức.
PHẦN 5: KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ
Chương kết luận tổng hợp lại các chỉ tiêu sinh trưởng, phát triển, phản ứng sâu bệnh và hiệu quả kinh tế của cây cải xanh dưới tác động của các tổ hợp phân bón NTR1 và NTR2; xác định công thức tối ưu và đưa ra các kiến nghị kỹ thuật để áp dụng vào thực tiễn sản xuất rau an toàn tại Phổ Yên.
Kết quả và đóng góp
Kết quả định lượng từ thực nghiệm
Hệ thống số liệu thực nghiệm được đo đạc và phân tích thống kê toán học chứng minh việc bón tổ hợp phân hữu cơ khoáng NTR1 và NTR2 mang lại tác động rõ rệt tới tốc độ sinh trưởng của rau cải xanh so với công thức đối chứng bón phân truyền thống:
Bảng tổng hợp thời gian sinh trưởng và động thái chiều cao cây rau cải xanh vụ Hè Thu 2017:
| Công thức thí nghiệm |
Nảy mầm – 1,2 lá thật (ngày) |
Trồng – thu hoạch (ngày) |
Chiều cao 10 ngày (cm) |
Chiều cao 20 ngày (cm) |
Chiều cao 30 ngày (cm) |
| CT1 (Đối chứng) |
8 |
31 |
5,39 |
$19,4^d$ |
$26,0^d$ |
| CT2 (300 NTR1 + 100 NTR2) |
7 |
30 |
5,51 |
$21,3^c$ |
$29,2^c$ |
| CT3 (300 NTR1 + 150 NTR2) |
7 |
29 |
5,61 |
$22,6^b$ |
$30,5^b$ |
| CT4 (300 NTR1 + 200 NTR2) |
6 |
29 |
5,79 |
$25,6^a$ |
$32,7^a$ |
| Mức ý nghĩa thống kê (P) |
— |
— |
> 0,05 |
< 0,01 |
< 0,01 |
| LSD 0.05 |
— |
— |
1,03 |
0,03 |
0,03 |
| Hệ số biến động (CV %) |
— |
— |
10,27 |
0,067 |
0,05 |
Bảng tổng hợp động thái ra lá và kích thước lá cây rau cải xanh vụ Hè Thu 2017:
| Công thức |
Số lá 10 ngày (lá) |
Số lá 20 ngày (lá) |
Số lá 30 ngày (lá) |
Dài lá 30 ngày (cm) |
Rộng lá 30 ngày (cm) |
| CT1 (Đối chứng) |
$2,53^d$ |
$4,20^c$ |
$5,73^c$ |
$14,2^d$ |
$5,07^d$ |
| CT2 (300 NTR1 + 100 NTR2) |
$2,67^c$ |
$4,37^{bc}$ |
$5,93^c$ |
$19,5^c$ |
$6,28^c$ |
| CT3 (300 NTR1 + 150 NTR2) |
$2,93^b$ |
$4,53^{ab}$ |
$6,20^b$ |
$21,0^b$ |
$7,14^b$ |
| CT4 (300 NTR1 + 200 NTR2) |
$3,13^a$ |
$4,70^a$ |
$6,47^a$ |
$24,6^a$ |
$8,18^a$ |
| Mức ý nghĩa thống kê (P) |
< 0,05 |
< 0,05 |
< 0,05 |
< 0,01 |
< 0,01 |
Từ các số liệu trên cho thấy:
- Rút ngắn thời gian sinh trưởng: Các công thức bón phân NTR1 và NTR2 thúc đẩy cây phát triển nhanh hơn, rút ngắn thời gian từ gieo đến thu hoạch xuống còn 29–30 ngày, trong đó CT3 và CT4 cho thu hoạch sớm hơn công thức đối chứng 2 ngày.
- Phát triển chiều cao vượt trội: Chiều cao cây tăng tỷ lệ thuận với lượng bón NTR2. Ở 30 ngày sau gieo, CT4 đạt chiều cao 32,7 cm, cao hơn công thức đối chứng 6,7 cm ($P < 0,01$). Tốc độ tăng trưởng chiều cao tập trung mạnh nhất ở giai đoạn 10–20 ngày sau gieo (CT4 tăng 19,8 cm trong 10 ngày).
