Luận án tiến sĩ nghiên cứu các nhân tố ảnh hưởng đến ý định tham gia bảo hiểm cây lúa của hộ nông dân khu vực đồng bằng sông hồng

Luận án tiến sĩ nghiên cứu nghiên cứu các nhân tố ảnh hưởng đến ý định tham gia bảo hiểm cây lúa của hộ nông dân khu vực đồng, phát triển phương pháp mới, đánh giá hiệu quả ứng

Chuyên ngành

Kinh Tế Bảo Hiểm

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

luận án tiến sĩ

2020

215
1
0

Phí lưu trữ

55 Point

Tóm tắt

I. Tổng quan về bảo hiểm cây lúa

Bảo hiểm cây lúa là một công cụ quan trọng trong việc quản lý rủi ro cho nông dân, đặc biệt là trong khu vực Đồng Bằng Sông Hồng. Nghiên cứu chỉ ra rằng bảo hiểm nông nghiệp không chỉ giúp nông dân giảm thiểu thiệt hại do thiên tai mà còn tạo điều kiện cho họ yên tâm sản xuất. Theo thống kê, sản xuất lúa ở khu vực này chiếm một tỷ lệ lớn trong tổng sản lượng lúa của cả nước. Tuy nhiên, tỷ lệ tham gia bảo hiểm cây lúa vẫn còn thấp, điều này đặt ra câu hỏi về các nhân tố ảnh hưởng đến ý định tham gia bảo hiểm của nông dân. Các yếu tố như thái độ, chuẩn chủ quan, và nhận thức kiểm soát hành vi cần được xem xét kỹ lưỡng để hiểu rõ hơn về động lực tham gia bảo hiểm của nông dân.

1.1. Khái niệm và vai trò của bảo hiểm cây lúa

Bảo hiểm cây lúa được định nghĩa là một hình thức bảo vệ tài chính cho nông dân trước những rủi ro không lường trước được trong sản xuất nông nghiệp. Vai trò của bảo hiểm cây lúa không chỉ dừng lại ở việc bồi thường thiệt hại mà còn góp phần ổn định thu nhập cho nông dân. Nghiên cứu cho thấy rằng chính sách bảo hiểm cần được cải thiện để tăng cường động lực tham gia bảo hiểm cho nông dân. Việc nâng cao nhận thức về lợi ích của bảo hiểm cũng như cải thiện thủ tục tham gia sẽ giúp tăng cường tỷ lệ tham gia bảo hiểm trong cộng đồng nông dân.

II. Các nhân tố ảnh hưởng đến ý định tham gia bảo hiểm

Nghiên cứu đã chỉ ra rằng có nhiều nhân tố ảnh hưởng đến ý định tham gia bảo hiểm của nông dân, bao gồm thái độ đối với bảo hiểm, chuẩn chủ quan, và nhận thức kiểm soát hành vi. Thái độ tích cực đối với bảo hiểm thường dẫn đến quyết định tham gia cao hơn. Ngoài ra, chính sách hỗ trợ phí từ Chính phủ cũng đóng vai trò quan trọng trong việc khuyến khích nông dân tham gia. Các nghiên cứu trước đây đã chỉ ra rằng rủi ro trong nông nghiệp là một yếu tố chính khiến nông dân tìm kiếm các giải pháp bảo vệ tài chính, và bảo hiểm cây lúa là một trong những giải pháp hiệu quả nhất.

2.1. Thái độ và chuẩn chủ quan

Thái độ của nông dân đối với bảo hiểm cây lúa có thể bị ảnh hưởng bởi nhiều yếu tố, bao gồm kinh nghiệm cá nhân và thông tin từ cộng đồng. Chuẩn chủ quan cũng đóng vai trò quan trọng, khi nông dân cảm thấy áp lực từ bạn bè và gia đình trong việc tham gia bảo hiểm. Nghiên cứu cho thấy rằng việc tăng cường truyền thông về lợi ích của bảo hiểm có thể cải thiện thái độ và chuẩn chủ quan của nông dân, từ đó thúc đẩy họ tham gia bảo hiểm cây lúa.

