CHƯƠNG 1. GIỚI THIỆU NGHIÊN CỨU chu kỳ sinh học trong nông trại, đặc biệt là các chu trình dinh dưỡng, bảo vệ cây trồng 1. Tính cấp thiết của đề tài dựa trên việc phòng ngừa thay cho cứu chữa, đa dạng các vụ mùa và các loại vật nuôi, Sự ra đời và phát triển của phương thức sản xuất nông nghiệp thâm canh đã tạo phù hợp với điều kiện địa phương; thứ ba, giải quyết được nhu cầu của con người, đó ra một khối lượng lương thực thực phẩm rất lớn, đáp ứng nhu cầu ngày càng tăng lên là nhu cầu ăn sạch, ở sạch và môi trường sạch và đẹp, lương thực thực phẩm sạch là của hơn sáu tỷ người trên hành tinh này. Lợi thế năng suất cao của nông nghiệp thâm những sản phẩm đó chứa các chất dinh dưỡng với hàm lượng như trong tự nhiên vốn canh đã và đang đưa phương thức này phát triển lên đến đỉnh cao của nó.
Trong đó, sự có của nó. đóng góp của khoa học công nghệ được ghi nhận như là yếu tố quyết định cho nông Trong những năm gần đây, biến đổi môi trường và khí hậu đối với sản xuất Luận án tiến sĩ Quản trị kinh doanh nghiệp thâm canh tồn tại và phát triển. Thế nhưng, việc sử dụng nhiều loại phân bón nông nghiệp đang trở thành chủ đề được xã hội quan tâm. Người tiêu dùng chuyển dần hóa học và thuốc trừ sâu trong sản xuất nông nghiệp thâm canh (Pimentel và cộng sự, sang sử dụng thực phẩm an toàn, thực phẩm hữu cơ đã dẫn đến sự gia tăng nhu cầu đối 2005; Carvalho, 2006), dẫn đến vô số thách thức như suy giảm sức khỏe con người, với các sản phẩm thực phẩm hữu cơ (Murphy, 2006; Schifferstein và Oude Ophuis, đặc biệt là sinh sản và hệ thống thần kinh trung ương (Von Duszeln, 1991; Singh, 1998).
Sản xuất thực phẩm hữu cơ toàn cầu cũng cho thấy sự tăng trưởng đáng kể, do 2000; Bretveld và cộng sự, 2006). Sự phụ thuộc của nông nghiệp thâm canh về phân đó, thị trường toàn cầu cho các sản phẩm hữu cơ đã tăng trưởng đều đặn không chỉ ở bón hóa học tổng hợp và thuốc trừ sâu đã nổi lên như một yếu tố chính, ảnh hưởng đến châu Âu và Bắc Mỹ mà ở các nước châu Á cũng vậy (Baker, 2004, Gifford và sức khỏe cộng đồng và môi trường (Pimentel và cộng sự, 2005). Hơn nữa, trước đây, Bernard, 2005; Setboonsarng và cộng sự, 2006). Vì vậy nông nghiệp hữu cơ ra đời và các nghiên cứu đã chỉ ra rằng việc sử dụng quá mức các hóa chất đã làm suy giảm sức càng ngày càng phát triển là xu hướng tất yếu của quá trình phát triển của thế giới tự khỏe của đất và các điều kiện môi trường (Taylor và cộng sự, 2003; Arias-Estévez và nhiên và xã hội loài người.
cộng sự, 2008; Fenner và cộng sự, 2013). Việt Nam có lịch sử sản xuất nông nghiệp và phương thức canh tác hữu cơ từ Chính vì vậy, canh tác hữu cơ đã xuất hiện và được coi là hệ thống nông nghiệp lâu đời. Trước năm 1980, nông dân chủ yếu sử dụng các giống cây trồng bản địa, thân thiện với môi trường khi tránh sử dụng hóa chất tổng hợp và phân bón giống cổ truyền với năng suất thấp, nhu cầu sử dụng phân bón thấp, chủ yếu hấp thu từ (Venkataraman và Shanmugasundaram, 1992; Roitner Schobesberger và cộng sự, phân bón hữu cơ, khả năng chống chịu sâu bệnh tốt nên rất ít phải sử dụng thuốc bảo 2008; Mahdi và cộng sự, 2010; Suthar, 2010). Canh tác hữu cơ gắn chặt với hệ thống vệ thực vật đặc biệt là thuốc hoá học.