- Tăng số lá và diện tích quang hợp: Cải xanh ở CT4 có số lá đạt 6,47 lá/cây (vượt đối chứng 0,74 lá/cây, $P < 0,05$). Kích thước lá ở CT4 tăng rất mạnh: chiều dài đạt 24,6 cm (cao hơn đối chứng 10,4 cm); chiều rộng đạt 8,18 cm (cao hơn đối chứng 3,11 cm), tạo diện tích lá lớn để tích lũy sinh khối.
Giải pháp và kiến nghị của tác giả
Từ kết quả thực nghiệm, tác giả kiến nghị áp dụng công thức bón phân số 4 cho sản xuất cải xanh vụ Hè Thu tại vùng rau an toàn Đông Cao – Phổ Yên:
- Định mức bón cho 1.000 $\text{m}^2$: 300 kg NTR1 + 200 kg NTR2 (tương đương 108 kg NTR1 + 72 kg NTR2 cho 1 sào Bắc Bộ $360\text{ m}^2$, hoặc 6 kg NTR1 + 4 kg NTR2 cho ô $20\text{ m}^2$).
- Phương pháp bón: Bón lót 3/4 tổng lượng phân NTR1 và NTR2; bón thúc 1/4 lượng phân còn lại khi cây bắt đầu vươn lá mạnh (khoảng 10–15 ngày sau gieo).
Đóng góp so với nghiên cứu trước
- Đây là công trình thực nghiệm đầu tiên nghiên cứu xây dựng quy trình bón phân hữu cơ khoáng NTR1 và NTR2 chuyên biệt cho cây rau cải xanh tại vùng sản xuất rau an toàn Phổ Yên, tỉnh Thái Nguyên.
- Kết quả nghiên cứu cung cấp dữ liệu thực nghiệm trực tiếp hỗ trợ nhiệm vụ thương mại hóa công nghệ sản xuất phân bón NTR1 và NTR2 do Bộ Khoa học và Công nghệ giao cho Trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên trong năm 2017.
- Đề tài đóng góp giải pháp thay thế nguồn phân chuồng tươi khan hiếm bằng phân hữu cơ khoáng giàu mùn (> 20% hữu cơ), giúp giảm thiểu ô nhiễm từ phụ phẩm chăn nuôi lợn, gà, đồng thời tạo tiền đề kỹ thuật để kiểm soát dư lượng nitrat trong canh tác rau an toàn theo hướng VietGAP.
Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp
Hạn chế của nghiên cứu
- Thí nghiệm mới được triển khai trong phạm vi một vụ Hè Thu (tháng 7 đến tháng 9 năm 2017), là thời điểm thời tiết nắng nóng và mưa nhiều, chưa phản ánh đầy đủ tiềm năng năng suất của giống cải xanh vốn sinh trưởng tối ưu trong điều kiện mát mẻ vụ Đông Xuân (nhiệt độ 15–22°C).
- Thí nghiệm được thực hiện trên một loại đất duy nhất (đất thịt nhẹ xóm Trại, xã Đông Cao) tại một địa bàn hành chính, chưa khảo sát trên các loại đất và tiểu vùng sinh thái khác của tỉnh Thái Nguyên.
- Tác giả tự nhận định độ chính xác của thí nghiệm chịu tác động của lượng phân bón tồn dư từ các vụ canh tác trước của nông hộ trên đất thí nghiệm và áp lực phát sinh của bọ nhảy cũng như vi khuẩn thối nhũn trong mùa mưa ẩm.
Hạn chế và hướng mở nghiên cứu tiếp
- Cần tiếp tục bố trí thí nghiệm lặp lại qua các mùa vụ khác nhau trong năm, đặc biệt là vụ chính Đông Xuân (tháng 10 đến tháng 2 năm sau) để khẳng định tính ổn định của tổ hợp phân bón NTR1 và NTR2.