III. Thực trạng tham gia bảo hiểm cây lúa

Thực trạng tham gia bảo hiểm cây lúa ở khu vực Đồng Bằng Sông Hồng cho thấy tỷ lệ tham gia vẫn còn thấp. Mặc dù có nhiều chính sách hỗ trợ từ Chính phủ, nhưng nông dân vẫn chưa mặn mà với bảo hiểm. Các yếu tố như thái độ tiêu cực, thiếu thông tin, và thủ tục tham gia phức tạp đã cản trở sự tham gia của nông dân. Nghiên cứu cũng chỉ ra rằng việc cải thiện thủ tục tham gia và tăng cường truyền thông có thể giúp nâng cao tỷ lệ tham gia bảo hiểm trong cộng đồng nông dân.

3.1. Những hạn chế trong việc tham gia bảo hiểm

Một trong những hạn chế lớn nhất trong việc tham gia bảo hiểm cây lúa là sự thiếu hiểu biết của nông dân về lợi ích của bảo hiểm. Nhiều nông dân vẫn còn nghi ngờ về khả năng bồi thường của các công ty bảo hiểm. Hơn nữa, rủi ro trong nông nghiệp ngày càng gia tăng do biến đổi khí hậu, khiến nông dân cảm thấy bất an hơn. Để khắc phục tình trạng này, cần có các giải pháp cụ thể nhằm nâng cao nhận thức và cải thiện chính sách bảo hiểm.

IV. Giải pháp thúc đẩy tham gia bảo hiểm cây lúa

Để thúc đẩy ý định tham gia bảo hiểm cây lúa của nông dân, cần có một loạt các giải pháp đồng bộ. Đầu tiên, cần tăng cường truyền thông về lợi ích của bảo hiểm cây lúa, giúp nông dân hiểu rõ hơn về các rủi ro mà họ đang đối mặt. Thứ hai, cải thiện thủ tục tham gia bảo hiểm để giảm bớt khó khăn cho nông dân. Cuối cùng, cần có các chính sách hỗ trợ phí bảo hiểm từ Chính phủ để khuyến khích nông dân tham gia. Những giải pháp này không chỉ giúp tăng cường tỷ lệ tham gia bảo hiểm mà còn góp phần ổn định sản xuất nông nghiệp trong khu vực.

4.1. Đề xuất chính sách hỗ trợ

Chính phủ cần xem xét việc tăng cường các chính sách hỗ trợ phí bảo hiểm cho nông dân, đặc biệt là trong các giai đoạn khó khăn. Việc này không chỉ giúp nông dân giảm bớt gánh nặng tài chính mà còn tạo động lực cho họ tham gia bảo hiểm. Ngoài ra, cần có các chương trình đào tạo và hội thảo để nâng cao nhận thức của nông dân về bảo hiểm cây lúa, từ đó thúc đẩy ý định tham gia bảo hiểm.

25/01/2025

Trích đoạn nội dung tài liệu

CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU VÀ CƠ SỞ LÝ THUYẾT 1. Tổng quan nghiên cứu Trên thế giới, bảo hiểm nông nghiệp nói chung và bảo hiểm cây trồng trong đó có bảo hiểm cây lúa được triển khai từ khá sớm và vì vậy, đã có một số công trình nghiên cứu, cụ thể như sau: 1. Các công trình nghiên cứu về bảo hiểm nông nghiệp như một công cụ quản lý rủi ro hiệu quả trong sản xuất nông nghiệp a. Trên thế giới Trên thế giới, có nhiều cá nhân và tổ chức đã nghiên cứu các rủi ro trong sản xuất nông nghiệp cũng như bảo hiểm nông nghiệp.

Đặc biệt, khu vực Châu Á và Thái Bình Dương là một trong những nơi có nguy cơ thiên tai cao nhất trong khu vực và trên thế giới, bao gồm: bão, lũ lụt, sạt lở đất, hạn hán, động đất, phun trào núi lửa và sóng thần (Rosa S. Olivier Mahul (2005) khi nghiên cứu về bảo hiểm cây trồng ở các nước đang phát triển đã chỉ ra các rủi ro mà sản xuất nông nghiệp có thể gặp phải, và khẳng định rõ vai trò của bảo hiểm “là nhằm bù đắp các tổn thất do thời tiết bất lợi và các sự kiện tương tự ngoài sự kiểm soát của người trồng”. Trong nghiên cứu này đã chỉ ra Bảo hiểm không có vai trò trực tiếp làm tăng thu nhập cho người nông dân, tuy nhiên nó lại là biện pháp quản trị rủi ro có vai trò tích cực trong việc ổn định tài chính và quyết định đầu tư vào sản xuất nông nghiệp hàng hóa của người nông dân ở các nước đang phát triển. Olivier Mahul và Charles J.

