Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1. Tình hình chăn nuôi trâu trên thế giới và Việt Nam 1. Tình hình chăn nuôi trâu trên thế giới Theo số liệu thống kê của FAO năm 2014 [8], tình hình phát triển của đàn trâu trên thế giới và sự so sánh, đánh giá giữa các châu lục trong một số năm gần đây như sau: Bảng 1.1: Số lượng đàn trâu trên thế giới Vật TT Khu vực nuôi Năm 2008 Năm 2009 Năm 2010 Năm 2011 Năm 2012 Năm 2013 (con) 1 Toàn thế giới Trâu 187.549 2 Châu Phi Trâu 4.111 4 Châu Âu Trâu 332.383 (Nguồn: FAOSTAT, 2014) [8] Qua số liệu bảng trên ta thấy, khu vực nuôi nhiều trâu nhất là Châu Á với tổng số 193. Khu vực nuôi trâu ít nhất là Châu Âu, trong năm 2013 chỉ có 425.
Số liệu trên cũng cho thấy, tổng đàn trâu trên thế giới từ năm 2008 đến năm 2013 đã tăng 6,47%. Trong các nước Châu Á thì nước nuôi nhiều trâu nhất là Ấn Độ.000 con (chiếm 59,53% đàn trâu của khu vực và 57,77% đàn trâu trên thế giới), tiếp theo là Pakistan (33.000 con), Trung Quốc (23.900 con), Việt Nam (2. Tình hình chăn nuôi trâu trong nước Con trâu đã được thuần hóa và gắn bó với người nông dân ta từ rất lâu đời. Nó đã có những đóng góp không nhỏ trong sự phát triển của nền văn minh lúa nước ở Việt Nam.
Ngày nay nước ta được đánh giá là nước có nhiều trâu của thế giới, với tổng đàn trâu đứng thứ tám thế giới. Tuy nhiên trong những năm gần đây với sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa trong nông nghiệp đàn trâu của nước ta đã có nhiều biến đổi.2: Số lượng đàn trâu của Việt Nam trong những năm gần đây Tỷ lệ tăng (năm sau so Năm Vật nuôi Tổng số (con) với năm trước %) 2008 Trâu 2.500 97,4 (Nguồn: FAOSTAT, 2014) [8] Số liệu ở bảng 1.2 cho thấy, từ năm 2008 đến năm 2013, số lượng đàn trâu của Việt Nam liên tục giảm. Năm 2009 giảm 3,3% so với năm 2008; năm 2010 giảm 0,4% so với năm 2009; năm 2011 giảm 5,8% so với năm 2010; năm 2012 giảm 3,2% so với năm 2011; năm 2013 giảm 2,6% so với năm 2012. Tính chung cho cả giai đoạn từ 2008 đến 2013 tốc độ giảm đàn là 11,67%.
Tình hình chăn nuôi trâu của tỉnh Thái Nguyên Thái Nguyên là một tỉnh trung du, miền núi có tổng diện tích tự nhiên là 3.536,40 km2, tổng dân số 1.991 người, mật độ 327 người/km2, với 70,22% dân n 5 số sống bằng nghề nông nghiệp; có 9 huyện, thành, thị với 180 xã, phường, thị trấn, 2.370 thôn, bản, khoảng 323. Tỉnh có điều kiện tự nhiên và kinh tế rất phù hợp với việc phát triển chăn nuôi nói chung cũng như phát triển và cải tạo đàn trâu nói riêng. Diện tích đất nông nghiệp 294. Trong đó đất sản xuất nông nghiệp 108.074,68 ha chiếm 30,59%, đất lâm nghiệp có rừng 181.436,52 ha chiếm 51,35%, đất cỏ dùng vào chăn nuôi 168,65 ha và đất nông nghiệp khác tập trung chủ yếu ở các huyện miền núi, vùng cao là bãi chăn thả phù hợp cho phát triển đại gia súc, bên cạnh đó có rất nhiều diện tích đất có thể kết hợp trồng cỏ dưới tán rừng hoặc trồng xen với các bãi chăn thả trâu, bò.