Sản xuất nông nghiệp hữu cơ Việt Nam đang sản xuất nông nghiệp bền vững về môi trường, kinh tế và xã hội (Padel, 2001). Canh từng bước phát triển, diện tích sản xuất hữu cơ tăng nhanh qua các năm, năm 2015 đạt tác hữu cơ ít tác động bất lợi đến môi trường hơn so với canh tác thông thường, vốn hơn 76 nghìn ha, tăng trên 3,6 lần so với năm 2010, năm 2018 diện tích gieo trồng hữu dựa vào về các yếu tố đầu vào bên ngoài ở một mức độ lớn hơn (Gomiero và cộng sự, cơ đã đạt 3,2 ngàn ha lúa, 2 ngàn ha rau, 2,8 ngàn ha chè, 4,7 ngàn ha cây ăn quả, 2,1 2008). Canh tác hữu cơ còn giúp giảm thiệt hại chung cho môi trường (Pimentel và ngàn ha điều, 135 ngàn ha nuôi trồng thủy sản… tập trung tại 40 tỉnh, thành phố trên cộng sự, 2005; Carvalho, 2006) và cải thiện sức khỏe cộng đồng. Do đó, khi người cả nước, sản phẩm hữu cơ được tiêu thụ trong nước và xuất khẩu đến các thị trường nông dân có ý định chấp nhận sản xuất nông nghiệp hữu cơ, các vấn đề bất lợi cho môi Nhật, Đức, Anh, Mỹ, Hàn Quốc, Nga, Singapore, Pháp, Bỉ, Hà Lan, Italia.
(Tổng cục trường do nông nghiệp thông thường gây ra có cơ hội được giải quyết. Thực tế cho thấy, nông nghiệp hữu cơ ra đời và càng ngày càng phát triển vì: Thành phố Hà Nội với diện tích là hơn 3.300 km2, với dân số khoảng gần 10 thứ nhất, giải quyết được mâu thuẫn giữa sản xuất nông nghiệp thâm canh và vấn đề triệu người. Mặc dù là Thủ đô nhưng có hơn 50% là diện tích là nông nghiệp và môi trường, vì nông nghiệp hữu cơ đã làm tăng việc sử dụng nguồn giống cây con tự khoảng 50% dân số sống ở khu vực nông thôn, gần 40% lao động trong lĩnh vực nông nhiên, làm tăng tính đa dạng của xuất nông nghiệp, làm giảm ô nhiễm đất, nước và sản nghiệp. Toàn thành phố, có 17 huyện, 1 thị xã, 6 quận còn sản xuất nông nghiệp.
phẩm nông nghiệp do không sử dụng phân vô cơ dễ tan, thuốc bảo vệ thực vật cho cây Trong phát triển kinh tế, nông nghiệp Hà Nội tuy chiếm tỷ trọng nhỏ nhưng có vị trí trồng, thức ăn chứa nhiều chất kích thích sinh trưởng trong chăn nuôi.; thứ hai, nông 3 4 quan trọng trong việc cung cấp nông sản đáp ứng nhu cầu đa dạng, phong phú và ngày 1. Mục tiêu và câu hỏi nghiên cứu càng tăng của người dân Thủ đô. Mục tiêu Với mục tiêu xây dựng ngành nông nghiệp Thành phố có cơ cấu hợp lý, chất lượng, hiệu quả, đảm bảo vệ sinh an toàn thực phẩm, phát huy được lợi thế so sánh; Mục tiêu tổng quát: Luận án nghiên cứu các yếu tố ảnh hưởng đến ý định chấp phát triển nông nghiệp sạch, nông nghiệp sinh thái, nông nghiệp hữu cơ Thành phố đã nhận sản xuất nông nghiệp hữu cơ của người nông dân; từ đó đưa ra một số đề xuất, tích cực triển khai và thực hiện đề án tái cơ cấu ngành nông nghiệp theo hướng nâng kiến nghị nhằm thúc đẩy ý định chấp nhận sản xuất nông nghiệp hữu cơ của người cao giá trị gia tăng và phát triển bền vững. Theo số liệu của Sở Nông nghiệp và phát triển nông thôn Hà Nội thì diện Mục tiêu cụ thể Luận án tiến sĩ Quản trị kinh doanh tích sản xuất nông nghiệp hữu có mới chỉ đạt 0,3% diện tích canh tác, mặc dù có - Nghiên cứu xác định các yếu tố ảnh hưởng tới ý định chấp nhận sản xuất nông tăng qua các năm, những tỷ trọng này là rất thấp, một số mô hình sản xuất nông nghiệp hữu cơ của người nông dân nghiệp hữu cơ trên địa bàn đã thành công những chưa được nhân rộng.