Stutley (2010), Olivier Mahul (2012) khẳng định bảo hiểm nông nghiệp là “công cụ hiệu quả của Chính phủ” nhằm mục đích quản lý rủi ro trong nông nghiệp, có vai trò tích cực đối với tăng trưởng kinh tế và xóa đói giảm nghèo. Trong các ấn phẩm của Ủy ban Châu Âu (2001) và Tổ chức OECD (2011) đều coi bảo hiểm nông nghiệp là một công cụ quản trị rủi ro, giảm thiểu thiệt hại rất hiệu quả, đồng thời, các tài liệu này cũng đã giới thiệu những nội dung cơ bản về bảo hiểm nông nghiệp như một công cụ phòng chống các rủi ro: hạn hán, lũ lụt, bão, giông lốc. Myong Goo KANG (2007) khẳng định “Triển khai chương trình bảo hiểm nông nghiệp là sự cần thiết cho người nông dân” đồng thời đánh giá những hạn chế của bảo hiểm truyền thống không thõa mãn được 2 yêu cầu cơ bản đó là Các rủi ro xảy ra độc lập, khách quan giữa các hộ nông dân và Công ty bảo hiểm cũng như người luan an 7 được bảo hiểm có thông tin gần như đối xứng về sự phân bố xác suất của rủi ro tiềm ẩn. Sự không thõa mãn này là do rủi ro trong nông nghiệp do thiên tai, sâu bệnh hoặc dịch bệnh ảnh hưởng đến trang trại trên diện rộng là có hệ thống và không độc lập.

Những rủi ro chung này được gọi là rủi ro tương quan. Mặt khác, Sự bất đối xứng trong thông tin do hộ nông dân luôn biết về năng suất cây trồng tiềm năng của họ một cách rõ ràng hơn bất kỳ công ty bảo hiểm nào. Bất đối xứng thông tin dẫn đến 2 nguy cơ: lựa chọn bất lợi và rủi ro đạo đức. Điều này thể hiện những thách thức lớn đối với việc thiết kế và thực hiện các hệ thống bảo hiểm nông nghiệp.

Loại hình bảo hiểm chỉ số có thể đóng vai trò quan trọng trong việc quản lý rủi ro khí hậu và tự nhiên ở các cấp độ tổng hợp khác nhau, để người nông dân có thể sản xuất và có thu nhập ổn định (FAO, 2011). Vì thế, việc triển khai bảo hiểm nông nghiệp theo phương thức mới là cần thiết, như: bảo hiểm thu nhập cho người nông dân, bảo hiểm toàn bộ trang trại, bảo hiểm giá vật nuôi, bảo hiểm theo chỉ số, bảo hiểm cho cả khu vực… Đây là các gợi ý quan trọng trong việc lựa chọn phương thức bảo hiểm phù hợp. Tuy nhiên, một trong những hạn chế sự tham gia bảo hiểm nông nghiệp của hộ nông dân khu vực châu Á và Thái Bình Dương đó là đa số hộ nông dân đang trông chờ vào các khoản hỗ trợ, cứu trợ khẩn cấp và các chương trình ứng phó sau thảm hoạ dưới dạng tiền mặt, gia cầm thay thế và gia súc nhỏ, hạt giống và phân bón miễn phí để khôi phục lại sản xuất. Vì thế, làm cho nhu cầu bảo hiểm nông nghiệp bị thu hẹp lại, dẫn đến “không một quốc gia nào ở Thái Bình Dương có thị trường bảo hiểm nông nghiệp chính thức” (Rosa S.