- Mở rộng quy mô khảo nghiệm trên các chân đất và vùng chuyên canh rau khác nhau tại các tỉnh Trung du miền núi phía Bắc.
- Tiếp tục phân tích chuyên sâu các chỉ tiêu hóa sinh trong sản phẩm rau thương phẩm sau thu hoạch, trọng tâm là phân tích định lượng dư lượng $NO_3^-$ tồn dư trong mô lá để đối chiếu chuẩn mực an toàn thực phẩm VietGAP.
Giá trị tham khảo
Đối tượng sử dụng phù hợp
- Sinh viên, học viên ngành Nông học, Trồng trọt, Khoa học Đất và Bảo vệ thực vật: Tài liệu tham khảo về phương pháp luận thiết kế thí nghiệm đồng ruộng 1 nhân tố theo khối ngẫu nhiên hoàn chỉnh (RCBD), kỹ thuật đo đếm chỉ tiêu hình thái theo QCVN 01-120:2013/BNNPTNT và xử lý thống kê nông học bằng phần mềm SAS.
- Cán bộ khuyến nông và kỹ thuật viên nông nghiệp: Cung cấp định mức và quy trình bón phân hữu cơ khoáng chi tiết trên cây rau cải xanh ngắn ngày, làm căn cứ chuyển giao kỹ thuật cho nông dân.
- Hợp tác xã và nông hộ sản xuất rau an toàn tại Phổ Yên và Thái Nguyên: Cung cấp giải pháp kỹ thuật cụ thể nhằm thay thế thói quen bón phân chuồng tươi và lạm dụng phân đạm vô cơ.
Phần nội dung đáng tham khảo nhất
- Quy trình công nghệ 8 bước sản xuất phân hữu cơ khoáng NTR1 và NTR2 từ phân lợn nái, phân gà và chế phẩm vi sinh EMINA tại Phần 2.
- Phương pháp luận khảo nghiệm hiệu lực phân bón chuẩn hóa tại Phần 3, bao gồm phương pháp tính toán lượng bón quy đổi cho từng đơn vị diện tích (1.000 $\text{m}^2$, 1 sào Bắc Bộ, 1 ô thí nghiệm $20\text{ m}^2$) và quy trình tỉa cây mật độ 100 cây/$\text{m}^2$.
- Dữ liệu so sánh động thái tăng trưởng chiều cao, tốc độ ra lá và kích thước lá giữa phân hữu cơ khoáng và phân hóa học truyền thống tại Phần 4.
Câu hỏi thường gặp
1. Phân hữu cơ khoáng NTR1 và NTR2 được sản xuất từ nguyên liệu gì và có đặc tính dinh dưỡng ra sao?
Phân NTR1 và NTR2 là sản phẩm khoa học công nghệ của Trường Đại học Nông Lâm – Đại học Thái Nguyên, được sản xuất từ nguồn nguyên liệu phân lợn nái và phân gà quy mô công nghiệp xử lý qua chế phẩm sinh học EMINA (thay vì dùng than bùn như các loại phân thông thường). Cả hai loại đều có độ ẩm 20% và hàm lượng hữu cơ cao ($\ge 20%$). Phân NTR1 có tỷ lệ $N : P_2O_5 : K_2O$ là $2,5 : 5,5 : 0,5$ (hoặc $2,5 : 5,5 : 1,5$), giàu lân nên chuyên dùng bón lót. Phân NTR2 có tỷ lệ $N : P_2O_5 : K_2O$ là $5,5 : 1,5 : 4$, giàu đạm và kali nên chuyên dùng bón thúc.
2. Các công thức thí nghiệm trong khóa luận được thiết kế và phân bổ liều lượng phân bón như thế nào?
Thí nghiệm gồm 4 công thức: CT1 là đối chứng theo tập quán (bón 20 kg Urê + 20 kg Supe Lân + 20 kg KCl + 2.000 kg phân chuồng cho 1.000 $\text{m}^2$). Ba công thức khảo nghiệm CT2, CT3, CT4 đều cố định lượng bón lót phân NTR1 là 300 kg/1.000 $\text{m}^2$ (108 kg/sào), nhưng tăng dần lượng bón thúc phân NTR2: CT2 bón 100 kg NTR2; CT3 bón 150 kg NTR2; CT4 bón 200 kg NTR2/1.000 $\text{m}^2$. Kỹ thuật bón ở CT2, CT3, CT4 là bón lót 3/4 tổng lượng phân và bón thúc 1/4 lượng còn lại ở giai đoạn cây vươn lá mạnh.