Hơn thế nữa Thái Nguyên còn là một Trung tâm Khoa học kỹ thuật của các tỉnh miền núi phía Bắc với rất nhiều trường đại học như: Đại học Nông Lâm, Đại học Công nghiệp, Đại học Y dược, Đại học Sư phạm, Đại học Kinh tế và Quản trị kinh doanh, Đại học Khoa học.đặc biệt còn có Trung tâm Nghiên cứu và Phát triển Chăn nuôi Miền núi cũng đặt tại đây. Chăn nuôi đại gia súc nói chung và chăn nuôi trâu nói riêng đã trở thành nghề khá phổ biến của người dân Thái Nguyên. Tuy nhiên, từ trước đến nay bà con nông dân chủ yếu chăn nuôi trâu với mục đích để lấy sức kéo và cung cấp phân bón cho sản xuất nông nghiệp. Phương thức chăn nuôi trâu chủ yếu là chăn thả tự nhiên.
Do chăn thả tự do, môi trường chăn nuôi không đảm bảo, không có sự cách ly giữa các đàn gia súc nên dễ lây lan dịch bệnh, đặc biệt là diện tích đồi bãi chăn thả ngày càng thu hẹp gây ảnh hưởng lớn đến việc chăn nuôi trâu. Nhu cầu dùng sức kéo của trâu trong sản xuất nông nghiệp giảm mà giá trâu hơi lại thấp; chưa có quy hoạch cụ thể cho việc trồng cỏ nên trâu thường thiếu thức ăn vào vụ Đông Xuân, bên cạnh đó người chăn nuôi còn thiếu hiểu biết về kỹ thuật trồng cỏ cũng như các kỹ thuật chế biến các phế phụ phẩm nông nghiệp làm thức ăn cho gia súc nhai lại nên số lượng đàn trâu hiện nay có xu thế giảm. Một số dịch bệnh truyền nhiễm như bệnh Lở mồm long móng, Tụ huyết trùng trâu bò. chưa được kiểm soát chặt chẽ nên đã ảnh hưởng lớn đến chăn nuôi trâu trên cả nước nói chung và của tỉnh miền núi nói riêng.3: Số lượng và sản lượng trâu của tỉnh Thái Nguyên trong những năm gần đây Năm 2008 Năm 2009 Năm 2010 Năm 2011 Năm 2012 Năm 2013 Sản Sản Sản Sản Sản Sản TT Tên huyện Số lượng Số lượng Số lượng Số lượng Số lượng Số lượng lượng lượng lượng lượng lượng lượng trâu trâu trâu trâu trâu trâu (con) thịt thịt thịt thịt thịt thịt (con) (con) (con) (con) (con) (tấn) (tấn) (tấn) (tấn) (tấn) (tấn) 1 TP Thái Nguyên 7.056 203 2 TX Sông Công 5.209 (Nguồn: Báo cáo sản xuất chăn nuôi - Sở Nông nghiệp và PTNT tỉnh Thái Nguyên, 2013) [22] n 7 Số liệu ở bảng 1.3 cho thấy, tổng đàn trâu của tỉnh Thái Nguyên giảm dần qua các năm.880 con và đến năm 2013 giảm còn 69.
Như vậy trong chưa đầy 10 năm tổng đàn trâu của tỉnh Thái Nguyên đã sụt giảm gần 40 nghìn con. Điều này không hề bất ngờ với số liệu thống kê trên vì thực tế đó là quy luật tất yếu của kinh tế thị trường. Chính quy luật kinh tế thị trường đó đã điều chỉnh quy mô tổng đàn theo chiều hướng sụt giảm một cách mạnh mẽ. Một số điều kiện khách quan khác cũng có tác động như quá trình đô thị hóa đã thu hẹp diện tích các đồng cỏ, các bãi chăn thả tự nhiên; diễn biến dịch bệnh cũng như thời tiết phức tạp làm ảnh hưởng đến việc chăn nuôi trâu của bà con.
Việc nuôi trâu để làm sức kéo đã không còn được đề cao do cơ khí hóa nông nghiệp diễn ra nhanh chóng. Hiện nay, trâu chủ yếu được chăn nuôi để lấy thịt. Trong khi đó, thịt trâu chỉ chiếm từ 5 - 9% tổng nhu cầu sử dụng của một quốc gia. Mặt khác, để đáp ứng mục tiêu sản lượng thì giống trâu nuôi lấy thịt ngày càng được cải thiện về tầm vóc.