Trong khi - Xây dựng mô hình nghiên cứu để tìm hiểu mức độ ảnh hướng của các yếu tố đó, Hà Nội là thị trường lớn tiêu thụ sản phẩm nông nghiêp hữu cơ với dân số nội ảnh hưởng đến ý định chấp nhận sản xuất nông nghiệp hữu cơ của người nông thành hơn 4 triệu người, trong đó có tới gần 40% là tầng lớp trung lưu và hàng trăm dân trên địa bàn Hà Nội. nghìn người nước ngoài đang sinh sống, học tập và làm việc, cùng hàng triệu khách du lịch nước ngoài là thị trường lớn và rất tiềm năng để tiêu thụ các sản phẩm nông - Đề xuất, kiến nghị cho cơ quan quản lý nhà nước, doanh nghiệp, người tiêu nghiệp có chất lượng cao, đặc biệt là sản phẩm nông nghiệp hữu cơ. Mặc dù Hà Nội dùng nhằm thúc đẩy ý định chấp nhận sản xuất nông nghiệp hữu cơ của người là một trong những địa phương quan tâm phát triển nông nghiệp hữu cơ, với diện nông dân trên địa bàn Hà Nội tích canh tác hữu cơ khoảng 80-100 ha tập trung chủ yếu ở các huyện Sóc Sơn, Đan 1. Câu hỏi nghiên cứu Phượng, Thạch Thất.
Tuy nhiên, trên thực tế, số lượng sản phẩm nông nghiệp hữu Để thực hiện mục tiêu nghiên cứu trên, luận án sẽ hướng đến tìm ra câu trả lời cơ tiêu thụ trên thị trường còn rất chế, ít về chủng loại, số lượng và không rõ nguồn cho các câu hỏi nghiên cứu sau: gốc, xuất xứ. Quy mô sản xuất nông nghiệp hữu cơ ở Hà Nội còn đơn lẻ, manh mún, quy mô nhỏ, chưa có vùng sản xuất tập trung, quy mô lớn. Sản xuất nông - Câu hỏi nghiên cứu thứ nhất: có những yếu tố nào ảnh hưởng đến ý định chấp nghiệp hữu cơ cũng đã được phát triển nhưng chưa tương xứng với tiềm năng. nhận sản xuất nông nghiệp hữu cơ của người nông dân? Những yếu tố đó ảnh hưởng như thế nào đến ý định chấp nhận sản xuất nông nghiệp hữu cơ của Có nhiều nguyên nhân làm cho sản xuất nông nghiệp hữu cơ của Hà Nội chưa người nông dân trên địa bàn Hà Nội phát triển được trong thời gian qua, một trong những nguyên nhân là người sản xuất trực tiếp sản xuất (người nông dân) chưa sẵn sàng để chấp nhận, chưa hào hứng để sản - Câu hỏi nghiên cứu thứ hai: những giải pháp và kiến nghị nào cần thực hiện để xuất nông nghiệp hữu cơ do lo ngại nhiều vấn đề từ sản xuất đến tiêu thụ sản phẩm thúc đẩy ý định chấp nhận sản xuất nông nghiệp hữu cơ của người nông dân? nông nghiệp hữu cơ: quy trình, thời gian, sản xuất, tiêu thụ, giá cả… Chính vì vậy, tác 1.
Đối tượng, phạm vi và phương pháp nghiên cứu giả quyết định lựa chọn vấn đề “Các yếu tố ảnh hưởng tới ý định chấp nhận sản xuất 1. Đối tượng nghiên cứu nông nghiệp hữu cơ của người nông dân – nghiên cứu trên địa bàn Hà Nội” làm đề tài luận án tiến sĩ chuyên ngành Marketing. Đối tượng nghiên cứu của luận án là ý định chấp nhận sản xuất nông nghiệp hữu cơ của người nông dân. Người nông dân ở đây là người đại diện hộ nông dân đang trực tiếp sản xuất nông nghiệp.