3. Tại sao việc lạm dụng phân đạm và phân chuồng tươi trong canh tác cải xanh tại Phổ Yên lại là vấn đề nghiêm trọng?
Lạm dụng phân chuồng tươi và bón thừa đạm urê sát ngày thu hoạch khiến cây cải xanh bị mất cân đối dinh dưỡng, dễ nhiễm sâu bệnh hại (bọ nhảy, thối nhũn vi khuẩn), làm đất chai cứng và giảm vi sinh vật có ích. Đặc biệt, việc bón thừa đạm làm dư lượng nitrat ($NO_3^-$) tích tụ trong mô rau vượt ngưỡng cho phép. Khi vào cơ thể người, nitrat chuyển hóa thành nitrit ngăn cản hemoglobin vận chuyển oxy trong máu và có nguy cơ hình thành các khối u ung thư đường tiêu hóa.
4. Tổ hợp phân bón NTR1 và NTR2 ảnh hưởng như thế nào đến thời gian sinh trưởng của cây cải xanh?
Thời gian từ gieo hạt đến nảy mầm ở cả 4 công thức đều là 3 ngày. Giai đoạn từ nảy mầm đến khi có 1–2 lá thật ở CT4 diễn ra nhanh nhất (6 ngày), sớm hơn đối chứng 2 ngày. Tổng thời gian từ khi trồng đến khi thu hoạch của cải xanh ở các công thức bón NTR1 và NTR2 dao động từ 29 đến 30 ngày; trong đó CT3 và CT4 đạt 29 ngày, giúp rút ngắn thời gian thu hoạch 2 ngày so với công thức đối chứng CT1 (31 ngày).
5. Công thức bón phân nào mang lại tốc độ sinh trưởng thân lá tốt nhất trong nghiên cứu?
Công thức 4 (bón 300 kg NTR1 + 200 kg NTR2 trên 1.000 $\text{m}^2$) mang lại hiệu quả sinh trưởng tốt nhất trên mọi chỉ tiêu theo dõi: chiều cao cây ở 30 ngày đạt 32,7 cm (vượt đối chứng 6,7 cm, $P < 0,01$); số lá đạt 6,47 lá/cây (vượt đối chứng 0,74 lá/cây, $P < 0,05$); chiều dài lá đạt 24,6 cm (vượt đối chứng 10,4 cm, $P < 0,01$) và chiều rộng lá đạt 8,18 cm (vượt đối chứng 3,11 cm, $P < 0,01$).
Kết luận
Khóa luận tốt nghiệp của sinh viên Giáp Văn Hoàng đã hoàn thành việc khảo nghiệm đồng ruộng nhằm đánh giá ảnh hưởng của tổ hợp phân hữu cơ khoáng NTR1 và NTR2 đến sinh trưởng của cây rau cải xanh vụ Hè Thu 2017 tại xã Đông Cao, thị xã Phổ Yên, tỉnh Thái Nguyên. Dữ liệu thực nghiệm qua xử lý thống kê khẳng định công thức 4 (bón lót 300 kg NTR1 kết hợp bón thúc 200 kg NTR2 trên 1.000 $\text{m}^2$) là tổ hợp phân bón tối ưu, giúp rút ngắn thời gian sinh trưởng xuống 29 ngày và gia tăng vượt trội về chiều cao cây, số lá và kích thước phiến lá so với đối chứng bón phân hóa học kết hợp phân chuồng. Đề tài cung cấp cơ sở khoa học và dẫn liệu thực tiễn quan trọng, phục vụ trực tiếp cho nhiệm vụ thương mại hóa công nghệ sản xuất phân bón của Trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên và góp phần hoàn thiện quy trình canh tác rau an toàn VietGAP tại địa phương.