Mặc dù tổng đàn trâu giảm nhưng giá trị sản lượng thịt trâu vẫn tăng đều hàng năm. Năm 2008 sản lượng thịt trâu là 1.679 tấn đến năm 2013 sản lượng thịt trâu là 3. Có được kết quả này là do tỉnh Thái Nguyên đã có nhiều chính sách hỗ trợ khuyến khích về giống, xây dựng đồng cỏ, hỗ trợ hạn chế chăn nuôi thả rông, xử lý môi trường… việc bình chọn, phân loại, cải tạo nâng cao tầm vóc, thể trạng đàn trâu đã được tỉnh thực hiện đạt kết quả tốt trong nhiều năm qua. Đây cũng là định hướng phát triển chăn nuôi của tỉnh Thái Nguyên giai đoạn 2013-2020 đã xác định phát triển chăn nuôi theo hướng công nghiệp, trang trại, sản xuất hàng hóa gắn với xây dựng nông thôn mới.
Việc quy hoạch sẽ được tính toán lâu dài, ổn định đất đai để phục vụ chăn nuôi đến tận huyện, xã; chuyển đổi diện tích đất canh tác kém hiệu quả nhất là tại các vùng trung du, gò, đồi sang phát triển chăn nuôi trang trại. n 8 Mục tiêu cụ thể của đề án chăn nuôi xác định tổng đàn trâu của Thái Nguyên sẽ là 70. Như vậy, tổng đàn gần như không thay đổi so với hiện nay. Ông Hoàng Văn Dũng, PGĐ Sở NN-PTNT tỉnh Thái Nguyên khẳng định, tổng đàn có thể không tăng, thậm chí còn giảm song cốt lõi là hiệu quả sản xuất, giá trị sản lượng, tỷ lệ cơ cấu trong nội ngành phải tăng.
Theo đó, tỉnh Thái Nguyên sẽ tiếp tục việc bình tuyển, nâng cao tầm vóc của đàn trâu, lai cải tạo đàn giống tốt của địa phương với những giống cao sản, chất lượng tốt như trâu Murrahi. Song song với chương trình đó là các giải pháp về thú y, môi trường, quản lý Nhà nước cũng như giải pháp về thị trường, tiêu thụ sản phẩm. Phương thức chăn nuôi trâu Chăn nuôi trâu hiện nay vẫn theo phương thức truyền thống, quảng canh, tận dụng nuôi trâu để lấy sức kéo và phân bón. Chăn nuôi trâu của nước ta chủ yếu theo các quy mô sau: Chăn nuôi nông hộ, phân tán các vùng đồng bằng chiếm 90%.
Sử dụng thức ăn tận dụng (cỏ tự nhiên trên bờ đê, bờ ruộng, rơm rạ và một số vùng có sử dụng thức ăn ủ xanh, ủ urê.) và lao động phụ trong gia đình. Trâu chủ yếu được chăn thả trên đồng bãi hàng ngày dưới sự chăn dắt trực tiếp của chủ trâu, khi về nhà trâu được ăn rơm là chủ yếu. Trước đây ngoài rơm và cỏ, nông dân không cho trâu ăn thức ăn nào khác, gần đây họ đã bổ sung thêm các loại thức ăn như cám, bột sắn, bột ngô và điều này đã làm tăng năng suất, hiệu quả kinh tế. Như vậy có thể thấy người nông dân bước đầu đã có ý thức đầu tư cho trâu, song hiệu quả chưa cao vì vậy đàn trâu tăng chậm, nguyên nhân chính là do tập quán chăn nuôi và năng suất sinh sản của đàn trâu còn thấp.
Tình hình thị trường và nhu cầu tiêu thụ thịt trâu Thịt trâu hay còn gọi là thịt đỏ ngày càng được người tiêu dùng ưa chuộng, đánh giá đúng vị trí của nó trên thị trường vì thịt trâu nhiều nạc, ít mỡ và ít cholesterol. Hơn nữa, chất lượng thịt trâu không thua kém thịt bò, tỷ lệ thịt xẻ đạt n 9 43-45%, tỷ lệ nước, thành phần hóa học và các vitamin không thua kém thịt bò vì vậy thịt trâu đã có chỗ đứng trên thị trường. Đời sống của người dân ngày càng cao và nhu cầu về thịt đỏ trên thị trường ngày càng lớn. Tuy nhiên, thịt trâu trên thị trường hiện nay chiếm tỷ lệ rất thấp (2,4-3%) trong tổng số thịt tiêu thụ hàng ngày.