Mặt khác, việc kết hợp bảo hiểm cây trồng với nguồn cung cấp tín dụng và cung cấp đầu vào đã cho thấy một tình huống có lợi cho nông dân do các tổ chức tín dụng và do các công ty bảo hiểm. Người nông dân tiếp cận với tín dụng mùa màng, các tổ chức cho vay sẵn sàng hơn khi cho các hộ nông dân vay vốn nhỏ vì khoản vay của họ được bảo hiểm bằng bảo hiểm mùa màng (Olivier Mahul, 2012) và lợi ích của người bảo hiểm từ: (a) giảm thiểu chống bán phá giá, kiểm tra; (b) giảm chi phí tiếp thị bảo hiểm cây trồng; và (c) việc thu nhận và lây lan rủi ro bảo hiểm tốt hơn nhiều so với thông thường dẫn đến tình trạng tham gia bảo hiểm là chưa thực sự tự nguyện. Như vậy, có khá nhiều công trình nghiên cứu về BHNN, các công trình này đều khẳng định người nông dân có thể phải đối mặt với nhiều rủi ro trong sản xuất nông nghiệp. Trong các biện pháp quản trị rủi ro cho người nông dân, bảo hiểm nông nghiệp là luan an 8 biện pháp mang tính chủ động và hiệu quả nhất (Laura Girdžiūtė, Astrida Slavickienė 2012).

Ở Việt Nam Ở Việt Nam, một số tác giả cũng đã nghiên cứu về rủi ro trong nông nghiệp và bảo hiểm nông nghiệp. Luyện Minh Đức (2012), phân tích chỉ ra bảo hiểm nông nghiệp là lá chắn hiệu quả cho hộ nông dân trước các rủi ro trong quá trình sản xuất nông nghiệp. GlobalAgRisk Inc (2006 và 2009) đã trực tiếp tìm hiểu và nghiên cứu BHNN ở Việt Nam, tuy nhiên, nghiên cứu này chủ yếu tập trung về lĩnh vực BHNN nói chung. Đặc biệt, nghiên cứu được thực hiện trong giai đoạn 1982 - 1983, chỉ ra các nhân tố: lịch sử tổn thất trong mùa trước, sự tiếp cận thông tin về bảo hiểm, quy mô sản suất tác động đến sự tham gia bảo hiểm nông nghiệp.

Skees, Jason Hartell và Anne Goes (2007) khi nghiên cứu tài chính vi mô cho người nghèo ở Peru và Việt Nam có đưa ra nhân tố khả năng tiếp cận tài chính, áp dụng phương pháp chỉ số. GlobalAgRisk (2009) cho rằng sự hỗ trợ của Chính phủ trong thu thập số liệu, tính toán chỉ số những nhân tố nào ảnh hưởng đến sự tham gia Bảo hiểm nông nghiệp. Phạm Thị Định (2010) và Nguyễn Đình Chính (2011) chỉ ra các nhân tố tình hình kinh tế chung, sự phát triển hoạt động tái bảo hiểm, Tiềm lực và chiến lược kinh doanh của DNBH, nhận thức và điều kiện tài chính của người nông dân cũng như nhân tố khung pháp lý và chính sách bảo hiểm nông nghiệp (Viện Chính sách và Chiến lược PTNNNT - Bộ NN & PTNT năm 2009) có ảnh hưởng đến sự tham gia bảo hiểm nông nghiệp. Hệ thống chính sách chưa hoàn thiện, sản phẩm bảo hiểm chưa cụ thể cho mỗi nhóm đối tượng tác động ngược chiều đến sự phát triển bảo hiểm nông nghiệp (Phạm Bảo Dương, 2011).

Sự hỗ trợ phí bảo hiểm từ Chính phủ, quy mô sản xuất, thông tin tuyên truyền là các nhân tố tác động tích cực đến sự tham gia của bảo hiểm nông nghiệp, còn chính sách cứu trợ hộ nông dân khi thiên tai dịch bệnh xẩy ra có tác động ngược lại (Nguyễn Bá Huân, 2014) Hoàng Triệu Huy, Phan Đình Khôi (2015) Triệu Đức Hạnh và Nguyễn Thị Mão (năm 2012) chỉ ra các nhân tố quy mô sản xuất, thu nhập của hộ gia đình, hình thức phổ biến tuyên truyền chính sách bảo hiểm nông nghiệp, và sự hỗ trợ của Chính phủ trong phí bảo hiểm là các nhân tố tác động thuận chiều đến khả năng tham gia của hộ gia đình. Bên cạnh đó, nhân tố nhận thức của người dân, học vấn của chủ hộ, thói quen luan an 9 sản xuất (Nguyễn Thị Chính, Phan Anh Tuấn, 2013) ảnh hưởng đến nhu cầu của hộ nông dân tham gia bảo hiểm nông nghiệp Đối với phương thức bảo hiểm, Nguyễn Tuấn Sơn (2008), Phạm Thị Định (2010) chỉ ra các nguyên nhân dẫn đến BHNN bị thua lỗ, đó là chi phí quản lý cao, thường xẩy ra lựa chọn đối nghịch và trục lợi bảo hiểm. Các phương pháp tiếp cận truyền thống sẽ không thể đảm bảo được những yếu tố này, vì thế cần thiết áp dụng phương pháp mới đó là vận dụng chỉ số trong bảo hiểm nông nghiệp. Tác giả so sánh hai phương pháp truyền thống và chỉ số để làm nổi bật những ưu điểm của phương pháp chỉ số, từ đó, tác đề xuất cần phải triển khai bảo hiểm theo chỉ số ở Việt Nam.

Theo bài báo, để có thể triển khai bảo hiểm nông nghiệp thành công cần thõa mãn một số điều kiện: Số liệu thống kê đáng tin cậy, Chi phí quản lý không quá cao, rủi ro đạo đức được hạn chế, phí bảo hiểm thấp và dân trí cần được nâng cao. Tại Việt Nam, mặc dù bảo hiểm nông nghiệp liên quan đến vấn đề sản xuất nông nghiệp - ngành kinh tế quan trọng ở nước ta, nhưng trong những năm qua số lượng các công trình nghiên cứu về bảo hiểm nông nghiệp không nhiều. Theo NCS được biết, cho đến nay, ở Việt Nam, các nội dung liên quan đến bảo hiểm nông nghiệp chủ yếu được đề cập trong các giáo trình giảng dạy cho sinh viên chuyên ngành bảo hiểm ở một số trường đại học như: Đại học Kinh tế Quốc dân, Học viện Tài chính, Đại học Kinh tế thành phố Hồ Chí Minh. Còn lại, đa số, bảo hiểm nông nghiệp Việt Nam chỉ mới được nghiên cứu ở một số bài báo, bài viết ngắn đề cập những nội dung chính sau: + Một số vấn đề lý luận cơ bản về bảo hiểm nông nghiệp như: Sự cần thiết của bảo hiểm nông nghiệp, đối tượng và phạm vi bảo hiểm, phí bảo hiểm.

của phương pháp bảo hiểm truyền thống. + Giới thiệu về bảo hiểm theo chỉ số như một phương thức bảo hiểm mới có thể thay thế cho bảo hiểm truyền thống trong một số trường hợp. + Đánh giá những khó khăn trong việc triển khai bảo hiểm nông nghiệp ở Việt Nam trong thời gian qua.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Bài luận án tiến sĩ mang tiêu đề "Nghiên cứu các nhân tố ảnh hưởng đến ý định tham gia bảo hiểm cây lúa của hộ nông dân khu vực Đồng Bằng Sông Hồng" của tác giả Phan Anh Tuấn, dưới sự hướng dẫn của PGS. Nguyễn Văn Định, đã phân tích các yếu tố tác động đến quyết định tham gia bảo hiểm cây lúa của nông dân tại khu vực Đồng Bằng Sông Hồng. Nghiên cứu này không chỉ cung cấp cái nhìn sâu sắc về tâm lý và hành vi của nông dân mà còn đưa ra những khuyến nghị thiết thực nhằm nâng cao tỷ lệ tham gia bảo hiểm, từ đó góp phần bảo vệ tài sản và thu nhập của họ trong bối cảnh biến đổi khí hậu và rủi ro thiên nhiên ngày càng gia tăng.

Để mở rộng thêm kiến thức về lĩnh vực bảo hiểm, bạn có thể tham khảo các bài viết liên quan như "Luận án tiến sĩ: Ứng dụng thống kê Bayes phân tích bảo hiểm cây cà phê tại Đắk Lắk", nơi nghiên cứu về bảo hiểm cây trồng khác, hoặc "Nghiên cứu các nhân tố ảnh hưởng đến ý định mua bảo hiểm nhân thọ Daiichi Life", giúp bạn hiểu rõ hơn về các yếu tố ảnh hưởng đến quyết định tham gia bảo hiểm trong lĩnh vực nhân thọ. Cuối cùng, bài viết "Luận văn thạc sĩ về bảo hiểm bắt buộc trong kinh doanh bảo hiểm ở Việt Nam" cũng sẽ cung cấp cái nhìn tổng quan về các loại hình bảo hiểm bắt buộc, từ đó giúp bạn có cái nhìn toàn diện hơn về ngành bảo hiểm tại Việt Nam.